II
Đề Tài
Thu thập tài liệu về biến đổi khí hậu toàn
cầu và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đến sự suy thoái các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và đói nghèo ở Việt Nam.
Mục Lục
Mục Lục 2
I - MỞ ĐẦU 2
II – ĐẶT VẤN ĐỀ 4
Sau đây là một số giải pháp nhằm khắc phục tài nguyên rừng: 10
* Nguyên nhân suy thoái Tài nguyên Nước LVS ở Việt Nam: 12
* Giải pháp giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước trên lưu vực sông 14
Biện pháp công trình 14
Biện pháp phi công trình 14
Về các văn bản và chính sách: 15
Về sử dụng tiết kiệm nguồn TNN: 15
III - KẾT LUẬN 16
Tài liệu tham khảo 17
I - MỞ ĐẦU
Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn:
khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất đang nóng lên, mực nước biển đang dâng
lên, dân số tăng nhanh, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều,
các sinh cảnh đang bị co hẹp lại và phân cách nhau, tốc độ mất mát các loài
ngày càng gia tăng, sức ép của công nghiệp hoá và thương mại toàn cầu
ngày càng lớn, trao đổi thông tin ngày càng rộng rãi, nhanh chóng, thuận lợi.
Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng lớn đến công cuộc phát triển của
tất cả các nước trên thế giới và cả nước ta, trong đó có việc làm cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường.
2050 1,1-1,8 33
2100 1,5-2,5 45
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [1]. Chú ý rằng số liệu trên chưa tính đến
tính ì của khí hậu và đặc điểm sụt hạ địa chất địa phương
Bảng 2.Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam (nhiệt độ tăng thêm 0C so
với năm 1990)
Năm Tây
Bắc
Đông
Bắc
Đồng
bằng
BB
Bắc
Trung
Bộ
Nam
Trung
Bộ
Tây
nguyên
Nam
Bộ
2050 1,41 1,66 1,44 1,68 1,13 1,01 1,21
2100 3,49 4,38 3,71 3,88 2,77 2,39 2,80
Nguồn:Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [1].
Bảng 3. Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990
Kịch bản / năm 2050 2100
A1F1 13,7 39,7
A2 12,5 33,1
quý giá của đất nước ta, rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã
hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào
quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ
bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế
lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt
của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí.
Nhưng ngày nay nguồn tài nguyên rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng, ở
nước ta hiện nay diện tích rừng đang bị thu hẹp do rất nhiều nguyên nhân
nhưng chủ yếu là do ý thức của con người. Nạn chặt phá rừng tràn lan làm
nguồn tài nguyên rừng bị suy thoái, hiện tượng sa mạc hóa xảy ra ở nhiều
nơi với nhiều mức độ khác nhau. Tình trạng đó tạo ra hàng loạt tác động tiêu
cực tới môi trường như hạn hán, lũ lụt ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của
con người ảnh hưởng tới nền kinh tế xã hội. Ngoài ra nó còn phá vỡ cân
bằng hệ sinh thái làm môi trường biến đổi sâu xa và lâu dài. Hiểu rõ về hiện
trạng rừng ở Việt nam tìm ra các biện pháp bảo vệ và ngăn chặn suy thoái tài
nguyên rừng đang là vấn đề cấp thiết cần được giải quyết.
Ở nước ta trong thời kì 1943-1995 diện tích rừng bị giảm mạnh từ 43%
xuống còn 28,2% do nhiều nguyên nhân như chiến tranh, tình trạng du canh
phá rừng làm nương rẫy. Trong những năm gần đây diện tích rừng đã không
ngừng tăng trở lại (năm 2006 dự báo độ che phủ của rừng khoảng 38 %,
trong khi đầu những năm 90 chỉ còn khoảng 27-28 %)
Tài nguyên rừng bị suy thoái do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu kể
đến các nguyên nhân tiêu biểu sau đóng vai trò chính của việc góp phần làm
suy thoái tài nguyên rừng Việt Nam.
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: Ngày nay với sự phát triển của nền
kinh tế kéo theo là nền công nghiệp hóa hiện đại hóa với nghiều khu công
nghiệp với nhu cầu về đất sử dụng cho mục đích dân sinh và công nghiệp
ngày càng tăng làm ảnh hưởng không nhỏ tới diện tích đất rừng… Chuyển
đổi mục đích sử dụng đất chính là sự mở rộng đất nông nghiệp, đất sản xuất,
là mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn sâu vào đất rừng, là
nguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy.
Đói nghèo: Đói nghèo luôn đi đôi với sự khan hiếm tài nguyên sản xuất
dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên quá mức làm tăng tình trạng khan
hiếm và suy thoái. Với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam là
một nước phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Đất nông nghiệp ở nhiều nơi
thiếu nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp
khoảng 50% gia đình thuộc vào diện đói nghèo. Vì nghèo, không có đất sản
xuất, không có vốn đầu tư, buộc họ phải tàn phá để rừng nuôi sống bản thân
và gia đình. Tuy hoạt động ấy mang tính nhỏ lẻ, manh múm, không ồ ạt
nhưng lại được lặp đi lặp lại trong một thời gian khá dài nên rất khó quản lý
và gây nên tình trạng cạn kiệt dần của tài nguyên rừng.
Suy thái tài nguyên rừng mang lại hậu quả nghiêm trọng cho chính con
người . Tác động điển hình của suy thoái tài nguyên rừng là biến đổi khí
hậu, gây lụt lội hạn hán xói mòn, sa mạc hóa đất . Rừng bị tàn phá tài
nguyên đất không được che phủ bị rửa trôi chất màu mỡ sau một thời gian sẽ
trở nên khô căn và hoang hoa. Mặt khác rừng đầu nguồn bị tàn phá làm tăng
nguy cơ lụt lội , các trận lũ ống lũ quét xảy ra nhiều hơn mức độ ngày càng
nghiệm trọng. Trận lụt lịch sử năm 2010 ở miền trung chính là điển hỉnh cho
hâu quả của việc phá rừng đầu nguồn.
Trước tình trạng như hiện nay thiết nghĩ chúng ta phải có những biện
thiết thực pháp khắc phục tình trạng suy thoái tài nguyên rừng. Không chỉ
riêng ở Việt Nam mà năm châu bốn bể, quốc gia nào cũng có chương trình
"Gia tăng, bảo vệ và duy trì rừng" hay "Chương trình lá phổi xanh", nhất là
khi tàn phá rừng bừa bãi đang diễn ra khắp nơi và trở thành vấn nạn.
Sau đây là một số giải pháp nhằm khắc phục tài nguyên
rừng:
- Thông qua nhiều hình thức, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục,
vận động nhân dân bảo vệ rừng và trong đội ngũ cán bộ công chức trong
tỉnh, đặc biệt là lực lượng đoàn viên thanh niên.
- Củng cố, duy trì thường xuyên hoạt động của các đoàn truy quét thực
gây cháy rừng.
- Thanh, kiểm tra giao khoán sử dụng rừng và đất rừng; rà soát, chấn
chỉnh lập lại trật tự trong sử dụng đất lâm nghiệp, nhất là việc sử dụng đất
lâm nghiệp sau thu hồi; chấn chỉnh công tác quản lý, lưu giữ, hồ sơ, thủ tục
trình tự giao khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng và có tác động trực tiếp đến tài nguyên
nước (TNN). Nước ta có đặc điểm địa lý kéo dài theo phương kinh tuyến,
địa hình bị chia cắt mạnh đã tác động trực tiếp tới sự ảnh hưởng của các chế
độ gió mùa, là nguyên nhân gây ra sự phân bố rất không đồng đều về TNN
theo thời gian và không gian. Hàng năm lượng nước tập trung trong 3-4
tháng mùa mưa chiếm tới 70-75%, chỉ riêng một tháng cao điểm trong mùa
mưa có thể chiếm tới 30%. Trong khi về mùa khô, lượng nước chỉ chiếm 25-
30%. Chính sự phân bố không đều này là nguyên nhân gây ra lũ, úng, lụt và
các đợt hạn hán nghiêm trọng. Thiên tai, lũ lụt, bão, úng ngập, hạn hán, chua
phèn, xâm nhập mặn thường xuyên là mối đe doạ đối với sản xuất và đời
sống dân cư nhiều vùng của nước ta. Do vậy, việc điều hoà phân phối nguồn
nước, khai thác mặt lợi của nước và giảm thiểu tác hại do nước gây ra cần
phải được quản lý thống nhất theo lưu vực sông (LVS).
Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề suy thoái TNN lưu vực sông diễn ra ngày
càng nghiêm trọng. Suy thoái TNN trên LVS được biểu hiện ơ sự suy giảm
sút về số lượng và đặc biệt là chất lượng. Trong những năm qua, sự tăng
nhanh về dân số và khai thác quá mức TNN, các tài nguyên đất và rừng đã
làm suy kiệt nguồn nước; việc phát triển đô thị và công nghiệp nhưng không
có biện pháp quản lý chặt chẽ và xử lý các chất thải lỏng, thải rắn theo yêu
cầu cũng đã làm ô nhiễm nguồn nước, cho nên suy thoái TNN đã trở thành
khá phổ biến đối với các LVS, vì vậy Việt Nam được quốc tế xếp vào loại
các quốc gia có TNN suy thoái.
Trước yêu cầu sử dụng nước còn tiếp tục gia tăng trong khi tài nguyên
nước ngày càng cạn kiệt và suy thoái, cần phân tích rõ các nguyên nhân, đặc
biệt là các nguyên nhân về quản lý để có các giải pháp ngăn chặn và giảm
nước khiến không có đủ nguồn nước ngọt để phục vụ cho sản xuất đời sống.
- Do những nguyên nhân về quản lý:
Về tổ chức: nguyên nhân khách quan là do còn gặp nhiều khó khăn về tổ
chức quản lý TNN, quản lý LVS ở cấp Bộ và tổ chức có hiệu lực ở cấp LVS
để quản lý TNN.
Về quy hoạch: trong thời gian vừa qua, Nhà nước đã đầu tư nhiều kinh phí
cho các Bộ, ngành làm quy hoạch. Nhưng do nội dung lập quy hoạch và sự
phối hợp giữa các ngành trên LVS chưa gắn bó, nên quy hoạch của các
ngành còn nặng về khai thác phục vụ riêng cho chuyên ngành của mình, do
vậy cần thiết cần có quy hoạch tổng hợp LVS trong đó có quy hoạch bảo vệ
TNN, quy hoạch thoát và xử lý nước thải, các chất thải rắn cho các đô thị,
khu công nghiệp, làng nghề thủ công làm cơ sở cho việc quản lý và đưa quy
hoạch bảo vệ này vào kế hoạch thực hiện hàng năm như là thực hiện quy
hoạch phát triển thuỷ lợi, thuỷ điện, cấp nước đô thị, công nghiệp….
* Giải pháp giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước trên lưu vực sông
Để bảo vệ và phát triển bền vững nguồn TNN, giảm thiểu khó khăn về suy
thoái TNN cho các LVS, trong đó Chiến lược TNN của mình, các quốc gia
đều coi trọng các biện pháp công trình và phi công trình.
Biện pháp công trình
Xây dựng các hồ chứa thượng lưu để điều tiết nguồn nước vận hành theo
quy trình hợp lý đồng thời xây dựng các công trình khai thác lấy nước mặt,
nước dưới đất ở trung lưu và hạ lưu các LVS nhằm đáp ứng cho các nhu cầu
sử dụng nước và duy trì dòng chảy môi trường; trong điều kiện cần thiết và
cho phép thì còn phải xây dựng các công trình chuyển nước lưu vực để giải
quyết cho những vùng khan hiếm nước mà các nguồn nước trong lưu vực
không đáp ứng được. Đến nay trên toàn thế giới, các hồ chứa có tổng dung
tích điều tiết được 6.000 tỷ m3, chiếm 14% tổng lượng dòng chảy. Ở Việt
Nam tổng dung tích điều tiết của hồ chứa đã và đang xây dựng cho đến nay
đạt gần 30 tỷ m3, chiếm 9% tổng lượng dòng chảy nội địa.
Phát triển các hệ thống thu gom và xử lý các loại chất thải. Đối với sông
vệ càng phải được coi trọng và cần được đầu tư thực hiện quy hoạch bảo vệ
với tỷ trọng thảo dáng so vơi tổng nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển. Việc
quản lý thực hiện quy hoạch tổng hợp LVS ngoài ngành chủ quản thì các
ngành khai thác sử dụng nước và các địa phương liên quan đều có nhiệm vụ
tham gia với tinh thần cộng tác vì mục tiêu phát triển bền vững.
Về các văn bản và chính sách:
Các Bộ, ngành chức năng cần nhanh chóng hoàn thiện các văn bản liên
quan đến quản lý của ngành mình. Riêng về chính sách phí ô nhiễm, cần có
lộ trình nâng dần càng sớm càng tốt để tạo nguồn kinh phí cho xử lý nước.
Về thuế TNN ở Việt Nam cũng cần đánh giá lại mức thu cho phù hợp.
Về sử dụng tiết kiệm nguồn TNN:
Đối với một số LVS gặp khó khăn về TNN: Cần xây dựng mục tiêu sử
dụng nước tiết kiệm trong tất cả các đối tượng sử dụng nước nông nghiệp,
công nghiệp, đô thị, dịch vụ…sao cho có hiệu quả hơn.
Đối với việc tiết kiệm nước trong nông nghiệp: Kinh nghiệm chỉ đạo của
Cục quản lý Tưới tiêu và Cấp nước nông thôn ở Trung Quốc cho thấy: trong
chương trình hoàn chỉnh và hiện đại hoá các hệ thống thuỷ nông ở Trung
Quốc đã tăng thêm được 6,67 triệu ha, được tưới và tiết kiệm hàng năm
được 20 tỷ m3 nước. Ở Việt Nam nếu thực hiện theo chương trình này thì có
thể sẽ nâng cao thêm được diện tích tưới tiêu và tiết kiệm được rất nhiều
nước.
Các ngành sử dụng nước khác nhau cũng cần có chương trình sử dụng
nước tiết kiệm. Riêng đối với thuỷ điện, cần có quy trình vận hành hợp lý để
vừa đảm bảo yêu cầu ngành điện và phục vụ các yêu cầu sử dụng nước ở hạ
lưu cũng như duy trì động thái của dòng chảy.
III - KẾT LUẬN
Trọng thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá như hiện nay. Nền kinh tế
đang có xu hướng toàn cầu hoá và phát triển hơn. Nhưng bên cạnh đó là
những tác động, ảnh hưởng không tốt đến tài nguyên thiên nhiên như sự suy
giảm các nguồn tài nguyên rừng, nước như em đã trình bày ở trên. Điều nãy