ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
MÔN HỌC: SINH THÁI ĐÔ THỊ & KCN
TIỂU LUẬN:
Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái đô thị
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thị Thu Hà
Sinh viên thực hiện: Viết Thị Hà Xuyên
Page 1 of 26
Mục lục
MỞ ĐẦU
Trong quá trình tiến hóa và phát triển con người luôn phải dựa vào các yếu tố sẵn có
trong tự nhiên. Con người với tư cách là vật thể sống- một yếu tố của sinh quyển đã tác
động trực tiếp vào môi trường. Khi đó, các hệ sinh thái tự nhiên hoặc dần chuyển thành
hệ sinh thái nhân tạo hoặc bị tác động của con người đến mức mất cân bằng và suy thoái.
Như một hậu quả của tác động nhân sinh, hiện nay biến đổi khí hậu đang là một vấn đề
toàn cầu gây tác động không nhỏ tới các hệ sinh thái trên trái đất. Trong các hệ sinh thái
dễ bị tổn thương thì hệ sinh thái đô thị đang đứng trước nguy cơ đó.
Theo Báo cáo của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) tháng 10/2006 cho
biết, hiện tượng băng tan ở Greenland đạt tốc độ 65,6 kilômét khối, vượt xa mức tái tạo
băng 22,6 kilômét khối một năm từ tuyết rơi. Trung tâm Hadley của Anh chuyên nghiên
cứu và dự đoán thời tiết cũng dự đoán: 1/3 hành tinh sẽ chịu ảnh hưởng của hạn hán nếu
việc thay đổi khí hậu không được kiểm soát. Những kết quả nghiên cứu được công bố
vào tháng 9/2006 cho thấy, nhiệt độ thế giới đã tăng lên với tốc độ chưa từng có trong
vòng ít nhất 12.000 năm qua. Các nhà khoa học cho rằng: thế kỷ vừa qua, nhiệt độ trung
bình của Trái đất đã tăng thêm 1oC do việc tích lũy các chất cácbon điôxít (CO2), mêtan
(CH4) và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác trong không khí (như N2O, HFCs,
PFCs, SF6) - sản phẩm sinh ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy,
Page 2 of 26
phương tiện giao thông và các nguồn khác.Những hiện tượng trên đều do biến đổi khí
hậu gây nên.
Vậy biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng như thế nào đến hệ sinh thái đô thị và có những mô
2
cũng sinh ra từ các
hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
- CH
4
sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống
khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
- N
2
O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản
phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
- SF
6
sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
Page 4 of 26
Hình 1:Thải lượng khí nhà kính hằng năm theo ngành
(Nguồn: Robert A. Rohde/Global Warming Art,2000)
1.3 Sự quan tâm đến biến đổi khí hậu của cộng đồng quốc tế
• 1979: Hội thảo Toàn cầu về Biến đổi Khí hậu nhận định biến đổi khí hậu là một
vấn đề nghiêm trọng và kêu gọi các chính phủ quan tâm;
• 1980-1990: Các hội thảo liên chính phủ về biến đổi khí hậu được tổ chức;
• 1988: Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) được thành lập bởi
Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) và Tổ chức Khí tượng Thế giới
(WMO);
• 1990: IPCC cho ra đời báo cáo đánh giá biến đổi khí hậu đầu tiên, khẳng định
rằng biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra;
• Tháng 12 năm 1990: Công ước Khung về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) ra đời và
được đưa vào thảo luận trong Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janero 1992;
thực hiện các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Page 6 of 26
II. Hệ sinh thái đô thị
Khác với các hệ sinh thái tự nhiên khác, hệ sinh thái đô thị ngoài hai thành phần
cơ bản là hữu sinh và vô sinh, nó còn có thành phần thứ ba đó là thành phần công nghệ.
Nó bao gồm các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất
Hệ sinh thái đô thị là hệ sinh thái nhân văn do con người tạo nên, được sử dụng
như một điểm dân cư tập chung và thường theo yêu cầu của sự phát triển công nghiệp. Ở
đô thị, con người quan hệ mật thiết với nhau hơn so với các yếu tố tự nhiên. Tuy nhiên,
dưới sự phát triển và tác động của con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên nhiên
đang dần bị mất đi. Khí hậu thay đổi, thời tiết bất thường cộng với nhiều nguồn ô nhiễm
(nguồn nước, rác thải, khói bụi, tiếng ồn…) gây ra cho con người những bất lợi về sức
khỏe đặc biệt là về yếu tố tinh thần.
Ngoài ra, theo quan điểm Holistie, hệ sinh thái đô thị được coi là mội môi trường
tự nhiên và hoàn cảnh văn hóa, xã hội mà con người đã xây dựng nên cho bản thân trong
đô thị. Với cách nhìn như vậy, đô thị là biểu hiện cao nhất của tình hình phát triển kinh tế
và xã hội của loài người, và xét tiêu chuẩn nào thì cũng là một thực thể vô cùng phức tạp.
Từ đó, “hệ sinh thái đô thị được đặc trưng bằng hai loại cơ chế khống chế: tự nhiên và xã
hội. Trong đó, cơ chế xã hội dần chiếm ưu thế. Các giới hạn của hệ sinh thái đô thị sẽ xác
định rõ ràng phạm vi vận động của con người trong hệ sinh thái đô thị”.
Các đặc trưng của hệ sinh thái đô thị
- Được tạo ra từ nhu cầu phát triển của con người. Mật độ dân cư cao.
- Hoạt động kinh tế - xã hội thường xuyên, liên tục, chủ yếu là công – thương
nghiệp.
- Giao thông và xây dựng.
- Các hợp phần tự nhiên bị biến đổi và thay thế bằng các hợp phần nhân tạo.
Page 7 of 26
B. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
Trong quá trình làm tiểu luận em đã thu thập, chọn lọc những tài liệu phù hợp với nội
tảng băng)
Giai đoạn1993 và 2003, đóng góp của giãn nở nhiệt là1,60 mm/năm và băng
tan1,19 mm/năm tương ứng (IPCC 2007)
Đại đa số các băng của trái đất đều tập trung ở Nam Cực và Greenland. Nếu những
tảng băng tan chảy hoàn toàn, mực nước biển sẽ tăng hơn 70 mét.
Ước tính hiện tại cho thấy băng Nam Cực chỉ đại diện cho khoảng 10% sự đóng góp
mực nước biển dâng. Dải băng Greenland đang đóng góp khoảng 30%.
Ngược lại với các vùng cực, mạng lưới sông băng vĩ độ thấp nhỏ và chỏm băng, dù
chỉ có khoảng 4% diện tích băng Tổng diện tích khoảng 760.000 km
2
có thể đóng góp
60% vào việc thay đổi mực nước biển từ những năm 1990 (Meier et al, 2007)
Hình 2: Phần trăm các nguồn nước đóng góp vào đại dương
Nguồn:
Theo ước tính, từ năm 1900, mực nước biển đã tăng lên khoảng 20cm mỗi thế kỷ, nếu
băng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100. Với mức
này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn
biến mất.
Page 9 of 26
Hình 3: Biểu đồ sự thay đổi mực nước biển 1880-2000
[Bruce C. Douglas (1997).Geophysics 18: 279-292]
1.3 Gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan
Những khối băng ở hai cực đồng thời là chiếc máy điều hòa nhiệt độ tự nhiên khổng lồ
và là trung tâm cao áp quyết định hoàn lưu khí quyển, chi phối khí hậu cấp hành tinh.
Cùng với nhiệt độ tăng và băng tan thì khí áp ở cực sẽ giảm, cường độ gió giảm… dẫn
đến sự biến đổi khí hậu ở 2 cực kéo theo biến đổi khí hậu của Trái Đất. Song song với
quá trình trên thì dải hạ áp xích đạo sẽ hoạt động mạnh, quy mô lớn nên đới khí hậu xích
đạo và cận xích đạo mưa nhiều và thất thường hơn. Dải cao áp chí tuyến cũng mạnh hơn
(do sự tác động của hạ áp xích đạo) cho nên khí hậu nhiệt đới lục địa và nhiệt đới hải
dương bờ tây sẽ khô khan, khắc nghiệt, cực đoan. Trái lại, khí hậu nhiệt đới hải dương bờ
nhất chưa từng có, bao gồm cả nhiệt độ trên đất liền và trên biển toàn cầu kể từ năm
1980. Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao
gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.
1.4 Suy giảm đa dạng sinh học
Biến đổi khí hậu buộc các sinh vật phải thay đổi để thích nghi với môi trường sống
bằng cách thay đổi chu kỳ sinh trưởng hoặc phát triển đặc điểm thích nghi mới trên cơ
thể. Những loài không có khả năng thích nghi với những biến đổi khí hậu có nguy cơ bị
tuyệt chủng.
Ước tính khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào
năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4
o
C nữa.
1.5 Biến đổi khí hậu tại Việt Nam
1.5.1 Hiện trạng
Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu tác động mạnh mẽ nhất của Biến đổi
Khí hậu
Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ TBN ở Việt Nam tăng 0,7
o
C. Nhiệt
độ TBN của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn TBN của 3 thập kỷ trước đó (1931-
1960)
Mực nước biển: trong khoảng 50 năm qua mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng
20 cm,
Số đợt không khí lạnh (KKL) ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ
gần đây (cuối XX đầu XXI).
Bão, vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch
chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ
đạo di chuyển dị thường hơn.
Nguồn: Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Biến đổi Khí hậu
1.5.2 Xu thế
Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 3-6% ở các vùng khí hậu phía
Bắc và lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 7-10%
so với thời kỳ 1980-1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 6 đến
Page 13 of 26
10% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ
chỉ tăng khoảng 1% so với thời kỳ 1980-1999.
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể
tăng khoảng 7 - 8% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 2 -
3% ở N am Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999.
Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 4-7% ở Tây Bắc, Đông Bắc và
Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở các
vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10-15% so với thời kỳ 1980-1999. Lượng mưa
các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10 đến 15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc
và N am Trung Bộ, còn ở Tây N guyên và N am Bộ chỉ tăng trên dưới 1% .
- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng so
với trung bình thời kỳ 1980 - 1999, khoảng 9 - 10% ở Tây Bắc, Đông Bắc, 10% ở Đồng
bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, 4 - 5% ở Nam Trung Bộ và khoảng 2% ở Tây Nguyên, Nam
Bộ (Bảng 6). Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 6-9% ở Tây Bắc,
Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 13% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa
khô ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ có thể giảm tới 13-22% so với thời kỳ
1980-1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 12 đến 19% ở cả bốn
vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ vào khoảng
1-2%.
Hạn hán: Tại những vùng thường xảy ra hạn hán vào mùa khô, hạn hán có nhiều khả
năng tăng lên cả về cường độ và diện tích.
Về mực nước biển: Kết quả tính toán theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao
cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm 28 đến 33cm và đến cuối
thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm từ 65 đến 100cm so với thời kỳ 1980 – 1999.
II. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái đô thị
2.1 Mất nơi ở do mực nước biển dâng cao và hiện tượng sa mạc hóa
Ví dụ: như sa mạc Gobi mở rộng là 15km/ năm
Hình 5: Sự phân bố chồng chéo 4 loại đất khô ở các đô thị trên thế giới
(Nguồn: Millenium ecosystem assessment)
2. 2 Ngập lụt ngày càng nghiêm trọng hơn
Các khu vực đô thị luôn hiện diện một số rủi ro lũ lụt khi mưa lớn xảy ra.
Nhà cửa, đường phố, cơ sở hạ tầng và những khu vực bê tông hóa khác trong đô thị ngăn
chặn nước mưa thấm xuống mặt đất à tạo ra nước chảy tràn nhiều hơn. Mưa lớn và kéo
dài lâu ngày tạo ra một lượng rất lớn nước chảy tràn bề mặt à dễ dàng làm ngập hệ
thống thoát nước.
Lũ lụt đã và đang tác động lớn đến các thành phố và các đô thị nhỏ ở nhiều quốc gia
Châu Phi: Trận lụt ở Mozambique vào năm 2000 bao gồm lũ lớn ở Maputo và ở Algiers
vào năm 2001 (900 người chết và 45.000 người bị ảnh hưởng). Mưa lớn ở Đông Phi vào
năm 2002 đã gây ra lũ lụt và lở đất khiến cho 10.000 người phải rời bỏ nhà cửa ở
Page 16 of 26
Rwanda, Kenya, Burundi, Tanzania và Uganda. Hàng loạt chũng trận lụt ở Port Harcourt
và Addis Ababa năm 2006 (UN-Habitat 2007, Douglas et al., 2008).
Ở Việt Nam trong tổng số 754 đô thị, khoảng 405 đô thị lớn nhỏ sẽ bị ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến mực nước biển dâng” – TS.KTS Đỗ Tú Lan, Phó Cục
trưởng Cục Phát triển Đô thị thuộc Bộ Xây dựng Việt Nam.
Hơn 70 vị trí ngập xuất hiện ở TP Hồ Chí Minh sau những cơn mưa từ 40mm trở lên
ngay cả khi thủy triều đang ở mức thấp cho thấy dòng chảy tràn đô thị do mưa lớn vượt
quá khả năng thoát nước đang là tác nhân gây ngập chủ yếu hiện nay.
2. 3 Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị
Là hiện tượng nhiệt độ không khí và bề mặt ở khu vực đô thị nóng hơn khu vực nông
thôn( 1
0
C-6
O
C), do chu kỳ ngày đêm của sự hấp thụ và tái bức xạ sau đó của năng lượng
mặt trời (bức xạ< hấp thụ) và sự sinh nhiệt từ các tòa nhà, kết cất bê tông.
thể nước, mảng xanh, tăng môi trường xây dựng khiến cho Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
ngày càng chịu ảnh hưởng từ “hiệu ứng đảo nhiệt đô thị”. Nhiệt độ ở các khu vực này cao
hơn từ 8 đến 10 độ C nhiệt độ trung bình so với các khu vực xunh quanh. Vươn cao thiếu
phối hợp của các tòa nhà tầng trong trung tâm đô thị gây bất lợi cho hành lang thông gió
và làm nghiêm trọng hơn các vấn đề đảo nhiệt đô thị.
à Cần một hệ thống ở cấp độ thành phố được tổ chức nhằm thông gió và phát triển các
khu vực tạo gió mát.
2. 4 Mưa acid phá hủy các công trình – kiến trúc đô thị
Các thành phố lớn là nơi lưu giữ khá nhiều di tích lịch sử, các công trình kiến trúc… có
giá trị quan trọng của cả nước. Các hạt acid khi rơi xuống nhà cửa và các bức tượng điêu
khắc sẽ ăn mòn chúng. Nhiều công trình và hiện vật lịch sử đặt ngoài trời nên ảnh hưởng
của mưa acid tới các công trình này là không tránh khỏi. Tuy nhiên, để đo được mức ảnh
hưởng, mức thiệt hại ra sao thì rất khó.
Ngoài ra, mưa acid làm hư vải sợi, sách và các đồ cổ quý giá. Hệ thống thông khí của các
thư viện, viện bảo tàng đã đưa các hạt acid vào trong nhà và chúng tiếp xúc và phá hủy
các vật liệu nói trên. Các chất acid nêu trên trong không khí rất nguy hại đối với cơ thể
sống và chúng có thể hủy diệt sự sống.
2. 5 Ảnh hưởng đến sức khỏe
Những hiện tượng thời tiết cực đoan có thể tạo ra mối nguy hiểm mới tới sức khỏe con
người và gây gián đoạn cho các dịch vụ y tế công cộng dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh tăng lên.
Page 19 of 26
Những trận sóng thần,mưa lũ, nắng nóng dài ngày,…thường kéo theo sau là những dịch
bệnh truyền nhiễm
Cơn bão Mitch ở Trung Mỹ vào năm 1998 dẫn đến gia tăng các bệnh sốt rét, sốt xuất
huyết, dịch tả và bệnh trùng xoắn (Vergara, 2005).
Những căn bệnh hiện nay đang hoành hành chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt
đới như sốt rét, viêm màng não, sốt xuất huyết…sẽ lan rộng ra trên phạm vi toàn cầu.
Hình 9: Sự gia tăng dịch bệnh trong thời gian El Nino 1997-1998
Nhóm chuyên gia liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2009) đã cảnh báo rằng đến năm
2080 sẽ có khoảng 1,5-3,5 tỉ người trên thế giới phải đối mặt với nguy cơ mắc sốt xuất
1% GDP toàn cầu/năm
III. Giải pháp sinh thái nhằm ứng phó, ngăn ngừa ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
3.1. Sử dụng hệ thống cây xanh
Để ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường, cải thiện không gian sống quanh
ta, ngoài các biện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì việc sử dụng cây xanh có vai trò vô
cùng quan trọng.
Hệ thống cây xanh có những chức năng sau:
- Trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả năng
ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm đất
và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước, kiểm soát gió và lưu
thông gió.
- Cây xanh có tác dụng bảo vệ môi trường: hút khí CO2 và cung cấp O2, ngăn giữ
các chất khí bụi độc hại. ở vùng ngoại thành, cây xanh có tác dụng chống xói mòn,
điều hoà mực nước ngầm. Cây xanh còn có tác dụng hạn chế tiếng ồn nhất là ở
khu vực nội thành.
- Cây xanh có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan. Những tính
chất của cây xanh như: hình dạng (tán lá, thân cây), màu sắc (lá, hoa, thân cây,
trạng mùa của lá ) là những yếu tố trang trí làm tăng giá trị thẩm mỹ của công
trình kiến trúc cũng như cảnh quan chung.
- Ngoài chức năng trang trí, tăng thêm vẻ đẹp thẩm mỹ cây xanh còn có tác dụng
kiểm soát giao thông. Việc kiểm soát giao thông bao gồm cả xe cơ giới và người đi
bộ. Các bụi thấp, bờ dậu, đường viền cây xanh trong vườn hoa công viên vừa có
tác dụng trang trí vừa có tác dụng định hướng cho người đi bộ. Hàng cây bên
đường có tác dụng định hướng, nhất là vào ban đêm sự phản chiếu của các gốc cây
được sơn vôi trắng là những tín hiệu chỉ dẫn cho người đi đường.
- Số lượng cành nhánh chặt tỉa và đốn hạ những cây già cỗi không còn tác dụng là
nguồn cung cấp gỗ củi cho dân dụng.
Page 22 of 26
Như vậy, ngoài chức năng là sinh vật sản xuất như trong các hệ sinh thái khác (hệ sinh
thái rừng, hệ sinh thái nông nghiệp ) cây xanh trong hệ sinh thái đô thị còn có chức năng
kinh nghiệm, bởi thực tế chưa có thể kết luận được giải pháp nào là khả thi trong một khu
vực rộng lớn và có ưu điểm vượt trội.
3.3. Khuyến khích sử dụng và phát triển năng lượng tái tạo
Tạo lập được cơ chế khuyến khích sử dụng và phát triển năng lượng tái tạo như: năng
lượng khí sinh học (biogas, phế thải trong nông nghiệp ở nông thôn); năng lượng mặt trời
(thiết bị đun nước nóng, chiếu sáng bằng pin mặt trời), khí gas (bãi rác đô thị); năng
lượng gió (phát điện, bơm nước vào ruộng muối ở vùng ven biển, hải đảo); thủy điện, đặc
biệt là thủy điện nhỏ và cực nhỏ với công suất lắp đặt lên tới hàng nghìn MW (phát điện
ở vùng sâu, vùng xa hoặc phối hợp điều tiết, cấp nước, tưới tiêu), Đặc biệt, một dự án
thí điểm xây dựng chi trả hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp đã được triển khai ở huyện
Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, nhằm chuẩn bị cho việc tham gia thị trường các-bon của Việt
Nam. Để ứng phó với BĐKH, Chính phủ Việt Nam còn triển khai các dự án về sản xuất
điện năng không thải CO2. Đó là dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt
Nam sẽ được khởi công vào năm 2015 ở Ninh Thuận. Đầu tháng 10-2008, tỉnh Ninh
Thuận đã cấp phép đầu tư xây dựng nhà máy điện chạy bằng sức gió có công suất 50
MW. Đây là những bước ứng dụng công nghệ năng lượng mới phù hợp với điều kiện của
Việt Nam mà không ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, không gia tăng
lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những hoạt động mở
đầu, chúng ta còn phải thực hiện ngay những hành động cụ thể như quy hoạch và tiến
hành nâng cấp hệ thống đê biển, đê cửa sông bảo đảm chống được mức nước triều tần
suất 5% ứng với gió bão cấp 9 (năm 2015) và cấp 10 (năm 2020) đối với các tỉnh từ
Quảng Ninh đến Quảng Nam. Từng bước thực hiện bốn nhân tố chính là vấn đề buôn bán
lượng khí thải, hợp tác kỹ thuật, giảm phá rừng, ứng phó với BĐKH nhằm đạt được
những mục tiêu dài hạn để góp phần vào mục tiêu chung của toàn cầu. Dù còn nhiều
thách thức nhưng đến nay những chương trình, kế hoạch đã được triển khai, nhất là công
tác thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và đã tạo được nhiều giống cây
trồng mới thích nghi với sự BĐKH. Cùng với sự quan tâm và hợp tác của các tổ chức
quốc tế, các quốc gia trong khu vực và thế giới, Việt Nam sẽ ứng phó và thích ứng thành
công với BĐKH, hạn chế thiên tai, phát triển bền vững.
D. KẾT LUẬN