nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống canh tác lúa nước tại huyện giao thủy, tỉnh nam định - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HOÀNG THỊ ÁNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU ĐẾN HỆ THỐNG CANH TÁC LÚA NƯỚC
TẠI HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI, NĂM 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn HOÀNG THỊ ÁNH Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài học viện.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo của Học
Viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục đích nghiên cứu 2
Yêu cầu của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Khái niệm về biến đổi khí hậu 3
1.2. Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam 4
1.2.1. Biến đổi khí hậu trên thế giới 4
1.2.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 7
1.3. Các hệ thống canh tác lúa nước chính ở Việt Nam 11
1.3.1. Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc
(TDMNPB) 11
1.3.2. Canh tác lúa ở Nam Trung Bộ 15
1.3.3. Canh tác lúa ở ĐBSCL 18
1.4. Tác động của BĐKH đến hệ thống canh tác lúa nước 19
1.4.1. Tác động của nước biển dâng 19
1.4.2. Tác động của xâm nhập mặn và phèn 20
1.4.3. Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan: bão, hạn hán, lũ lụt,
rét đậm rét hại 21
1.5. Kịch bản BĐKH của Việt Nam năm 2012 22
1.6. Các giải pháp ứng phó với BĐKH 23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

1.6.1. Các cuộc họp quốc tế quan trọng về BĐKH 23
1.6.2. Nghiên cứu về giải pháp giảm thiểu tác động và thích ứng với BĐKH
trong nông nghiệp 24

đậm rét hại, bão ) 49
3.6. Dự báo những ảnh hưởng của BĐKH đến hệ thống canh tác lúa nước
huyện Giao Thủy 53
3.6.1. Dự báo những ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng 53
3.6.2. Dự báo những ảnh hưởng của xâm nhập mặn và phèn 55
3.6.3. Dự báo những ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan 56
3.7. Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu thích ứng với BĐKH cho huyện 57
3.7.1. Giải pháp công trình 59
3.7.2. Giải pháp phi công trình 60
3.7.3. Giải pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục và tăng cường năng lực
ứng phó với BĐKH 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
1. Kết luận 64
2. Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 68

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á
ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
BĐKH

Biến đổi khí hậu

CN – TTCN



NS

Năng suất

NBD

Nước biển dâng

TDMNPB Trung du miền núi phía Bắc
UBND Ủy ban nhân dân
UNEP Liên Hợp Quốc
WMO Tổ chức khí tượng thế giới

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua
ở các vùng khí hậu của Việt Nam 8
Bảng 1.2 Thời vụ trong cơ cấu 2 vụ lúa ở ĐBSH 12
Bảng 1.3 Thời vụ gieo trồng cơ cấu 2 lúa – 1 màu 13
Bảng 1.4 Thời vụ gieo trồng cơ cấu 2 lúa/ năm 16
Bảng 1.5 Thời vụ trong cơ cấu 3 lúa 16


Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Giao Thủy 30
Hình 3.2 Diễn biến của mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dấu 35
Hình 3.3 Sơ đồ nguy cơ ngập khu vực đồng bằng sông Hồng và Quảng
Ninh ứng với mực nước biển dâng 1m (Kịch bản BĐKH , 2012) 54
Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Giao Thủy 2012 54
Hình 3.5 Sơ đồ nguy cơ ngập khi mực nước biển dâng 1m của huyện Giao Thủy 55 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và đề xuất các giải pháp phát triển canh tác lúa
nước nhằm thích ứng với BĐKH tại huyện.
Yêu cầu của đề tài
Đề tài cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống canh tác lúa nước
của huyện Giao Thủy?
- Biến đổi khí hậu sẽ còn tác động như thế nào đến hệ thống canh tác lúa
nước của huyện Giao Thủy trong thời gian tới ?
- Các giải pháp phát triển hệ thống canh tác lúa tại huyện Giao Thủy nhằm
thích ứng với BĐKH như thế nào ?

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái niệm về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung
bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là
vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc
các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần
của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Bộ TN&MT, 2008).
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH quan niệm BĐKH là sự biến
đổi của trạng thàu khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người
gây ra sự thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và nó được them vào sự
BĐKH tự nhiên quan sát được trong các thời kỳ có thể so sánh được.
Theo Từ điển Bách khoa các khoa học khí quyển và đại dương của Nhà xuất
bản Mc Graw - Hill thì BĐKH là: “Sự nhiễu động dài hạn trong nhiệt độ, mưa, gió
và mọi khía cạnh khác của khí hậu trái đất. Những quá trình bên ngoài như biến

Những thay đổi quan sát được của BĐKH trên thế giới có thể kể đến như sau:
- Gia tăng hàm lượng các khí trong bầu khí quyển:
CO
2
– loại khí nhà kính quan trọng nhất trong bầu khí quyển toàn cầu. Theo
báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Bang Liên Chính Phủ về BĐKH hàm lượng khí
CO
2
trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiên trong khoảng 650.000
năm qua và đạt 379ppm (tăng gần 35%). Lượng phát thải CO
2
từ việc sử dụng
nhiên liệu hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4 tỷ tấn cacbon (23,5 tỷ tấn CO
2
)
mỗi năm trong những năm 1990 đến 7,2 tỷ tấn cacbon (45,9 tỷ CO
2
) mỗi năm
trong thời kỳ 2000 – 2005.
Hàm lượng khí metan (CH
4
) trong khí quyển đã tăng từ 715ppb trong thời kỳ
tiền công nghiệp lên 1.732 ppb trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 và
đạt 1.774 ppb năm 2005 (tăng gần 148%)
Hàm lượng khí Nito oxit (NOx) trong khí quyển tăng từ 270 ppb trong thời
kỳ tiền công nghiệp lên 319 ppb vào năm 2005 (tăng 18%). Các khí metan và nito
tăng chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp, khai hoang và công nghiệp (Lê Văn Khoa
và cộng sự, 2011).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

của thời kỳ 1961 – 1990. Đáng lưu ý là, mức độ tăng nhiệt độ của Bắc Cực gấp đôi
mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu. Nhiệt độ cực trị cũng có xu hướng phù hợp
với nhiệt độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh, tăng số ngày nóng và biên độ
nhiệt độ ngày càng giảm đi chừng 0,07 mỗi thập kỷ (Nguyễn Văn Thắng và cộng
sự, 2010)
- Sự thay đổi của lượng mưa:
Trong thời kỳ 1901 – 2005 xu thế biến đổi của lượng mưa rất khác nhau giữa
các khu vực và các tiểu khu vực và giữa các thời đoạn khác nhau.
Ở Bắc Mỹ, lượng mưa tăng lên ở nhiều nơi, nhất là Bắc Canada nhưng lại giảm
đi ở Tây Nam nước Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2%
mỗi thập kỷ, gây ra hạn hán trong nhiều năm gần đây. Ở Nam Mỹ lượng mưa lại tăng
lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm đi ở Chile và
vùng bờ biển phía Tây. Ở Châu Phi lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt là giảm ở
Sahen trong thời đoạn 1960 – 1980. Ở khu vực nhiệt đới , lượng mưa giảm đi ở Nam Á
với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901 – 2005. Khu vực có tính địa phương rõ rệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

nhất trong xu thế biến đổi lượng mưa là Australia do tác động to lớn của ENSO. Ở đới
vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông
Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á. Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các
đới phía Bắc vĩ độ 30
0
N thời kỳ 1901 – 2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới. Kể từ
thập kỷ 1990 tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa
có xu thế giảm (Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010).
- Hạn hán và dòng chảy
Dòng chảy của hầu hết các sông trên thế giới đều có những biến đổi sâu sắc
từ thập kỷ này sang thập kỷ khác và giữa những năm trong từng thập kỷ. Ở Bắc Bán
cầu, xu thế hạn hán phổ biến từ giữa thập kỷ 1950 trên phần lớn vùng Bắc Phi, đặc

0
C so với 1982 (Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010).
Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kỳ 1961 – 2003 cho thấy tốc độ
tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8+- 0,5 mm/năm, trong đó
đóng góp do giãn nởi nhiệt khoảng 0,42 +- 0,12
0
C, nhanh hơn đáng kể so với thời
kỳ 1961 – 2003 (IPCC, 2007).
Theo Ngân hàng Thế Giới (2010), Đông Nam Á là một trong những khu vực
trên thế giới sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH do khu vực này có đường bờ
biển dài, mức độ tập trung dân số và các hoạt động kinh tế ven biển cao, đồng thời phụ
thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên và lâm nghiệp. BĐKH đã
có những ảnh hưởng đến khu vực này, biểu hiện ở tần suất và cường độ của các hiện
tượng thời tiết cực đoan như các đợt nóng nắng, hạn hán lũ lụt.
1.2.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những
điểm đáng lưu ý sau:
- Về nhiệt độ:
Trong khoảng 50 năm qua (1958 – 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt
Nam đã tăng lên 0,7˚C. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 – 2000)
cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931 – 1960). Nhiệt độ trung bình năm
của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn
trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6˚C. Năm 2007, nhiệt độ
trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 –
1,3˚C và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,5˚C (Nguyễn Đức Ngữ, 2008).
Xu thế chung của nhiệt độ là tăng ở hầu hết các khu vực trên cả nước, tuy
nhiên có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như Thừa
Thiên – Huế, Quảng Ngãi, Tiền Giang có xu hướng giảm của nhiệt độ. Đáng lưu ý
là ở những nơi này, lượng mưa tăng trong cả hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Mức
thay đổi nhiệt độ cực đại trên toàn Việt Nam nhìn chung dao động trong khoảng từ -

1
Tháng
7
Năm
Thời kỳ
11-4
Thời
kỳ 5-10
Năm
Tây Bắc Bộ 1,4 0,5 0,5 6 -6 -2
Đông Bắc Bộ 1,5 0,3 0,6 0 -9 -7
Đồng Bằng Bắc Bộ 1,4 0,5 0,6 0 -13 -11
Bắc Trung Bộ 1,3 0,5 0,5 4 -5 -3
Nam Trung Bộ 0,6 0,5 0,3 20 20 20
Tây Nguyên 0,9 0,4 0,6 19 9 11
Nam Bộ 0,8 0,4 0,6 27 6 9
(Nguồn: Trần Thục, 2010)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

Số giờ nắng: Trong thời gian 1961 – 1990, số giờ nắng trung bình hàng năm
ở Việt Nam biến đổi nhiều. Số giờ nắng trung bình hàng năm giảm 20 giờ ở Bắc
Giang, Hà Nội, Hải Dương; giảm 10 giờ ở Nam Định. Ở miền Nam gia tăng 20 giờ
nắng ở Nha Trang; tăng 18 số giờ nắng ở Pleiku; tăng 10 giờ nắng ở Ban Mê Thuột;
giảm 20 giờ nắng ở Cần Thơ và Bạc Liêu (Trần Đăng Hồng, 2007).
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15 –
16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trường hợp có số đợt
không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông thấp dị thường (0 – 1 đợt) cũng rơi vào 2
thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997). Một biểu hiện

lên 1m. Điều này dẫn đến nhiều hiện tượng bất thường của thời tiết. Đặc biệt là tình
hình bão lũ và hạn hán. Nước biển dâng dẫn đến sự xâm thực của nước mặn vào nội
địa, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước ngầm, nước sinh hoạt cũng như nước và
đất sản xuất nông – công nghiệp (Ngô Huyền, 2012).
Hiện tượng ENSO ảnh hưởng đến nước ta mạnh mẽ hơn trong thập kỷ 1991
– 2000 so với trước đó (trong thời kỳ 1950 – 2000), mỗi thập kỷ có 3 đợt El Nino,
trong đó các thập kỷ 1951 – 1960, 1961 – 1970, 1971 – 1980, mỗi thập kỷ có một
đợt mạnh, riêng thập kỷ 1981 – 1990 và 1991 – 2000 có 2 đợt mạnh và đều là mạnh
nhất thế kỷ (Nguyễn Đức Ngữ, 2008).
- Kịch bản BĐKH cho Việt Nam trong tương lai
Kịch bản BĐKH, nước biển dâng đối với Việt Nam được khuyến nghị sử
dụng trong thời điểm hiện nay là kịch bản ứng với mức phát thải trung bình (B2).
Theo đó có thể tóm tắt như sau (Bộ TN&MT, 2012).
Về nhiệt độ: Vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng từ 2,3˚C so
với trung bình thời kỳ 1980 – 1999. Mức tăng nhiệt độ dao động từ 1,6 đến 2,8˚C ở
các vùng khí hậu khác nhau. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc và Bắc Trung
Bộ tăng nhanh hơn so với nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Nam. Tại các vùng thì
nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè.
Về lượng mưa: Năm 2010, lượng mưa năm ứng với kịch bản trung bình ở các
vùng khí hậu Bắc Bộ tăng từ 7,3% đến 7,9%, các vùng khí hậu từ Nam Trung Bộ trở
vào lượng mưa tăng thấp hơn, từ 1,0% đến 3,2%. Tính chung cả nước, lượng mưa năm
vào cuối thế kỷ XXI tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980 – 1999, tổng lượng mưa năm
và lượng mưa mùa mưa tăng trong khi lượng mưa mùa khô lại giảm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

Mực nước biển dâng: Theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì
vào giữa thế kỷ XXI, mực nước biển có thể dâng khoảng 28cm đến 33cm và đến
cuối thế kỷ XXI có thể dâng thêm 65cm đến 100cm so với thời kỳ 1980 – 1999.
Vùng duyên hải Việt Nam có độ cao 1m trên bề mặt nước biển, chiếm một diện tích


chăn thả gia súc. Ở đất vùng đồi núi, lúa hàng năm thường được gieo trong vụ xuân
hay xuân hè khi có mưa đầu vụ đủ nước cấy, với các giống trung và dài ngày. Điển
hình là đất lúa ở vùng lòng chảo Điện Biên: Mạ gieo tháng 5, cấy cuối tháng 5, thu
hoạch cuối tháng 8 đầu tháng 9 (Ngô Đình Hòa, 2011).
b. Hệ thống 2 vụ lúa ở ĐBSH và TDMNPB
Nhờ sự phát triển của hệ thống thủy nông, nhiều vùng đất đã có nước tưới
chủ động quanh năm, cho nên diện tích lúa 2 vụ trong năm được tăng lên đáng kể.
Đây thường là những vùng thâm canh lúa tốt, năng suất cao như: Hà Nam, Nam
Định, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, v.v (Ngô Đình Hòa, 2011).
Ở đồng bằng Bắc bộ và các tỉnh TDMNPB cơ cấu lúa 2 vụ/năm thường là:
Lúa xuân – Lúa mùa muộn với các giống lúa chịu úng (Bảng 1.2).
Bảng 1.2. Thời vụ trong cơ cấu 2 vụ lúa ở ĐBSH
Vụ gieo cấy Gieo mạ Cấy Thu hoạch

Xuân
Sớm 25-30/12 5-10/2 20-25/5
Chính vụ 5-20/1 20-25/2 1-15/6
Muộn 25/2-05/3 25/1-5/2 25-30/6

Mùa
Sớm 20-30/5 1-10/6 1-10/9
Chính vụ 1-10/6 10-20/6 25/10-10/11
Muộn 25/6-05/7 25/6-5/7 5-25/11
Nguồn: Ngô Đình Hòa, 2011
c. Hệ thống lúa – màu ở miền Bắc và Bắc Trung bộ
Cơ cấu cây trồng lúa – màu được trồng trên các chân đất trước đây là 1 vụ
lúa – bỏ hóa. Nhờ hệ thống thủy nông phát triển, mở rộng nên đất chiêm trũng thoát
được nước, không còn ngập úng; những nơi cao thì có thể tưới nước được, nên thời
gian bỏ hóa đã được trồng thêm một hoặc hai vụ màu. Đặc biêt, những năm gần

tháng 6), cấy vào tháng 6/7, thu hoạch tháng 10/11. Các giống lúa lai, Khang dân.
Cây đông xuân thường là đậu tương, ngô, khoai môn. Trồng vào tháng ½, thu hoạch
tháng 5/6.
- Cơ cấu 2 lúa – 1 màu:
+ Lúa xuân: Làm mạ vào cuối tháng 1, đầu tháng 2; cấy từ đầu đến trung
tuần tháng 2, thu hoạch cuối tháng 5 đầu tháng 6, cấy tháng 6, thu hoạch tháng 9,
10. Giống lúa cả 2 vụ thường là: Q5, Khang dân, các giống lúa lai. Cây vụ đông:
Ngô được gieo cuối tháng 9 đầu tháng 10, thu hoạch tháng 12 và tháng 1 năm sau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

+ Lúa xuân sớm – Đậu tương hè – Lúa mùa muộn
- Cơ cấu 1 lúa – 2 màu: Đậu tương – Lúa – Ngô đông
- Cơ cấu 2 lúa – 2 màu: Trên đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ, ruộng
bậc thang thoát nước tốt nên áp dụng lúa xuân sớm, cây màu vụ hè đến lúa mùa hè
thu, sau đó tranh thủ rau vụ đông như bí, cà chua, dưa chuột…
d. Cơ cấu lúa - cá: Cơ cấu này ở nhiều địa phương cho lợi thế lớn
Tăng hiệu quả kinh tế: Ở Vĩnh Phúc trước đây, các vùng trũng chỉ để hoang
hóa hoặc cấy 1 vụ lúa bấp bênh, mỗi vụ chỉ thu được dưới 10 triêu đồng/ha. Sauk hi
cải tạo, các hộ thay đổi tập quán từ thả cá sang nuôi cá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới nên năng suất và giá trị tăng lên rõ rệt. Chuyển sang 1 lúa – 1 cá đã cho
thu nhập 30 – 40 triệu đồng/ha (Ngô Đình Hòa, 2011).
Tăng hiệu quả về tiêu nước, chống úng và trữ nước chống hạn: Việc cải tạo
vùng trũng đã góp phần giải bài toán tiêu nước, chống úng cho các địa phương
trước đây thường xuyên bị ngập úng. Đồng thời, nó còn tác dụng tích trữ phục vụ
sản xuất nông nghiệp trong mùa khô.
Như vậy, cải tạo vùng trũng đã tiết kiệm ngân sách hàng năm cho việc hỗ trợ
tưới, tiêu trong sản xuất trồng trọt.
Giải quyết việc làm: Trước đây lao động được sử dụng để nuôi cá hầu hết là
lao động phụ hoặc lao động tận dụng. Hiện nay, đã có nhiều lao động chuyển sang

đạt trên 73 tạ/ha, cao hơn so với giống lúa hiện có như Khang dân 18, Ải 32 từ 25-
30 tạ/ha. Tính toán hiệu quả kinh tế cho thấy: Với bán 2.400 đ/ Kg thì trên 1 ha thu
được hơn 17,5 triệu đồng, cao gấp 2,5 lần so với ruộng đối chứng trong cùng điều
kiện chân đất và mức độ đầu tư thâm canh. Nếu tính thêm vụ lúa thu với giống dài
ngày, năng suất đạt khoảng 55 tạ/ha thì qua 2 vụ sản xuất/ năm, năng suất đạt trên
dưới 13 tấn/ ha và cao hơn 2 tấn/ ha so với thực tế sản xuất 3 vụ/ năm cũng trên
chân đất này. Mặt khác, sản xuất 2 vụ còn giảm được chi phí sản xuất như: Công
lao động, giống, phân bón, thuốc trừ sâu đất có thời gian nghỉ ngơi, cắt đứt mầm
mống sâu bệnh, tiết kiệm nước tưới, góp phần khắc phục tình trạng thiếu nước tưới
gây mất mùa ở vụ hè thu, đồng thời chủ động được thời vụ sản xuất. Nhờ đó mà
trong năm 2006, đã có ít nhất 730 ha lúa 3 vụ đã được chuyển đổi sang 2 vụ trong
năm ăn chắc (Ngô Đình Hòa, 2011).

Trích đoạn Phương pháp nghiên cứu Các hệ thống canh tác lúa chính của huyện Giao Thủy Ảnh hưởng của nước biển dâng, xâm nhập mặn và phèn Dự báo những ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng Dự báo những ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status