0ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
Nguyễn Thị Mai Phương NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
VĂN BẢN THÔNG CÁO BÁO CHÍ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2009
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 9
1.1. Vị trí của phong cách báo chí trong các phong cách chức năng 9
1.2. Các đặc điểm cơ bản của phong cách báo chí 13
1.3. Tiêu chí phân loại văn bản báo chí 14
1.4. Thông cáo báo chí 16
1.4.1. Các quan niệm về thông cáo báo chí 16
1.4.2. Đặc điểm của văn bản thông cáo báo chí 21
1.4.3. Phân loại thông cáo báo chí 25
1.5. Tiểu kết 25
Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU VĂN BẢN THÔNG CÁO BÁO CHÍ 27
2.1. Khảo sát các kiểu cấu trúc trong văn bản TCBC 27
2.1.1. Về dữ liệu khảo sát 27
2.1.2. Phân loại các kiểu cấu trúc trong văn bản TCBC 28
2.1.3. Kết quả khảo sát 33
2.1.4. Nhận xét 34
2.2. Khảo sát cấu trúc tiêu đề TCBC 49
2.2.1. Chức năng và tính chất của tiêu đề TCBC 49
2.2.2. Tư liệu khảo sát 51
2.2.3. Kết quả khảo sát 54
2.2.4. Nhận xét 55
2.3. Kết cấu văn bản TCBC 61
2.3.1. Khái niệm và phân loại kết cấu văn bản 61
2.3.2. Khuôn hình của văn bản TCBC 62
2.3.3. Các thành tố trong kết cấu văn bản TCBC 68
2.4. Tiểu kết 74
chúng, TCBC là phương tiện hữu hiệu, giúp các cơ quan, tổ chức công bố thông tin
trước công chúng một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Trong thực tế, TCBC đã
ngày càng trở thành một công cụ không thể thiếu cho các bộ, ngành, các cơ quan
nhà nước, các tổ chức và doanh nghiệp khi cần công bố các thông tin trên các
phương tiện truyền thông đại chúng.
1.2. Trong bối cảnh đó, TCBC trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khác nhau như Báo chí, Truyền thông Đại chúng, Quan hệ Công chúng,…
Hầu hết các công trình nghiên cứu về quan hệ công chúng hoặc truyền thông đều
nhắc đến TCBC như là “phương tiện cơ bản nhất để tiếp cận giới truyền thông”
[26], “là điểm mấu chốt trong hoạt động báo chí của chính phủ để nói về một câu
chuyện, thông báo một sự kiện và cung cấp những con số” [69]. Tuy nhiên, từ góc
độ ngôn ngữ học, chúng tôi chưa tìm thấy công trình nào chuyên sâu nghiên cứu
loại hình văn bản này. Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ văn bản thông cáo
báo chí” từ góc độ phong cách học là một hướng mới trong cách tiếp cận loại hình
văn bản này.
1.3. Chỉ trong quá trình hoạt động lời nói mới diễn ra sự lựa chọn có mục
đích đối với các phương tiện ngôn ngữ. Chính từ những cách lựa chọn khác nhau
đó đã dần hình thành nên những phong cách khác nhau. Đến lượt mình, phong cách
lại có tác dụng chi phối việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ. “Phong cách chức
năng chính là những khuôn mẫu trong hoạt động lời nói hình thành từ những thói
quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống, tính chất chuẩn mực, trong việc
xây dựng các lớp văn bản tiêu biểu” [23; 306]. Với đề tài này, chúng tôi đã khảo sát 6từ thực tế các văn bản thông cáo báo chí bằng tiếng Việt, từ đó cố gắng đi tìm một
khuôn mẫu có tính chất chuẩn mực đối với thể loại văn bản còn rất mới mẻ này.
giai đoạn bắt đầu hình thành thể loại TCBC tại Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là: phương pháp
phân tích phong cách học, phương pháp miêu tả. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng
phương pháp so sánh và phương pháp thống kê.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1 - Những vấn đề lý luận chung
Trong chương 1, chúng tôi sẽ tìm hiểu các vấn đề lý luận cơ bản tạo cơ sở và
khung lý thuyết cho sự phân tích ở các chương tiếp theo. Đó là việc xác định vị trí
của phong cách báo chí trong hệ thống các phong cách chức năng, đặc điểm cơ bản
của phong cách báo chí, tìm hiểu khái niệm về thông cáo báo chí và các đặc điểm
chung của văn bản này.
Chương 2 - Đặc điểm kết cấu văn bản TCBC
Trong chương 2, chúng tôi sẽ khảo sát và miêu tả đặc điểm cấu trúc của văn
bản TCBC, đặc điểm của tiêu đề TCBC và tìm hiểu kết cấu của văn bản TCBC có
tính chất phổ dụng.
Chương 3 - Đặc điểm về cách sử dụng ngôn ngữ của văn bản TCBC
Ở chương 3, chúng tôi tập trung khảo sát và miêu tả các đặc trưng trong cách
sử dụng ngôn ngữ của văn bản TCBC. Ngoài ra, chúng tôi tìm hiểu sự thay đổi của
các yếu tố ngôn ngữ trong quá trình chuyển hóa một văn bản TCBC sang một tác
phẩm báo chí.
Sau cùng là Tài liệu tham khảo.
8
những nhà phong cách học dưới đây.
Trong “Phong cách học Tiếng Việt hiện đại”, PGS. TS. Hữu Đạt khẳng định:
“Mỗi phát ngôn đều phải gắn với một phong cách chức năng nhất định. Trên thực
tế, không có lời nói nào lại nằm ngoài các phong cách chức năng vì nếu nằm ngoài
các phong cách chức năng, lời nói đó không có giá trị giao tiếp hay còn gọi là
không có mục đích và định hướng giao tiếp cụ thể [16; 65].
Có ba cơ sở để tiến hành việc phân chia các phong cách chức năng, đó là:
- Dựa trên chức năng giao tiếp
- Dựa trên hình thức thể hiện
- Dựa vào phạm vi giao tiếp
Từ đó, chúng ta có phương pháp phân chia các phong cách chức năng theo
quan điểm về hoạt động giao tiếp. Muốn phân tích đặc điểm ngôn ngữ của mỗi lời 10nói ra xem nó thuộc phong cách chức năng nào thì cần phải đặt lời nói ấy trong
những quan hệ và hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Quy trình giao tiếp được mô tả
như sau [16;65]:
Hướng giao tiếp
Người nói A > Người nghe B
Lời nói ra
Viết < Đọc
Hướng phản hồi
Tác giả của công trình [16] cũng đã nêu rõ quy trình giao tiếp khép kín và
phân tích mối quan hệ giữa người nói/viết A và người nghe/đọc B có tác động như
thế nào đến giao tiếp. Theo đó:
- Nếu A và B có quan hệ ngang bằng, không bị ràng buộc bởi địa vị xã hội
Một quan điểm phổ biến khác về việc phân chia các phong cách chức năng
thường được trích dẫn là quan điểm của Morohovski (1984) với bảng phân loại như
sau [3;89]:
Bảng 2: Phân loại phong cách chức năng theo quan điểm của Morohovski 12
(Dẫn theo “Văn bản và liên kết trong tiếng việt” [3;89])
Ưu điểm của bảng phân loại này là sự phân chia tương đối tỉ mỉ và bao quát
được hầu hết các kiểu loại và thể loại văn bản. Tuy nhiên, tính ứng dụng của lối
tiếp cận này không cao do bản chất phức tạp, nhiều tầng nấc, ngóc ngách của nó.
Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận đơn giản và hiệu quả hơn: đó là cách
tiếp cận của tác giả Hữu Đạt như đã nêu ở trên. 13Như vậy, trong ngôn ngữ, thuộc về bình diện lời nói, chúng ta có các kiểu
văn bản, các thể loại văn bản và các phong cách của văn bản riêng lẻ. Nếu các kiểu
văn bản phân biệt trên cơ sở khác biệt về nội dung sự vật – logic (như văn bản hành
chính, văn bản văn học nghệ thuật, văn bản báo chí) thì các thể loại văn bản lại
được chia ra dựa trên sự khác biệt về kết cấu, về tu từ (như kiểu văn bản báo chí có
các thể loại tin, phóng sự, tường thuật…).
1.2. Các đặc điểm cơ bản của phong cách báo chí
Trong “Phong cách học Tiếng Việt hiện đại”, tác giả Hữu Đạt khẳng định
khái niệm “phong cách ngôn ngữ truyền thông đại chúng” của tác giả Nguyễn Đức
Dân [12] cũng trùng với khái niệm “phong cách báo chí” như các tác giả Diệp
Quang Ban [3], Hữu Đạt [16].
1.3. Tiêu chí phân loại văn bản báo chí
Vấn đề phân loại văn bản báo chí hay còn gọi là phân chia thể loại báo chí
hiện còn nhiều tranh luận. “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa thể loại là “khuôn khổ,
lối viết và hình thức viết” [41].
Trong chương I “Những quy định chung”, điều 1 “Giải thích từ ngữ” của
Nghị định 51/2002/NĐCP ban hành ngày 26/04/2002 nói “tác phẩm báo chí là tên
gọi chung cho tất cả các thể loại tin, bài, ảnh… đã được đăng, phát trên báo chí”
[4].
Ở công trình “Các thể loại báo chí thông tấn”, tác giả Đinh Văn Hường cho
rằng: “Thể loại là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của
các tác phẩm, được phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn
ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung sự kiện, vấn đề, con người mang
tính tư tưởng, thẩm mỹ và ý đồ nhất định của người thể hiện…” [31;11].
Từ những ý kiến trên, chúng tôi cho rằng “thể loại báo chí” là khái niệm
dùng để chỉ hình thức biểu hiện có tính đặc trưng của tác phẩm báo chí. Đó là các 15thể loại xã luận, bình luận, phỏng vấn, ghi nhanh, tường thuật, tin, phóng sự, điều
tra… được sử dụng phổ biến, rộng rãi trên các loại hình báo chí hiện nay”.
Tác giả Đinh Văn Hường [31] đưa ra năm tiêu chí chung để nhận diện thể
loại báo chí như sau:
Thứ nhất là khả năng nắm bắt hiện thực đời sống xã hội (chọn sự kiện, vấn
đề, nhân vật nào… để phản ánh, hay nói cách khác phản ánh cái gì trong thời điểm
đó).
ảnh, cảm xúc, thái độ,…) để thể hiện tác phẩm sinh động, sâu sắc, mềm mại và hấp
dẫn đối với công chúng. Thông tin sự kiện, lý lẽ và thẩm mỹ là tính trội của nhóm
thể loại này.
Tất nhiên, kết quả phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối. Xu hướng
chung của thể loại báo chí hiện nay là sự đan xen, hòa quyện và chuyển hóa giữa
các nhóm và các thể loại. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra có mức độ, do vậy
không làm mất đi hoặc thay đổi bản chất của từng thể loại.
Việc xem xét đặc điểm phong cách chức năng báo chí và phân loại thể loại
báo chí chính là cơ sở để chúng tôi xem xét sự tương quan giữa phong cách văn
bản thông cáo báo chí với phong cách của từng thể loại của báo chí.
1.4. Thông cáo báo chí
1.4.1. Các quan niệm về thông cáo báo chí
Thông cáo báo chí (thuật ngữ tiếng Anh là News Release/ Media Release/
Press Release/ Press Statement) là một khái niệm mới, gắn với lĩnh vực truyền
thông, được hình thành ở Việt Nam trong một vài năm gần đây. Do sự mới mẻ của
nó, “thông cáo báo chí” chưa có tên trong các cuốn sách tiếng Việt nghiên cứu về
thuật ngữ chuyên ngành báo chí, truyền thông.
Công trình “Thuật ngữ Báo chí – Truyền thông” của tác giả Phạm Thành
Hưng [30] có nhắc đến một số khái niệm có liên quan như “bản tin thông báo”,
“người phát ngôn”, “quan hệ công chúng”,… nhưng không đề cập đến thuật ngữ
này. Chúng tôi cũng không tìm thấy một thuật ngữ khác tương đương để chỉ đối
tượng là “các văn bản được gửi đến các cơ quan truyền thông nhằm mục đích công
bố một thông tin nào đó” ở cuốn sách này. 17Hiện nay, có hai cách hiểu phổ biến về thông cáo báo chí:
Cách hiểu hẹp: Cho rằng chỉ các cơ quan nhà nước, các tổ chức quốc tế mới
Relations) mới có định nghĩa về TCBC [25] [32]. Điều này chứng tỏ thể loại văn
bản này chưa được chú ý đúng mức.
Các định nghĩa về TCBC thể hiện các quan điểm của từng tác giả, trường
phái đối với loại hình văn bản này.
Định nghĩa trên Từ điển Wordnet của Đại học Princeton (Mỹ) nhấn mạnh
tính văn bản hóa của TCBC: “Thông cáo báo chí là thông báo gửi tới báo chí nhằm
bổ sung hoặc thay thế ngôn ngữ nói” [55].
Định nghĩa của trang dictionary.com đề cập đến tính chính thống của chủ
thể: “Thông cáo báo chí là thông báo do cơ quan như chính phủ hoặc tổ chức PR
(quan hệ công chúng) soạn thảo và gửi đến báo chí” [56].
Nhấn mạnh tính thời sự của TCBC, TS. Đinh Thị Thúy Hằng trong cuốn
“PR – Lý luận và ứng dụng” định nghĩa: “Thông cáo báo chí là một trong những
công cụ thiết yếu để thu hút báo chí đưa tin nhằm thông tin chính sách, sáng kiến
hay hoạt động của ngành đến với công chúng. Thông cáo báo chí thường được gắn
với các sự kiện hoặc vấn đề hiện tại.” [25; 253]
Từ góc độ doanh nghiệp, Tash Hughes, nhà truyền thông có tiếng của
Australia, nêu: “TCBC giống như một bài báo ngắn được gửi đến các cơ quan báo
chí nhằm gây sự chú ý” [57]. Theo Hughes, nếu mọi việc diễn ra thuận lợi thì toà
soạn báo sẽ đăng tải một bài báo về nội dung được nêu trong TCBC đó. Như vậy
định nghĩa của Tash Hughes tập trung vào phần “ích lợi”, tức là mục đích của
TCBC. Chính vì vậy bà khuyên người viết TCBC (mà theo bà nên là nhân viên PR
của công ty) cố gắng tạo những điểm thu hút rộng rãi dư luận quan tâm, có như vậy
báo chí mới hào hứng đăng tải và công ty cũng đạt mục đích về truyền thông.
Marguerite H. Sullivan, tác giả của “Một văn phòng báo chí có trách nhiệm”
nêu định nghĩa tương đối toàn diện: “Thông cáo báo chí là bản tóm tắt những sự
thật về một chương trình hay một vấn đề mà bạn muốn giới truyền thông quan tâm.
Chúng được viết theo một mẫu chuẩn. Tiêu chí chính của một thông cáo báo chí là
nó phải chứa tin” [69]. Định nghĩa của Sullivan đề cập đến một đặc điểm cốt tử của
của báo chí”, ở Điều 7 “Cung cấp thông tin cho báo chí” quy định: “Trong phạm vi 20quyền hạn, nhiệm vụ của mình, các tổ chức có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông
tin cho báo chí, giúp cho báo chí thông tin chính xác, kịp thời và chịu trách nhiệm
trước pháp luật về nội dung thông tin.” Như vậy, chủ thể phát có thể là các cơ quan
chính phủ, các tổ chức nước ngoài hoặc là các doanh nghiệp.
Một số ví dụ:
- TCBC của các cơ quan nhà nước Việt Nam:
+ “Hội thảo nâng cao năng lực quản lý trang thiết bị y tế” – TCBC của Bộ Y
tế ngày 30/7/2007.
+ Lễ công bố “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2005” – TCBC
của Bộ Tài nguyên Môi trường ngày 16/12/2005.
- TCBC của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam:
+ “Chính phủ Việt Nam và Ủy ban châu Âu ký kết dự án hỗ trợ kỹ thuật liên
quan tới thương mại trị giá 10 triệu euro” - TCBC của Ủy ban Châu Âu
ngày 17/6/2008.
+ “Đại sứ quán Đan Mạch phát động cuộc thi sáng tác âm nhạc thể nghiệm
2006” – TCBC của Đại sứ quán Đan Mạch ngày 4/10/2006
- TCBC của các doanh nghiệp tại Việt Nam:
+ “Lễ ra mắt tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt” – TCBC của Tập
đoàn Bảo Việt ngày 23/1/2008.
+ “VNPT và các đối tác thành lập mạng thanh toán điện tử VNPT EPAY –
TCBC của công ty VNPT ngày 4/4/2008.
- Về chủ thể nhận: TCBC phải được gửi đến các cơ quan truyền thông hợp
pháp, được cấp phép và giấy phép hoạt động còn có giá trị.
Thông thường, các tổ chức phát hành TCBC sẽ dựa trên tính chất thông tin
Ngoài ra, để bảo đảm tính thời sự của TCBC ngày nay các hãng tin đã áp dụng các
công nghệ như đồng bộ hoá (synchronization) để chuyển phát thông tin đồng thời
tới nhiều đối tượng tiếp nhận; RSS (really simple syndication) để cung cấp dịch vụ
đặt thông tin dài hạn một cách đơn giản, tự động và nhiều khi là miễn phí cũng như
nhiều công nghệ tích hợp, truyền thông khác. 22TCBC phát hành đúng thời điểm sẽ phát huy hiệu quả, tránh các biến cố,
khủng hoảng do việc thông tin chậm trễ gây nên. Chính vì đặc trưng này, yếu tố
thời gian trong một văn bản TCBC, đặc biệt là dạng TCBC công bố sự kiện, đều
đóng vai trò quan trọng hàng đầu, quyết định việc thông tin trên TCBC có được sử
dụng hay không. Nếu các thông tin đó đã lỗi thời, tòa soạn sẽ không sử dụng hay
đăng tải trên báo chí. Chính vì lý do này, hiện nay báo viết tiếp tục chịu sự cạnh
tranh quyết liệt từ các hình thức báo khác như báo mạng, báo nghe, báo hình, là các
phương tiện thông tin có để cung cấp thông tin cùng với thời gian thực (real time).
1.4.2.2. Tính nhất quán và chính thống
TCBC được phát hành nhằm đảm bảo tính nhất quán và chính thống của
thông tin.
Tính nhất quán và chính thống của thông tin là yếu tố rất quan trọng, phản
ánh quan điểm “trước sau như một” của tổ chức trước một vấn đề, sự kiện. Đối với
các tổ chức chính phủ, việc phát hành thông cáo báo chí là một hình thức của các
công tác vận động và tuyên truyền, đảm bảo tính nhất quán của thông tin từ các cơ
quan chính phủ đến người dân. Đối với các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam, hoạt
động này sẽ giúp truyền thông một cách hiệu quả về hoạt động của tổ chức, công
bố các kết quả nghiên cứu cũng như các thông tin về tổ chức đến một số đối tượng.
TCBC được chịu trách nhiệm bởi người/nhóm người có tiếng nói đại diện cho quan
điểm của tổ chức đó.
Khi xảy ra việc đưa tin thiếu chính xác, tổ chức phát hành TCBC cần có
hành động đính chính ngay để tránh sự hiểu nhầm của báo chí và dư luận. Ngày
08/11/2008, ông Vibeke ENSEN - Trưởng Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã
gửi thư cho Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân để xin lỗi vì sự nhầm lẫn của
UNESCO khi đăng tải số liệu về học sinh bỏ học ở Việt Nam trong TCBC ngày
3/11/2008. UNESCO cũng đã gửi thông tin đính chính đến các tòa soạn báo và tin
về việc đính chính sau đó đã được đăng tải trên hầu hết các tờ báo lớn nhất Việt
Nam.
1.4.2.4. Tính quan trọng và hấp dẫn 24 Khác với các đòi hỏi về hình thức, tính quan trọng, hấp dẫn ở TCBC được
quyết định bởi chính bản thân sự kiện chứ không phải vì những bình luận của
người viết TCBC. Những “trường phái” chính thống về TCBC thường không lạm
dụng phần bình luận của người viết (thường thì khối doanh nghiệp mới có xu
hướng “đánh bóng” TCBC). Thông tin gây chú ý bởi tính chất quan trọng, thiết
thân của nó đối với người đọc. Đôi lúc tính chất bất ngờ cũng đem lại tầm quan
trọng và hấp dẫn cho TCBC.
TCBC chỉ ra đời khi có thông tin quan trọng liên quan đến một sự kiện nào
đó mà tổ chức nhận thấy cần phải công bố trước công chúng thông qua các phương
tiện truyền thông. Dĩ nhiên, không phải sự kiện nào cũng có thể hay cần phải phát
hành TCBC. Thông thường, mức độ quan trọng của thông tin trong TCBC được
đánh giá bởi:
i) Sự quan tâm của cơ quan truyền thông/công chúng đối với các thông
tin này;
ii) Mức độ tác động, tầm ảnh hưởng của thông tin này đối với công
chúng.
quốc, tổ chức thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế, các đại sứ quán tại Việt
Nam, ); TTBC của các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Dĩ nhiên, còn những cách phân loại khác như theo ngôn ngữ, thời gian, khu
vực địa lý… tùy vào mục đích nghiên cứu. Trong luận văn này, để tiện cho việc
phân tích ở các phần sau và trên cơ sở dữ liệu đã có, chúng tôi lựa chọn cách phân
loại theo chủ thể.
1.5. Nhận xét
1.5.1. Như chúng tôi đã khẳng định, những cách lựa chọn ngôn ngữ khác
nhau đã tạo ra những phong cách khác nhau. Đến lượt chính các phong cách lại chi
phối việc lựa chọn ngôn ngữ. Chính vì vậy, các luận điểm về phong cách chức năng
nói chung và phong cách báo chí nói riêng có tác dụng trực tiếp nhất đối với đối
tượng nghiên cứu, bởi vì: i) Thông cáo báo chí là một thể loại của phong cách báo