khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái đô thị ở việt nam - Pdf 22



TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA SỬ- ĐỊA

TRẦN VĂN HIỆP

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HỆ
SINH THÁI ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Sơn La, năm 2013
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, Phòng Quản lý khoa học và Quan
hệ quốc tế, trung tâm thư viện trường Đại học Tây Bắc, ban chủ nhiệm khoa Sử-
Địa đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lỏng biết ơn sâu sắc đến cô giáo, Thạc sĩ Trần Thị Hằng đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô trong tổ Địa Lí-
khoa Sử Địa, bè bạn và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ, động
viên khích lệ tôi, đồng thời có những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình
thực hiện và hoàn thành khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn !
Sơn La, tháng 5, năm 2013
Tác giả khóa luận Trần Văn Hiệp


8
H
2
S
Hidrosinfua
9
H
2
SO
4

Axit Sunfuaric
10
HCl
Axit Clohidric
11
HNO
2

Axit Nitric
12
HFC
s

Hafnium carbide. (Hợp chất của Cacbon và hafnium)
13
GS.TSKH
Giáo sư. Tiến sĩ khí hậu
14
LHQ

23
SF
6

Sulphur hexafluoride
24
S
Lưu huỳnh
25
SO
2

Lưu huỳnh dioxit
26
PM10
Kích thước hạt bụi nhỏ hơn 10 micromet
27
IPCC
Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu
28
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
29
µg
Mi-crô gram
DANH MỤC BẢN ĐỒ


[2]
Dự án nghiên cứu thành phố-Trung tâm khí tượng
thủy văn Trung Ương
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn khóa luận 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi của khóa luận 2
2.1. Mục tiêu 2
2.2. Nhiệm vụ 2
2.3. Phạm vi nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
3.1. Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu 2
3.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu 3
3.3. Phương pháp bản đồ 3
4. Cấu trúc của khóa luận 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Biến đổi khí hậu 4
1.1.2. Mưa Axit 4
1.1.3. Hệ sinh thái đô thị 5
1.1.4. Đảo nhiệt đô thị 6
1.1.5. Hiệu ứng nhà kính 7

3.2.1.2. Xây dựng đô thị sinh thái 38
3.2.2. Giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường
thích ứng với biến đổi khí hậu 42
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn khóa luận
Xã hội loài người ngày càng phát triển, đồng nghĩa với việc một khối lượng
của cải vật chất lớn của con người tạo ra cũng ngày một nhiều. Tuy nhiên trong
quá trình sản xuất của cải vật chất cũng làm gia tăng các chất thải, gây ô nhiễm
môi trường.
Trong quá trình tiến hóa và phát triển, con người luôn phải dựa vào các yếu
tố sẵn có trong tự nhiên. Con người với tư cách là một vật thể sống, một yếu tố
của sinh quyển đã tác động trực tiếp vào môi trường. Các hệ sinh thái tự nhiên
hoặc dần chuyển thành hệ sinh thái nhân tạo, hoặc bị tác động của con người
đến mức mất cân bằng và suy thoái. Thế kỷ vừa qua, nhiệt độ trung bình của
Trái đất đã tăng thêm 1
0
C do việc tích lũy các chất cácbon điôxít (CO
2
), mêtan
(CH
4
) và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác trong không khí (như N
2
O,
HFCs, PFCs, SF

2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên đề ra khóa luận cần phải thực hiện một số nhiệm
vụ sau:
- Đưa ra cơ sở lý luận của biến đổi khí hậu, dựa trên các khái niệm cơ bản
của biến đổi khí hậu rút ra được các tác động của biến đổi khi hậu khi diễn ra tác
động như thế nào tới sinh thái đô thị Việt Nam.
- Nghiên cứu, tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu tới hai đô thị lớn hàng
đầu cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
- Từ tất cả những lý luận chung và thực tiễn đang diễn ra đề suất được các
giải pháp cho các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
Thông tin chủ yếu trong phạm vi tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tới
đô thị và tập trung tâm điểm là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM).
Việc lựa chọn hai đô thị Hà Nội và TPHCM không chỉ vì đây là hai đô thị lớn
nhất Việt Nam mà còn do vị trí địa lí của Hà Nội và TPHCM nằm đại diện cho
khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam để chứng minh cho BĐKH tác động
mạnh mẽ tới tất cả các đô thị trong cả nước.
- Về thời gian:
Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu sự tác động của BĐKH tới đô thị Việt
Nam, tâm điểm là Hà Nội và TPHCM trong khoảng thời gian từ sau những
năm 2000.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng giúp cho khóa luận hoàn thành, trong khóa
luận tác giả đã tiến hành đọc một số thông tin tài liệu của các tổ chức như Tổng

3
Cục khí tượng thủy văn, các báo cáo môi trường của các chuyên gia các nước
trên thế giới.

4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Biến đổi khí hậu
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về BĐKH.
Tuy nhiên biến đổi khí hậu được hiểu: là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm
khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi
các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.
BĐKH là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra
những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh
sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ
thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” (Theo công
ước chung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu).
BĐKH là sự thay đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình trong một
khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có
thể là do quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài hoặc do các
hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển hay trong khai thác
và sử dụng tự nhiên.
Theo ban liên chính phủ về BĐKH là bất cứ thay đổi nào của khí hậu so
với thời gian, do đa dạng tự nhiên hay nguyên nhân từ con người.
Theo Công ước khung của thế giới (UNFCCC) về BĐKH là: "Sự thay đổi
khí hậu trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người làm thay đổi cấu
thành phần của khí quyển trái đất mà cùng với BĐKH tự nhiên đã quan sát trong
một thời kì nhất định".
Tuy nhiên dù cho thế nào đi chăng nữa BĐKH vẫn là một chu trình của tự
nhiên hình thành do một quá trình tác động lâu dài của con người.
1.1.2. Mưa Axit
Mưa axit là mưa có tính axit do một số chất khí hòa tan trong nước mưa tạo

dụng của bức xạ môi trường, các oxit này sẽ phản ứng với hơi nước trong khí quyển
để hình thành các axit như H
2
SO
4
, HCl, HNO
2
. Chúng lại rơi xuống mặt đất cùng
với các hạt mưa hay lưu lại trong khí quyển cùng mây trên trời. Chính các axit này
đã làm cho nước mưa có tính axit. Một vài quặng kim loại như đồng (Cu) chẳng hạn,
có chứa S và khí SO
2
được tạo thành khi người ta tìm cách khai thác chúng. Khí SO
2

cũng có thể được thải ra từ hoạt động núi lửa. Khi núi lửa hoạt động thường tung vào
khí quyển H
2
S và SO
2
. Ngoài ra, khí SO
2
cũng có thể được thải từ sự mục nát của
các loài thực vật đã chết từ lâu. Khí SO
2
có nguồn tự nhiên chỉ chiếm một tỷ lệ rất
nhỏ (khoảng 1/10) so với nguồn gốc nhân tạo (từ những hoạt động công nghiệp, giao
thông ). Bên cạnh đó, các nhà máy điện khi sử dụng nhiên liệu hóa thạch để phát
điện cũng đã thải vào không khí một lượng lớn NO.
1.1.3. Hệ sinh thái đô thị

thị kể cả các sinh vật thuộc nhóm ngành nông nghiệp.
- Thành phần vô sinh: môi trường đô thị, đất, nước, không khí, các yếu tố khác.
- Thành phần công nghệ: các nhà máy, rạp hát, cơ quan, xí nghiệp thuộc
các ngành kinh tế chủ chốt của các đô thị…
Tại Việt Nam hiên nay có 6 loại đô thị: Bao gồm loại đặc biệt và từ loại I
tới loại V. Trong đó loại thấp nhất là V với quy mô dân số là 4000 dân trở lên.
Càng lên cấp cao hơn thì quy mô dân số càng lớn và các đặc trưng của một hệ
sinh thái đô thị càng thể hiện rõ nét.
1.1.4. Đảo nhiệt đô thị
Đảo nhiệt đô thị: là một khu vực đô thị ấm hơn đáng kể so với các khu
vực ngoại ô xung quanh. Vào những năm 1810, Luke Howard là người đầu tiên
nghiên cứu và mô tả hiện tượng này, mặc dù ông không phải là người đã đặt tên
cho hiện tượng. Sự chênh lệch nhiệt độ vào ban đêm thường lớn hơn thời gian
ban ngày, và dễ cảm nhận được khi gió yếu. Đảo nhiệt đô thị diễn ra rõ rệt tùy
theo mùa, chủ yếu trong mùa hè và mùa đông. Nguyên nhân chính của đảo nhiệt
đô thị là sự thay đổi bề mặt sử dụng đất trong quá trình phát triển đô thị. Quá
trình này sử dụng nhiều loại vật liệu có tác dụng giữ nhiệt hiệu quả. Nhân tố thứ
hai góp phần tạo ra đảo nhiệt đô thị là lượng nhiệt thải ra do quá trình sử dụng
năng lượng. Khi các trung tâm đông dân cư phát triển, người dân có xu hướng
thay đổi diện tích đất đai nhiều và ngày càng nhiều hơn nữa, gây ra sự gia tăng
nhiệt độ trung bình tương ứng. Cụm từ "Đảo nhiệt" ít được sử dụng hơn, nói về

7
một khu vực bất kì, không liên quan đến dân số, chỉ cần khu vực đó nóng hơn
các khu vực xung quanh.
1.1.5. Hiệu ứng nhà kính
Hiệu ứng nhà kính: "Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về
năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt
độ của khí quyển Trái Đất được gọi là Hiệu ứng nhà kính". Hiệu ứng nhà kính,
dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên

quyển trong đô thị bị nhiễm độc nghiêm trọng bởi các bụi do các phương tiện

8
giao thông và các khói bụi của các nhà máy thải ra.
Những cơn mưa lớn bất thường, những trận lũ lụt lịch sử, các đợt siêu bão,
những đợt hạn hán kỉ lục ảnh hưởng tới Việt Nam ngày một nhiều. Trận hạn hán
năm 1997 là cơn hạn hán lớn nhất trong vòng 70 năm trở về trước, tiếp đó sang
năm 1998 lại là trận lụt lịch sử cao nhất trong vòng 50 năm trở về trước cũng
chưa từng thấy. Sang tới năm 2000 lại một trận lụt lịch sử mà Trung tâm khí
tượng thủy văn Trung Ương đánh giá là cao nhất trong vòng 76 năm trở lại.
Những đợt thiên tai liên hoàn xảy ra gây hậu quả nặng nề, nhiều ngành kinh tế tê
lệt trong những khoảng thời gian dài, các vùng nông thôn thì chịu đựng cảnh
mất mùa, đảo lộn nhịp độ thời vụ, còn các đô thị thường xuyên phải sống trong
cảnh màn trời chiếu đất, nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan cũng liên miên, nối
tiếp nhau xảy ra.
BĐKH đang từng ngày, từng giờ tác động lên tất cả các thành phần thuộc
HST đô thị trên Thế Giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Các thành thành
phần hữu sinh như con người và tất cả các sinh vật trong đô thị đang phải gánh
chịu trực tiếp hậu quả do BĐKH mang lại. Các thành phần vô sinh thì thay đổi
một cách nhanh chóng theo chiều hướng tiêu cực, thành phần công nghệ thì
ngày càng một bị phá hủy và ảnh hưởng nghiêm trọng dưới những tác động do
các hiện tượng thời tiết cực đoan mang lại.
Thủ phạm của BĐKH không phải là một đối tượng nào khác mà chính là
do các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người. Hiện nay để giải quyết
hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu buộc phải có sự chung tay giải quyết
của tất cả cộng đồng người, các quốc gia chung tay nhau giải quyết nhằm đưa ra
các phương án chung có thể thực hiện trên phạm vi toàn cầu. Để có thể ứng phó
và sống chung với biến đổi khí hậu cho các đô thị hiện nay thì chính quyền đô
thị phải thực thi nhiều các giải pháp về quy hoạch cũng như xây dựng thiết kế
các công trình. Biến đổi khí hậu là do một chu trình kéo dài tác động của con

nguy hiểm. Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo,
các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ.
Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm. Ở miền
Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con
người. Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn
đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh
thần kinh. Thiên tai như bão, tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở
đất v.v… gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh
hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng,
bệnh tật.
BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt xuất
huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn
trùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây
lan. Sự suy giảm tầng ôzôn sẽ làm tăng cường độ tia cực tím ở bề mặt trái đất là
nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả trong sinh học như làm da cháy nắng, lóa

10
mắt, lão hóa da, đục thủy tinh thể, ung thư mắt, gia tăng các khối u ác tính: 19%
các khối u ác tính ở đàn ông và 16% ở phụ nữ, bệnh ung thư da.
Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến
biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và
tiêu chảy, trong đó tập trung chủ yếu tại 2 đô thị lớn nhất cả nước ta là Hà Nội
và TPHCM. Mà đối tượng nhiễm các bệnh hoặc chịu ảnh hưởng của các đợt đại
dịch lại chính là những người dân sống trong các đô thị và các thành phố lớn là
chủ yếu. Nguyên nhân chủ yếu do mật độ dân số trong các đô thị quá cao, cộng
thêm sự lưu thông vận động các nguồn cung cấp hàng hóa có thể là các nguồn
dịch bệnh từ nơi khác tới lớn nên đây là những môi trường và là điều kiện rất lý
tưởng cho các chủng vius truyền nhiễm và phát tán.
Trong những năm gần đây rất khó khăn cho công tác dự báo thời tiết vào
mùa Đông, có những năm nhiệt độ vào mùa Đông cao bất thường (Năm 2011

BĐKH mang lại trong những năm gần đây diễn ra triền miên gây thiệt hại vô
cùng to lớn. Các loại virus ngày càng biến đổi về kiểu gen theo chiều hướng
hướng phức tạp để ngừa lại các vac-xin do con người tạo ra, thậm trí một số
chủng loại virus lây lan thành đại dịch, ngành thú y cũng khó khăn trong công
tác tìm ra các loại vac-xin đặc trị. Một số đại dịch trên đàn gia súc lây lan trên
diện rộng trong những năm gần đây như cúm gia cầm H
5
N
1,
H
7
N
9
(mẫu virus
biến biến đổi kiều gen từ H
5
N
1
), lở mồm long móng trên đàn gia súc, tai
xanh Một số vùng chăn nuôi ven đô cung ứng cho các vùng nội đô như
Quốc Oai, Ba Vì, Gò Vấp, Tân Bình trong những năm gần đây thiệt hại hàng
tỉ đồng vì gia súc, gia cầm chết hàng loạt do bị ảnh hưởng các đợt đại dịch.
Sau những đợt dịch qua đi hàng nghìn các trang trại phá sản, hệ quả tất yếu
sau dịch là giá cả các mặt hàng leo thang chóng mặt do thiếu nguồn hàng
cung ứng cho các thị trường.
Môi trường sống của các loài thực vật trong các đô thị vốn đã khắc
nghiệt hơn so với các vùng sinh thái khác, nhưng khi BĐKH diễn ra sự khắc
nghiệt còn bị tăng lên nhiều lần khi các đợt hạn hán, bão ngày một tăng lên.
Những trận bão lịch sử diễn ra với cường độ ngày một lớn hơn về cường độ
và gia tăng thêm về số lượng quật ngã hàng loạt các hệ thống cây xanh lâu

0
C nhiệt độ trung bình so với các khu vực
xung quanh.
Hiện tượng số trận mưa lớn xuất hiện với tần suất tăng dần theo thời gian
đã được giải thích bằng hiện tượng đảo nhiệt. Tình trạng nhiệt độ tăng liên tục
và ngày càng nhanh dần kể từ thập niên 90 của thế kỷ trước, trùng khớp với lý
thuyết của hiệu ứng đảo nhiệt và góp phần lý giải hiện tượng mưa lớn xuất hiện
ngày càng thường xuyên ở các khu vực đô thị hóa. Đây không phải là vấn đề
riêng biệt của TP Hồ Chí Minh mà đã được tổng kết trên khắp thế giới từ nhiều
thập niên. Độ vươn cao thiếu phối hợp của các tòa nhà tầng trong lòng trung tâm
đô thị có thể gây bất lợi cho hành lang thông gió và làm nghiêm trọng hơn các
vấn đề đảo nhiệt đô thị. Vì vậy việc ngăn chặn hoặc hạn chế tối thiểu hiện tượng
đảo nhiệt đô thị, một hệ thống ở cấp độ thành phố của không gian mở cần được
tổ chức nhằm thông gió và phát triển các khu vực tạo gió mát.
* Nắng nóng gia tăng vào mùa Hạ
Tại Hà Nội:
Dưới tác động của BĐKH thời tiết ngày càng thay đổi thất thường. Trong các
khu vực đô thị thì hiện tượng này càng trở nên gay gắt hơn bất kì ở một nơi nào
khác. Nguyên nhân chính do yếu tố bề mặt đệm, do trong đô thị diện tích bị bê tông
hóa quá lớn, nên quá trình tia sáng năng lượng mặt trời chiếu xuống thay vì có sự
điều hòa của bề mặt đất thì tại các đô thì phần lớn năng lượng này lại bị phản lại
một cách gay gắt tạo nên cái nắng nóng dữ dội cho HST đô thị. Hà Nội sẽ chịu
"hiệu ứng đảo nhiệt", nhiệt độ khi đó sẽ cao hơn các vùng xung quanh, có thể đạt
những kỷ lục mới cùng với sự kéo dài hơn của mùa nóng, sự gia tăng các đợt và số
ngày nắng nóng. Trong những năm gần đây Hà Nội ngày càng nắng nóng bất
thường, nhiệt độ tháng 6 năm 2011 đạt lên tới giá trị 42
0
C. Đây có thể coi là cái
nóng kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây. Vào những khoảng thời gian 13h-14h
nhiệt độ ngoài trời còn có thể đạt ngưỡng 45-46

6/2011
35
35
37
39
38
39
40
39
40
42
Nguồn [1]

Sau những đợt nắng nóng kéo dài là những đợt mưa qúa lớn kéo dài gây
ngập úng nghiêm trọng trong đô thị. Mưa lớn kéo dài không chỉ gây ảnh hưởng
lớn tới cuộc sống, sinh hoạt người dân mà còn gây ra thiệt hại rất lớn cho các
hoạt động kinh tế vùng đô thị, đặc biệt là đối với Hà Nội-Trung tâm văn hóa
chính trị của cả nước.

14
Tại TPHCM:
Các báo cáo của Trung tâm khí tượng thủy văn Trung Ương và nhiều trung
tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu cả nước công bố, nhiệt độ trung bình của
TPHCM tăng lên lên gần 2°C trong vòng 80 năm (từ 1920 đến 2005) và tăng rất
nhanh trong khoảng 25 năm gần đây (từ 1980 đến 2005).
Nguyên nhân chính được đại đa số các nhà khoa học nhất trí, đó là do tăng
hàm lượng khí CO
2
và các loại khí thải tạo hiệu ứng nhà kính do hoạt động con
người gây ra trong bầu khí quyển Trái đất mà trong đó một đô thị phát triển

X- Số thập niên.
Từ tất cả các nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trung bình năm của TPHCM
tăng lên nhanh chóng trong những thập niên gần đây thể hiện BĐKH đang diễn
ra rất rõ ràng tại đô thị lớn hàng đầu của cả nước.
* Mùa Đông thời tiết bất thường tại các đô thị miền Bắc:
Trong những năm gần đây nhiệt độ mùa Đông ngày càng bất thường. Nhìn
chung mùa Đông ngày càng rút ngắn đi. Đây là dấu hiệu tiêu biểu của BĐKH
đang diễn ra.

15
Bảng: 2.2.1.2: Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất của Hà Nội
trong tháng 12 từ năm 2000-2011.

Nhiệt độ tháng 12
qua các năm
Nhiệt độ cao
nhất trong tháng
Nhiệt độ thấp nhất
trong tháng
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
15

trong khi biến đổi khí hậu đã hiện hữu ở nhiều đô thị của các thành phố lớn.
Trong tổng số 754 đô thị hiện nay, khoảng 405 đô thị lớn nhỏ sẽ bị ảnh
hưởng ngập úng vào mùa mưa.Tình trạng gia tăng liên tục của mực nước trên
sông khu vực Nam Bộ, cùng với những trận mưa lớn xuất hiện ngày càng
thường xuyên hơn trong khi hệ thống thoát nước và kiểm soát triều cường vẫn
chưa đủ khả năng đáp ứng đã làm cho tình trạng ngập lụt đô thị ở khu vực Dông

16
Nam Bộ ngày càng trầm trọng. Hàng nghìn vị trí ngập xuất hiện các đô thị trong cả
nước vào mùa mưa, sau những cơn mưa từ 40mm trở lên ngay cả khi thủy triều đang
ở mức thấp cho thấy dòng chảy tràn đô thị do mưa lớn vượt quá khả năng thoát nước
đang là tác nhân gây ngập chủ yếu hiện nay. Các đô thị trong khu vực đồng bằng
châu thổ như Cần Thơ hay các đô thị nằm gần châu thổ sông Mê Kông như TP Hồ
Chí Minh sẽ không chỉ có nguy cơ bị đe dọa trực tiếp bởi mực nước biển dâng mà có
thể chịu áp lực di cư lớn của từ các khu vực xung quanh. Không những vậy, các
nguồn lực kinh tế-xã hội, chẳng hạn như tiến trình công nghiệp hóa liên tục và lối
sống mới, sẽ tiếp tục kéo dòng di cư từ các vùng nông thôn vào các đô thị.
Việt Nam xếp thứ 4 sau Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh nếu tính lượng người
lớn nhất tuyệt đối sống ở các vùng ven biển có cao độ thấp và dễ bị tổn thương, được
xác định là vùng tiếp giáp dọc theo bờ biển có cao độ thấp hơn 10 mét trên mực
nước biển. Khoảng 43 triệu người Việt Nam hoặc hơn 55% dân số cả nước (38%
dân số đô thị Việt Nam) đang sinh sống tại những vùng mực nước biển dâng. Đây là
tỷ lệ phần trăm cao nhất trên toàn thế giới. Theo định hướng quy hoạch tổng thể phát
triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020, quy mô đô thị từ mức 30,4 triệu
người và diện tích 2.432 km
2
năm 2010 sẽ tăng lên 40 triệu người và diện tích
4.600 km
2
(chiếm 45% dân số và 1,4% diện tích cả nước) vào năm 2020.

đây là năm 2008, Hà Nội ngập trên diện rộng, rất sâu do mưa liên tục với cường
độ lớn vào đêm ngày 30/10. Đây là trận mưa lớn nhất trong vòng 24 năm, đặc
biệt lại rơi vào trung tâm Thủ đô Hà Nội. Mưa lớn đã gây ngập úng, sự cố tại
nhiều trạm biến thế và đường dây, gây mất điện nhiều khu vực, 12.951 hộ dân bị
ngập nhà cửa, phải sơ tán 1.468 hộ dân, thiệt hại 50.627,7 ha hoa màu và khoảng
9.000 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, 17 người thiệt mạng. Theo ước tính ban
đầu, tổng giá trị thiệt hại vào khoảng 3.000 tỷ đồng.Trong năm 2010, cơn mưa
lớn sáng ngày 13/7 đã làm Hà Nội chìm trong biển nước. Lượng mưa đo được
là trên 130mm, trong khi hệ thống thoát nước chỉ đáp ứng được những trận mưa
dưới 172mm trong hai ngày. Cả thành phố có tới 34 điểm úng ngập và gần 100
điểm ùn tắc. Giao thông ngừng trệ, các hoạt động thương mại, du lịch chịu thiệt
hại nặng nề.
BĐKH đã và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng tiêu cực đến công tác thoát nước.
Lượng mưa trung bình năm và lượng mưa trong các tháng cao điểm mùa mưa có
xu hướng tăng dần 5 - 10%, ảnh hưởng lớn đến việc thoát nước. Bên cạnh đó, do
nội thành mở rộng, tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, việc khớp nối hạ tầng kỹ thuật
của các dự án đô thị mới và khu vực lân cận còn nhiều bất cập, nên việc chống
úng ngập của thành phố vốn đã khó lại càng khó hơn.
Tại TPHCM:
Theo Tổ chức Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) thì sự nóng lên của khí hậu
trái đất làm cho mưa trở nên thất thường hơn. Những vùng mưa nhiều, lượng mưa
trở nên nhiều hơn, cường độ mưa lớn hơn. Các vùng hạn trở nên hạn hơn. Tần
suất và cường độ hiện tượng El Nino tăng đáng kể, gây lũ lụt và hạn hán ở các
vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng tới các đô thị nằm
trong đới khí hậu cận Xích Đạo, bởi vậy nên TPHCM là một đô thị đáng báo
động trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra. Xu thế biến đổi của lượng mưa không

18
nhất quán giữa các khu vực và các thời kỳ. Tổng lượng mưa năm không tăng
nhưng cường độ mưa, thời gian mưa từng cơn đang có xu hướng tăng lên rõ rệt.

2
. Vùng đất thấp của TP.HCM
là nơi sẽ bị ảnh hưởng nặng nề do nước biển dâng.
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó
không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào
đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác
nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác. Mực nước biển được đo
thông qua hệ thống thiết bị đo triều ký đặt tại các trạm hải văn hoặc các máy
đo độ cao vệ tinh.

Trích đoạn Giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu cho các hệ sinh thái đô thị ở Việt Nam Xây dựng đô thị sinh thái Giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status