ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
****************
NGUYỄN MINH THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN HUYỆN THÁI THỤY,
TỈNH THÁI BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
ỨNG PHÓ ĐỂ PHÁT TRIỂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Văn Thụy Hà Nội - 2013
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ Khoa học môi trường
của học viên được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và tích lũy
kiến thức tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng với
sự hướng dẫn, dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo khoa Môi trường và sự tham
khảo ý kiến của các bạn đồng học.
Đầu tiên, học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Trần
Văn Thụy, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn khoa học để học viên có thể hoàn
thành luận văn này.
Qua đây, học viên cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo thuộc Khoa
Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, những người đã cung cấp những
kiến thức bổ ích trong suốt quá trình đào tạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học
viên hoàn thành khóa đào tạo.
Trong đợt khảo sát thực địa tháng 6 năm 2012, học viên đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của các cán bộ Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Nhân dịp này, học viên xin bày tỏ lòng biết ơn
đối với sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng, học viên cũng cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp những
người đã ủng hộ học viên suốt quá trình học và hoàn thành luận văn.
Học viên xin chân thành cảm ơn!
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 26
3.1.2. Đánh giá đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 33
3.1.3. Đánh giá đặc điểm xã hội, dân cư huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 35
3.1.4 Hiện trạng ngành thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 36
3.2. Tác động của BĐKH đến huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 39
3.2.1. Một số biểu hiện của BĐKH đến huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 39
3.2.2. Kịch bản BĐKH 47
3.2.3. Tác động của BĐKH đến huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 50
3.3. Đánh giá khả năng ứng phó trước những ảnh hưởng của BĐKH 54
iii
3.3.1. Đánh giá khả năng ứng phó dựa vào đặc điểm tự nhiên 54
3.3.1.1. Hệ sinh thái RNM 54
3.3.1.2. Địa hình, thành tạo địa chất 55
3.3.2. Đánh giá khả năng ứng phó dựa vào đặc điểm xã hội 57
3.3.2.1. Con người 57
3.3.2.2. Cơ sở hạ tầng 58
3.3.3. Đánh giá tính dễ tổn thương do BĐKH ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
59
3.4. Định hướng phát triển cho việc NTTS huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 60
3.5. Đề xuất một số giải pháp hỗ trợ cho việc NTTS bền vững thích ứng BĐKH
65
3.5.1. Điều chỉnh và quy hoạch sử dụng đất phù hợp với từng đối tượng nuôi
trồng 65
3.5.2. Chuyển đổi mô hình NTTS 65
3.5.3. Các giải pháp về kỹ thuật 66
3.5.4. Các giải pháp chính sách 67
KẾT LUẬN 69
Hình 3.5. Xu thế lượng mưa trung bình năm tại Thái Thụy, Thái Bình qua các năm 42
Hình 3.6. Xu thế lượng mưa trung bình tháng tại Thái Thụy, Thái Bình qua các năm 43
Hình 3.7. Đường đi của bão số 8 (Sơn Tinh) năm 2011 45
Hình 3.8. Đường đi của bão số 2 năm 2013 45
Hình 3.9. Diễn biến xâm nhập mặn bình quân tại cửa sông Thái Bình, Trà Lý (‰) ứng
với 3 thời kỳ triều 46
Hình 3.10. Hệ thống RNM huyện Thái Thụy 55
Hình 3.11. Nhận thức của người dân về BĐKH 57
Hình 3.12. Sự quan tâm của người dân về những biểu hiện và tác động của BĐKH 57
Hình 3.13. Mức độ tin tưởng của người dân về cơ sở hạ tầng 58
Hình 3.14. Hệ thống đê ở huyện Thái Thụy 58
v
Hình 3.15. Bản đồ phân vùng mức độ ảnh hưởng đến NTTS huyện Thái Thụy (ở thời
điểm hiện tại) 62
Hình 3.16. Bản đồ phân vùng mức độ ảnh hưởng đến NTTS huyện Thái Thụy (theo
kịch bản nước biển dâng 80cm) 63
Hình 3.17. Bản đồ định hướng NTTS huyện Thái Thụy (theo kịch bản nước biển dâng
80cm) 64
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các vùng
khí hậu của Việt Nam 13
Bảng 3.1. So sánh một số chỉ tiêu kinh tể của huyện Thái Thụy với tỉnh Thái Bình năm
2005 33
Bảng 3.2. Diện tích, dân số và mật độ dân số huyện Thái Thụy năm 2010 36
Bảng 3.3. Dân số phân theo giới tính và thành thị - nông thôn huyện Thái Thụy năm
trường; chịu ảnh hưởng trực tiếp, hàng năm của nhiều dạng thiên tai như bão, lụt.
Huyện Thái Thụy – một huyện ven biển tỉnh Thái Bình có chế độ khí hậu và các yếu tố
tự nhiên khác thường mang tính đan xen giữa biển và lục địa, độ phì nhiêu của đất đai
thường thấp, trên phần lớn diện tích chế độ thủy văn (nước mặt) thường bị mặn hoá
theo mùa. Khả năng phát triển trồng cây lương thực và các hoa màu khác thường kém
và cho năng suất rất thấp, một số diện tích được sử dụng làm muối chưa đem lại hiệu
quả kinh tế cao. Chính vì vậy, với lợi thế vị trí ven biển của mình, huyện đã và đang
tiến hành nhiều hình thức chuyển đổi (cấy lúa ruộng trũng, làm muối, ) sang nuôi
trồng thuỷ sản (nước mặn, nước lợ, nước ngọt) với hiệu quả cao hơn, đóng góp vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, vùng ven biển Việt Nam nói chung và huyện Thái Thụy nói riêng là
một trong những nơi chịu tác động mạnh mẽ của BĐKH (BĐKH). Theo kết quả
nghiên cứu “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam” do Bộ Tài nguyên và
Môi trường công bố năm 2011 cho thấy: trong khoảng 50 năm qua nhiệt độ năm trung
bình cả nước tăng 0,5
o
C và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía bắc và tăng ở phía
nam. Từ năm 1993 đến 2010 xu hướng mực nước biển tăng trên toàn dải ven biển Việt
Nam trung bình 2,9mm/năm. Nếu mực nước biển dâng 0,5m, trên 4% diện tích đồng
bằng sông Hồng có nguy cơ bị ngập lụt và khoảng 3,4% số dân của khu vực này có
nguy cơ bị ảnh hưởng trực tiếp. Do đó, huyện ven biển Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
được nhận định là vùng dễ bị tổn thương do BĐKH và dâng cao mực nước biển.
Hơn nữa, các công trình nghiên cứu về tác động của BĐKH tới hệ thống tài
nguyên - môi trường cũng như các đối tượng bị tổn thương, đặc biệt là ngành NTTS
(NTTS) và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên, xã hội ở huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình chưa toàn diện và chi tiết. Do đó, đề tài luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng
của BĐKH đến NTTS huyện Thái Thụy - tỉnh Thái Bình và đề xuất các giải pháp
ứng phó để phát triển” được lựa chọn nghiên cứu.
2
1.1.1.1. Khái niệm về BĐKH
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về BĐKH
Theo báo cáo lần thứ 4 của tổ chức Liên chính phủ về BĐKH – IPCC đã định
nghĩa như sau: “BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, được nhận
biết qua sự biến đổi về trung bình và/hoặc sự biến động của các thuộc tính của nó; duy
trì trong một thời kỳ dài, điển hình là hàng ngàn thập kỷ hoặc dài hơn”
"BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển,
sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và
nhân tạo".
Theo công ước chung của LHQ BĐKH: “BĐKH là những biến đổi trong môi
trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần,
khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc
đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con
người”.
1.1.1.2. Nguyên nhân của BĐKH
Nguyên nhân tự nhiên:
- Do sự tương tác và vận động giữa Trái đất và vũ trụ.
- Những yếu tố không phải là khí hậu nhưng ảnh hưởng đến khí hậu: tác động
của CO
2
, bức xạ mặt trời, động đất và núi lửa…
Nguyên nhân nhân tạo:
- Do con người sử dụng những nhiêu liệu hóa thạch, sử dụng các loại hóa chất
trong trồng trọt, chăn nuôi, sinh hoạt…
- Con người khai thác tài nguyên và đang dần làm chúng cạn kiệt như: tài
nguyên nước, rừng, khoáng sản…
4
- Nguyên nhân chính làm biển đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt
và nghiêm trọng nhất về phát triển con người do BĐKH gây ra (Hardy, 2003; Crutzen,
2005; Nguyễn Đức Ngữ, 2008). Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven
biển đang đứng trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu
quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc và Nam Cực. Trong số 33 thành phố có quy mô
dân số 8 triệu người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển
nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và
đất trũng sẽ bị mất nhà cửa và ngập lụt.
5
Nước biển dâng sẽ gây ra nguy cơ thu hẹp về lãnh thổ theo thứ tự là Trung
Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan
và Philippine. Nước biển dâng lên còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu
hơn trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông
nghiệp và tài nguyên nước ngọt.
Tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Theo
dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm
nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng
suất trong sản xuất nông nghiệp giảm (Fischer at al., 2002; Hội Bảo vệ Thiên nhiên và
Môi trường Việt Nam, 2009, WB, 2010). Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm
chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các loài động, thực vật trong các hệ
sinh thái nước ngọt, làm gia tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè (IPCC 1998). Trong
thời gian 20-25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện. Tỷ lệ bệnh
nhân, tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ có thêm khoảng
400 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh sốt rét (Al Gore, 2006; UNDP, 2006,
2007; Trương Quang Học và Trần Hồng Thái, 2008). Số lượng và tổn thất do thiên tai
gây ra tăng liên tục trong những thập kỷ vừa qua. Riêng cơn bão Mitch (1999) đã làm
chết 11.000 người ở Trung Mỹ; cơn bão Katrina (2005) đã làm chết hơn 1.800 người ở
hai bang ven biển phía Nam của Hoa Kỳ và gây tổn thất lên tới 300 tỷ USD.
Theo Nicolas Stern (2007) – nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng
và các bằng chứng về mức độ hấp thụ tia hồng ngoại của
CO
2
và một số khí nhà kính khác.
Đến năm 1975, khái niệm “nóng lên toàn cầu” lần đầu tiên được công chúng
biết tới khi nhà khoa học Mỹ, Wallace Broecker sử dụng thuật ngữ này làm tiêu đề cho
một bài báo khoa học của mình. Năm 1987, Nghị định thư Montreal được thỏa thuận,
quy định giới hạn của các hóa chất gây hại đến tầng ozone. Mặc dù không đề cập tới
vấn đề BĐKH, song nghị định thư Montreal vẫn có tầm ảnh hưởng lớn hơn nghị định
thư Kyoto về cắt giảm khí nhà kính.
Đại hội đồng Liên hợp Quốc lần đầu tiên đặt sự quan tâm vào vấn đề BĐKH do
con người gây ra vào năm 1988 khi có các bằng chứng khoa học về một mùa hè nóng
bất thường ở Hoa Kỳ cũng như nhận thấy sự gia tăng nhận thức của con người về các
vấn đề môi trường toàn cầu và kỳ vọng về sự tham gia của cộng đồng quốc tế trong
việc giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu, đặc biệt là sau các vòng đàm phán
thành công về Nghị định thư Montreal (năm 1987) về các chất làm suy giảm tầng
ôzôn. Cũng trong năm 1988, WMO và UNEP cùng thành lập Ủy ban liên chính phủ về
BĐKH gọi tắt là IPCC với nhiệm vụ đánh giá các thông tin khoa học về BĐKH, bao
gồm các tác động tiềm tàng của BĐKH đối với con người, cũng như các biện pháp
giảm thiểu và thích ứng với BĐKH.
Năm 1990, IPCC đã công bố báo cáo đánh giá đầu tiên về thực trạng BĐKH toàn
cầu. Cũng trong năm 1990, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức phát động các cuộc
7
đàm phán về Công ước khung về BĐKH. Việc quyết định phải giải quyết vấn đề BĐKH
thông qua một hiệp ước toàn cầu dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc đã phản ánh quan
điểm cho rằng vấn đề BĐKH toàn cầu - do tất cả các quốc gia trên thế giới cùng gây ra
và cùng chịu ảnh hưởng - đòi hỏi phải có hành động trên qui mô toàn cầu.
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro
năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ
hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng đất. Với những biểu hiện của
sự tăng nhiệt độ không khí và đại dương, sự tan băng diện rộng và qua đó là mức tăng
mực nước biển trung bình toàn cầu.
8
Về nhiệt độ: Trong thế kỷ 20, trên khắp các châu lục và đại dương nhiệt độ có
xu thế tăng lên rõ rệt, độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ trung bình toàn cầu là 0,24
0
C tốc
độ tăng của nhiệt độ cả thế kỷ là 0,75
0
C nhanh hơn bất kỳ thế kỷ nào trong lịch sử, kể
từ thế kỷ 11 đến nay. Tuy nhiên, trong 5 thập kỷ gần đây 1956 -2005, nhiệt độ tăng
0,640C±0,130C, gấp đôi thế kỷ 20. Rõ ràng là xu thế biến đổi nhiệt độ ngày càng
nhanh hơn trong những năm gần đây.
Hình 1.1. Chuẩn sai nhiệt độ bề mặt trung bình thời kì 1880 – 2000
Nguồn :
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các
vĩ độ cực Bắc. Trong 100 năm qua (1906 – 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng
khoảng 0,74
O
C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50
năm trước đó [4].Hình 1.2. Diễn biến nhiệt độ ở quy mô toàn cầu và khu vực
(Nguồn: IPPC AR4 WG-I Report, 2007)
10
Mỹ, mưa lại tăng lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm
đi ở Chile và vùng bờ biển phía Tây. Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt
là ở Sahentrong thời đoạn 1960 – 1980. Ở khu vực nhiệt đới, mưa giảm đi ở Nam Á và
Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901–2005. Trên phạm vi toàn cầu
lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30
O
B thời kỳ 1901–2005 và giảm đi ở các
vĩ độ nhiệt đới, kể từ giữa những năm 1970. Ở khu vực nhiệt đới, mưa giảm đi ở Nam
Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901–2005. Ở đới vĩ độ trung
bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở miền Trung, Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ,
Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á. Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những
nơi lượng mưa có xu thế giảm đi (IPCC, 2007). Trong thế kỷ 20 cùng với sự tăng lên
của nhiệt độ mặt đất có sự suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu. Từ năm
1978 đến nay, lượng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dương giảm khoảng 2,1–
3,3% mỗi thập kỷ [4].
Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung
bình toàn cầu trong thời kỳ 1961 - 2003 đã dâng với tốc độ 1,8 0,5 mm/năm, trong
đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 0,12 mm/năm và tan băng khoảng 0,70
0,50 (IPCC, 2007). Nghiên cứu cập nhật năm 2009 cho rằng tốc độ mực nước biển
trung bình toàn cầu dâng khoảng 1,8 mm/năm (Chuch và White, 2009). Mực nước biển
thay đổi không đồng đều trên toàn bộ đại dương thế giới: một số vùng tốc độ dâng có
thể gấp một vài lần tốc độ dâng trung bình toàn cầu trong khi mực nước biển ở một số
vùng khác lại có thể hạ thấp. Xu thế tăng của mực nước trung bình xuất hiện hầu hết
tại các trạm quan trắc trên toàn cầu, mặc dù, vẫn xuất hiện một số khu vực có xu
hướng giảm như ở bờ biển phía Đông của Nam Mỹ và khu vực ven biển phía Nam
Alaska và Đông Bắc Canada, vùng biển Scandinavia. Theo một số báo cáo của các nhà
khoa học, trong thập kỷ vừa qua, mực nước biển dâng nhanh nhất ở vùng phía Tây
Thái Bình Dương và phía Đông Ấn Độ Dương.
văn môi trường, 2007);
- Kịch bản BĐKH xây dựng bằng phương pháp tổ hợp (phần mềm
MAGICC/SCEN GEN 5.3) và phương pháp chi tiết hóa thống kê (Viện Khoa học Khí
tượng thủy văn môi trường, 2008);
- Kịch bản BĐKH cho khu vực Việt Nam được xây dựng bằng phương pháp
động lực (Viện Viện Khoa học Khí tượng thủy văn môi trường, SEA START, Trung tâm
Hadley, 2008).
12- Số liệu quan trắc mực nước biển tại các trạm của Việt Nam;
- Các nghiên cứu của Việt Nam về nước biển dâng: Thủy triều biển Đông và sự
dâng lên của mực nước ven bờ Việt Nam; Đánh giá sự huỷ hoại do mực nước biển
dâng; của Trung tâm Hải văn (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam - Bộ TN&MT).
Theo kịch bản BĐKH và nước biển dâng do Bộ TN và MT công bố năm 2011
cho thấy: Ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa là rất khác nhau trên
các vùng trong 50 năm qua. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5
o
C trên phạm vi cả
nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở nửa phần phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ.
Về nhiệt độ: Theo kịch bản phát thải trung bình, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ
trung bình tăng 2 - 3
o
C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực Đông Bắc, Bắc
Trung Bộ và Tây Nguyên có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi
khác. Nhiệt độ cao nhất tăng nhanh hơn so với nhiệt độ thấp nhất ở Tây Bắc Bộ, Đông
Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, các khu vực khác có
xu thế ngược lại. Nhiệt độ cao nhất có thể cao hơn so với kỷ lục hiện nay từ 4 - 5
o
13
Về lượng mưa: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ.
Mức tăng phổ biến từ 5 - 10%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng dưới 5%. Xu
thế chung là lượng mưa mùa khô giảm (có nơi đến 30%) và lượng mưa mùa mưa tăng
(có nơi từ 20 đến 30%). Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời kỳ 1980 -
1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ. Tuy
nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa
gấp đôi so với kỷ lục hiện nay.
Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng
kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong
50 năm qua. Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần
diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam
trong 50 năm qua. Xu thế diễn biến của lượng mưa năm hoàn toàn tương tự như lượng
mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía
Bắc. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm
tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua.
Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong
những năm gần đây. Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến
động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung. Tồn tại mối tương quan khá rõ giữa sự nóng
lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông xích đạo Thái Bình dương với xu
thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía Nam [4].
Bảng 1.1. Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở
các vùng khí hậu của Việt Nam
(Nguồn: IMHEN/2010)
Vùng khí hậu
Nhiệt độ (
O
C) Lượng mưa (%)
Khu vực đổ bộ của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vào Việt Nam có xu hướng
lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta; số lượng các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia
tăng; mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, mức
độ ảnh hưởng của bão đến nước ta có xu hướng mạnh lên.
Hình 1.7. Bản đồ tần suất XTNĐ hoạt động (a); hình thành ở biển Đông (b)
và ảnh hưởng đến đất liền Việt Nam (c)
(Nguồn: IMHEN/2010)
Về nước biển dâng: Hình 1.8. Diễn biến mực nước biển theo số liệu các trạm thực đo
(Nguồn:IMHEN/2010)
15
trình nghiên cứu về BĐKH đã đạt được những thành tựu nhất định, đánh giá, dự báo được
16
xu thế BĐKH, nguyên nhân và những tác động của BĐKH đến nhân loại. Những công
trình tiêu biểu nhất là nhóm 4 báo cáo chính thức của IPCC từ những năm 1990 đến năm
2007. Các báo cáo này đã đưa ra những đánh giá khá toàn diện về thực trạng BĐKH trên
thế giới và các nguyên tắc, phương pháp đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực cơ
bản trong đời sống kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó là những nghiên cứu tác động của BĐKH đến nhóm các đối tượng
dễ bị tổn thương do BĐKH như: môi trường biển ven bờ [47, 54, 56], các hệ sinh thái
đặc hữu, suy giảm trữ lượng và chất lượng nguồn nước… hay đến các lĩnh vực chịu
nhiều tác động của BĐKH như: nông nghiệp [49], khai thác và nuôi trồng thủy hải sản
[50, 51, 52, 53], du lịch,… và các vấn đề môi trường xã hội như: di dân, sức khỏe cộng
đồng, xung đột tài nguyên,… Ngoài ra, cũng có rất nhiều nghiên cứu điển hình về
BĐKH và những tác động cho những khu vực, quốc gia trên thế giới. Qua đó, lồng
ghép các giải pháp để thích ứng và giảm thiểu tai biến do BĐKH.
Tuy nhiên, qua đó cũng nhận thấy rằng phạm vi tác động của BĐKH là rất lớn cả
về mặt không gian và thời gian; đối tượng chịu tác động hết sức đa dạng; hình thức và cơ
chế tác động cũng phong phú. Trong khi đó, chưa có nhiều các công trình nghiên cứu
chuyên sâu về đánh giá khả năng tác động của BĐKH cho khu vực Đông Dương (Việt
Nam, Lào, Campuchia) cũng như những khu vực lân cận chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH
như Thái Lan, Băngladesh… Chính vì vậy, việc nghiên cứu, dự báo và đánh giá tác động
của BĐKH đến một khu vực cụ thể nào đó là hết sức cần thiết để có thể đề ra giải pháp
thích hợp nhất trong quá trình ứng phó.
1.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến việc NTTS ở nước ta
1.2.1. Tình hình NTTS ở nước ta
Việt nam có bờ biển dài 3260 km, diện tích vùng đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu
km
2
, đây là các điều kiện tiềm năng để phát triển khai thác hải sản. Nuôi trồng thuỷ sản