i
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN......................................................................................
MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ.........................................v
MỞ ĐẦU....................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài..................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề.....................................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................10
4. Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu của luận án.............................11
5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................12
6. Đóng góp mới của luận án................................................................13
7. Cấu trúc của luận án..........................................................................13
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI...........................................................................................................14
1.1. Lí thuyết về hội thoại.....................................................................14
1.1.1. Khái niệm hội thoại.................................................................................14
1.1.2. Vận động hội thoại..................................................................................15
1.1.3. Các dạng thức hội thoại..........................................................................19
1.1.4. Ngôn ngữ hội thoại.................................................................................24
1.2. Tác phẩm văn học, nhân vật văn học.............................................25
1.2.1. Tác phẩm văn học...................................................................................25
1.2.2. Nhân vật văn học....................................................................................26
1.3. Giới thiệu tác giả và tác phẩm Chu Lai..........................................32
1.3.1. Nhà văn Chu Lai.....................................................................................32
1.3.2. Các tác phẩm của Chu Lai......................................................................33
1.3.3. Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai...................................37
1.4. Ngôn ngữ nhân vật và từ ngữ lời thoại nhân vật trong tác phẩm
THUYẾT CHU LAI QUA TỪ THÔNG TỤC, QUÁN NGỮ VÀ
THÀNH NGỮ.........................................................................................97
3.1. Từ thông tục...................................................................................97
3.1.1. Khái niệm................................................................................................97
3.1.2. Từ thông tục trong lời thoại nhân vật......................................................98
3.1.3. Vai trò của từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu
Lai.........................................................................................................125
iii
3.1.4. Một vài so sánh bước đầu từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của
tiểu thuyết Chu Lai với từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của một
số nhà văn khác.....................................................................................128
3.2. Hệ thống quán ngữ trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu
Lai.......................................................................................................131
3.2.1. Vài nét về quán ngữ..............................................................................131
3.2.2. Vai trò của quán ngữ qua các lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của
Chu Lai..................................................................................................131
3.3. Các loại thành ngữ trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu
Lai.......................................................................................................133
3.3.1. Vài nét về thành ngữ tiếng Việt............................................................133
3.3.2. Vai trò của việc sử dụng các thành ngữ qua lời thoại nhân vật trong
tiểu thuyết Chu Lai................................................................................134
3.4. Tiểu kết.........................................................................................140
KẾT LUẬN...........................................................................................141
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN.....................................................................................144
sang một hướng tiếp cận mới là tìm hiểu sự hành chức của ngôn ngữ trong cuộc sống và
cuộc sống trong ngôn ngữ. Vì vậy, việc khảo sát tìm hiểu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
là một cách tiếp cận phù hợp với xu hướng nghiên cứu mới cả về phương diện lí luận
chung (đặc điểm, vai trò, cơ chế hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, giao
tiếp nghệ thuật nói riêng) và phương diện cụ thể (đặc điểm, vai trò, các quy tắc hoạt động
của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học).
1.2. Các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, trong đó có thể loại tiểu
thuyết, đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên bản sắc, diện mạo riêng cho thời kỳ văn
học sau chiến tranh. Sự đổi mới về đề tài, cách miêu tả hiện thực, quan niệm nghệ thuật về
con người, đặc biệt là phong cách ngôn từ thể hiện rất rõ trong các tác phẩm văn học thời
kì này. Trong số các nhà văn có nhiều tác phẩm thành công, tạo ra phong cách, giọng điệu
riêng, người đầu tiên và tiêu biểu nhất phải kể đến là nhà văn Chu Lai. Các tác phẩm của
nhà văn đã phản ánh được nhiều vấn đề nóng bỏng hiện nay về hiện thực xã hội; các nhân
vật trong tác phẩm của Chu Lai được mô tả là người lính vừa mang cốt cách anh hùng trận
mạc (thời chiến) vừa mang đặc điểm của con người sống trong nhiều áp lực, thử thách của
quãng đời phía sau chiến trận (thời bình). Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Chu Lai, đặc biệt là
ngôn ngữ nhân vật, có nhiều đặc thù đáng được quan tâm “có những trang hấp dẫn, người
đọc đã cầm đến sách là phải theo đuổi câu chuyện đến cùng...” [34, tr.9]. “Dấu vết thời đại
đã ảnh hưởng và quy định cách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới được hình thành, quan
niệm về lời nói cũng được bổ sung những sắc thái biểu cảm mới. Ngôn ngữ tiểu thuyết gần
với ngôn ngữ đời thường, giàu tính khẩu ngữ. Ngôn ngữ trong các tiểu thuyết biểu hiện sự
2
cá tính hoá mạnh mẽ, tính cách nào, lời lẽ ấy. Cách nói trần trụi dân dã, thẳng thắn, bạo
dạn” [34, tr.16] của các nhân vật là những điểm nổi trội trong tác phẩm của Chu Lai.
Vì vậy, ở phương diện ngôn ngữ, tiểu thuyết Chu Lai có thể gợi mở nhiều vấn đề
mà ngôn ngữ học đang quan tâm, nhất là ở khía cạnh sự hành chức của ngôn ngữ trong
giao tiếp nghệ thuật, như: đặc điểm, vai trò của từ ngữ trong tổ chức lời thoại; sự hành
chức của ngôn từ thể hiện trong ngôn ngữ nhân vật; ngôn ngữ đã thực hiện chức năng phản
thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ. Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích
thực của cuộc sống của ngôn ngữ. Toàn bộ cuộc sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vực
nào sử dụng nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật v.v...) đều thấm nhuần những quan
hệ đối thoại...” [2, tr.172). Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại nói chung, ngôn ngữ nhân vật
nói riêng “không thể tách nó ra khỏi lĩnh vực lời nói, tức khỏi ngôn ngữ với tư cách là một
hiện tượng toàn vẹn cụ thể” [2, tr.172].
Tiếp thu và phát triển quan điểm và kết quả của ngôn ngữ học thế giới, các nhà
ngôn ngữ học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực ngữ dụng học, ngôn
ngữ học xã hội, ngôn ngữ học văn bản đề cập đến sự hành chức của ngôn ngữ trong giao
tiếp [thể hiện trong các tài liệu: 6, 20, 23, 47, 54, 70, 93, 105]. Riêng về vấn đề ngôn ngữ
hội thoại, ngôn ngữ nhân vật, các hành động ngôn ngữ, đã có nhiều công trình nghiên cứu
ở các quy mô khác nhau (chuyên luận, giáo trình, luận án, luận văn, bài báo) đề cập đến ở
những mức độ khác nhau (từ những vấn đề lí luận, các nguyên lí, khái niệm đến thống kê,
miêu tả, phân tích các đặc trưng, cách thức hoạt động của các đơn vị trong hoạt động giao
tiếp cụ thể từ tiếng Việt).
Trong các công trình trên, các tác giả đã nêu lí thuyết hội thoại, nhận xét đánh giá
về đặc điểm của hội thoại, các phương diện của hội thoại. Bàn về hội thoại và vai trò của
nó trong nghiên cứu, Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh:“Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản,
thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ. Các hình thức hành chức khác của
ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hoạt động căn bản này... Vấn đề phải nghiên cứu sự
hành chức của những cặp trả lời như cặp hỏi/trả lời theo một quan điểm hội thoại, tức trong
sự đối đáp của các nhân vật giao tiếp trong một hoàn cảnh nhất định ” [20, tr.276, 267].
Nhiều công trình bàn về các lĩnh vực của hội thoại, như: Về ngữ nghĩa của lời (Hoàng Phê,
1981); Phân tích các nhân tố trong hội thoại (Nguyễn Thiện Giáp, 1999), Ngữ nghĩa lời hội
thoại (Đỗ Thị Kim Liên, 1999), v.v... Một số công trình bàn sâu về hội thoại, miêu tả, phân
tích các nhân tố của hội thoại, vai trò chức năng của các lời thoại trong giao tiếp ngôn ngữ
ở các ngữ cảnh. Trong đó có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ hội
thoại trong các ngữ cảnh giao tiếp. Chẳng hạn, phân tích về vai trò của từ trong hoạt động
giao tiếp (Bùi Minh Toán, 1999); bàn về vai xã hội và ứng xử trong giao tiếp (Nguyễn Như
Ý, 1990); phân tích đặc điểm của khẩu ngữ tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng giao tiếp
giao tiếp, Phân tích hội thoại của Nguyễn Thiện Giáp (1999)... Sự phát triển này cho thấy
mảnh đất hội thoại ngày càng màu mỡ được nhiều nhà nghiên cứu khám phá. Trong các
văn bản văn học nhất là thể loại tự sự, hội thoại góp phần thể hiện phẩm chất nhân vật, tình
cảm và tư tưởng của nhà văn tác động đến bạn đọc sâu sắc.
5
Nhiều bài viết, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng đã tìm hiểu các phương diện
khác nhau liên quan đến ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học. Chẳng hạn, Ngôn ngữ
tác giả trong truyện Nguyễn Tuân (Đặng Lưu, 2006), Khảo sát ngôn ngữ hội thoại của
nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Lê Thị Trang, 2002); Hội thoại trong
truyện ngắn Nam Cao (Mai Thị Hảo Yến, 2006); Lời độc thoại nội tâm nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ (Lê Thị Sao
Chi, 2010), v.v...
Qua những công trình đã kể một cách rất khái quát và có tính đại diện trên, phần
nào ta có thể hình dung được vấn đề ngôn ngữ trong giao tiếp, hội thoại, ngôn ngữ tác giả,
ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm... đã được nêu ra và bàn luận về mặt lí thuyết và phân
tích miêu tả về mặt thực tiễn từ nhiều góc độ và thu được nhiều kết quả rất có ý nghĩa, làm
cơ sở cho những hướng nghiên cứu đầy triển vọng về sự hành chức của ngôn ngữ trong
giao tiếp xã hội.
2.3. Những công trình viết về tác phẩm của Chu Lai từ góc độ văn học và ngôn ngữ
học
2.3.1. Nghiên cứu tác phẩm của Chu Lai từ góc độ phê bình văn học
Khi nghiên cứu, đánh giá về tác phẩm Chu Lai, nhìn chung, các nhà nghiên cứu phê
bình khẳng định thành công của Chu Lai là ở đề tài chiến tranh với hình tượng trung tâm là
người lính. Chiến tranh và người lính trong sáng tác của Chu Lai được phản ánh dưới
nhiều góc độ khác nhau chủ yếu bằng cái nhìn sử thi và thế sự. Điều đáng chú ý là cách
xây dựng nhân vật trong sáng tác của Chu Lai được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bùi
Việt Thắng viết: “Nhân vật Chu Lai được thể hiện như những con người tâm linh. Họ sống
bởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc bởi sự sám hối, luôn tìm kiếm sự giải thoát. Đó là
thuật xây dựng nhân vật, cách tạo tình huống, những xung đột, đặc biệt là cách nhìn khá
mạnh dạn của Chu Lai, “có những trang hấp dẫn, người đọc đã cầm đến sách là phải theo
đuổi câu chuyện đến cùng” [33, tr.9].
Xuân Trường nhận xét về nghệ thuật và ngôn ngữ trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng
qua Một vài cảm nhận sau khi đọc “Ăn mày dĩ vãng”, báo Văn nghệ số 26/1993: “Có thể
gọi tác phẩm này đầy chất lính, giọng văn băm bổ, sôi động, các thứ tình cảm, suy tư đều
đẩy đến tận cùng. Cốt truyện có pha chút ly kỳ bí hiểm kiểu kiếm hiệp, đọc rất cuốn hút.
Có những chương, những đoạn anh viết về chiến tranh hết sức sinh động, nếu không là
người trong cuộc, không dựng lại được không khí một địa bàn chiến đấu khá đặc biệt này...
Ăn mày dĩ vãng còn có chỗ chưa hoàn mỹ. Chính cái giọng văn băm bổ sôi động ấy, chính
cái cách đẩy tình cảm, tư duy đến tận cùng ấy tạo ra mặt trái khác bởi tính thái quá. Đấy là
sự cường điệu trong xử lý tình tiết, sự lộng ngôn trong câu văn. Và cũng vì say sưa với cốt
truyện, tác giả đã thiếu chặt chẽ trong lý giải tính cách nhân vật của mình. Từ bỏ quá khứ
với một người đàn bà dũng cảm, trung hậu như Ba Sương, quả thật không phải là điều quá
7
dễ dàng. Dù sao đây cũng là cuốn tiểu thuyết sáng giá về chiến tranh và người lính; với
tầm tư tưởng đúng đắn, trong sáng rất đáng trân trọng, khích lệ” [tr.34].
Chu Bích Thu trong bài viết Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ sau
đổi mới đề cập đến một khía cạnh của thi pháp và ngôn ngữ trong tiểu thuyết sau 1975 và
trong tiểu thuyết Chu Lai: “Nhiều tiểu thuyết sau những năm đổi mới đến nay đã sử dụng
mô típ giấc mơ, giấc mơ chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế
giới vô thức của con người. Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết Thân phận của
tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)” [tr.590]. Tác giả đã lưu ý đến một đặc
điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết sau năm 1975: “Dấu vết thời đại đã ảnh hưởng và quy định
cách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới được hình thành, quan niệm về lời nói cũng được
bổ sung những sắc thái biểu cảm mới. Ngôn ngữ tiểu thuyết gần với ngôn ngữ đời thường,
giàu khẩu ngữ (...). Ngôn ngữ trong các tiểu thuyết biểu hiện sự cá tính hoá mạnh mẽ, tính
cách nào, lời lẽ ấy. Cách nói trần trụi dân dã của người lính (Ăn mày dĩ vãng), cách nói
được tiếp tục tìm hiểu, nhất là từ góc độ ngôn ngữ học. Các kết quả của người đi trước là
những gợi ý, nguồn ngữ liệu quan trọng giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đặc
điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Đề tài nhằm làm sáng tỏ một số đặc điểm và vai trò nổi bật của ngôn ngữ nhân vật
từ phương diện từ ngữ trong tiểu thuyết Chu Lai.
- Qua những kết quả phân tích và tổng hợp, đề tài nhằm làm rõ đặc điểm ngôn ngữ
nhân vật và phong cách ngôn ngữ của tác phẩm văn học thể hiện trong tiểu thuyết Chu Lai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định là:
- Tổng hợp những vấn đề lý luận chung liên quan đến đề tài, như: lý thuyết hội
thoại, nhân vật và ngôn ngữ nhân vật, vai trò của từ ngữ trong tác phẩm, tác giả và tác
phẩm và các vấn đề liên quan khác.
- Khảo sát, thống kê nguồn ngữ liệu liên quan đến ngôn ngữ hội thoại, các lời thoại
trong tiểu thuyết của Chu Lai.
- Miêu tả, phân tích, nêu vai trò của các lớp từ ngữ tiêu biểu trong việc thể hiện đặc
điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai.
- Tổng hợp, rút ra những đặc điểm nổi trội về sự hành chức của các lớp từ ngữ
trong các lời thoại nhân vật và đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong các tác phẩm khảo sát, từ
đó góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ của nhà văn Chu Lai.
4. Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu của luận án
4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
Đối tượng nghiên cứu của luận án là khảo sát, làm rõ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật
trong tiểu thuyết Chu Lai, nhưng ngôn ngữ nhân vật – xét từ quan điểm tiếp cận của ngôn
ngữ học - là một phạm trù rộng, có nhiều phương diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn
bản) và được xem xét từ nhiều góc độ (cấu trúc, ngữ nghĩa, phong cách, ngữ dụng). Trong
10
5.3. Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả dùng trong luận án liên quan đến các trường hợp cần làm nổi
bật các đặc điểm nào đó trong luận án (chẳng hạn: các lớp từ ngữ trong lời thoại nhân vật,
hệ thống từ xưng hô, từ thông tục, v.v...). Các kết quả của phương pháp miêu tả trong luận
án là cơ sở để phân tích, tổng hợp, đưa ra các kết luận về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật
trong tiểu thuyết của Chu Lai.
6. Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu
thuyết Chu Lai ở bình diện từ ngữ từ góc độ ngữ dụng. Công trình đã vận dụng những kiến
thức cơ bản của ngữ dụng học để khảo sát, phân tích về ngôn ngữ hội thoại, qua đó nhằm
làm rõ sự hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội nói chung, giao tiếp nghệ thuật
nói riêng; đồng thời góp phần làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật và phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận án được trình
bày trong ba chương:
Chương 1:
Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2:
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua từ ngữ
xưng hô
Chương 3:
Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua từ thông
tục, quán ngữ, thành ngữ.
Vết thương của mình không lo, cái sống của mình không lo, lại cứ lo cho tiểu đoàn anh
Tám bên kia sông. Chờ nghen! Em sẽ quay lại ngay...
- Anh Hùng... Em không nghe nữa đâu - Cô gái vội lấy tay bịt tai lại.
... Sương cúi đầu xuống một giây rồi ngẩng lên, nét mặt lạnh cứng:
12
- Dám!
- Đồng chí y tá! - Hùng cũng sắt mặt - Đây là lệnh, đồng chí không được can thiệp
vào. Anh em đâu? Thằng Khiển, thằng Vượng đâu? Cả thằng Tuấn khốn nạn kia nữa, mày
ngồi chết giẫm ở đó à? Mang nó ra hố pháo chôn ngay!
- Không! Sương thét - Không được chôn sống người ta như thế!
- Lôi con người lắm điều này đi! - Hùng chỉ tay ra cửa rừng.
Chát!... Cả khuôn mặt râu ria của Hùng hơi bật ngửa ra sau trước một cái tát quá
bất ngờ” [XIII, tr.79].
Hội thoại hầu như có mặt trong các sáng tác (văn bản văn học) nhưng chúng ta thấy
rằng trong văn bản văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch...), hội thoại không xuất hiện
độc lập mà nó luôn gắn liền với ngôn ngữ tác giả, làm thành chỉnh thể văn bản – chỉnh thể
tác phẩm văn học.
1.1.2. Vận động hội thoại
Thông thường, cấu trúc của một cuộc thoại gồm: sự trao lời, sự trao đáp và sự
tương tác.
1.1.2.1. Sự trao lời
“Trao lời là vận động của người nói A nói ra và hướng lời nói của mình về phía
người nhận B”. Khi trao lời “có những vận động cơ thể (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt) hướng tới
người nhận hoặc tự hướng về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực...) bổ sung cho lời người
nói”.
Tình thế trao lời ngầm ẩn rằng, người B tất yếu phải có mặt đi vào trong lời của A.
Vì thế “ngay trước khi B đáp lời thì B đã được đi vào trong lời trao của A và thường xuyên
kiểm tra, điều hành lời nói của A”. Cũng chính vì thế, ở phía người nói - người trao lời nói
trong cặp vai người nói - người nghe cũng biến đổi theo. Đây cũng là yếu tố cho sự phát
triển hội thoại đạt đến đích mong muốn. Trong ví dụ trên, nhân vật Hùng lúc sắp vai người
nói dưới hình thức câu hỏi “Người ta sẽ nghĩ gì?”, lúc lại chuyển thành người nhận lời và
có sự đáp lời: “Sương...”.
1.1.2.3. Sự tương tác
Trong cuộc thoại, các nhân vật giao tiếp, ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với
nhau làm biến đổi lẫn nhau. Trước cuộc thoại, nhân vật có sự khác biệt, đối lập về tính
cách, tâm lý, hiểu biết tình cảm, v.v.. Trong quá trình tham gia vào hội thoại, nhân vật sẽ tự
điều phối những khác biệt này để cùng cộng tác đi đến thoả hiệp hoặc có thể phát triển cao
hơn, mở rộng những khác biệt này làm cho cuộc thoại đi đến xung đột. Đây chính là sự
tương tác trong hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu, sự tương tác được hiểu là: “Các nhân vật
giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá
trình hội thoại” [24, tr.42].
14
Với văn bản tác phẩm văn học, sự tương tác hội thoại có thể phát triển theo những
chiều hướng khác nhau.
- Tạo điều kiện cho tâm lý nhân vật phát triển, đưa cuộc thoại đạt đến đích:
Có tiếng nổ nhỏ trong đầu, tôi đứng dậy:
- Bữa nay mình là chủ xị phải không?
- Còn bàn cãi gì nữa - Ba Thành nói.
- Vậy dẹp đi! Và bây giờ lên xe trở về nhà thằng Tuấn. Sẽ nhậu tại đó.
- Còn chuyến tàu? - Tuấn hỏi.
- Cũng dẹp luôn! Tao sẽ ở lại với chúng mày để tìm bằng được tên giết người đó
[XIII, tr.339].
Trong ví dụ trên, cái đích của cuộc thoại đã được xác định, chiến tranh với đạn bom
khói lửa, chết chóc đã qua nhưng cuộc chiến trong cuộc sống đời thường giữa ranh giới
thiện - ác thì mới chỉ bắt đầu ở những người lính can trường một thời này.
- Làm cho hội thoại thêm căng thẳng và đi đến xung đột do không hoà phối được
cử chỉ không được tác giả mô tả thành lời.
Dạng đơn thoại biểu hiện rõ nhất ở kiểu lời trần thuật của nhân vật, có nghĩa là, lời
nói của nhân vật có xen kẽ một yếu tố kể của mình, của người.
Thấp thỏm chưa thật tin vào cái nhận xét còn mang màu sắc võ đoán ấy, tôi hạ nòng
bắn thẳng một loạt đạn ria:
- Bà không phải là một cái gì hết. Đúng thế. Bởi vì bà chính là Ba Sương. Y tá Ba
Sương! Xã đội trưởng Ba Sương của ba xã vùng hạ lưu sông Sài Gòn cách đây hai mươi
năm.
Lạnh lẽo, tôi bồi tiếp một loạt nữa:
- Bà có muốn nhận bà là Ba Sương hay không. Tuỳ! Đó là quyền của bà. Nhưng
tôi, tôi lại cần phải biết tại sao... [XIII, tr.234].
Giữa những lời dẫn thoại “bắn thẳng một loạt đạn ria”, “lạnh lẽo, tôi bồi tiếp một
loạt nữa” là “một thoáng xao động vút rất nhanh trong đôi mắt mở to, một chút chuyển
màu trên đôi môi không son phấn, một chút rung giật ở gò má phơn phớt hồng” của người
đàn bà chối bỏ quá khứ - Ba Sương.
Thông thường, dạng đơn thoại là vắng lời đáp, mỗi nhân vật tự đeo đuổi một ý nghĩ
riêng của mình nhưng đều tuân theo một logic. Ở nhân vật Hai Hùng, sự dồn đuổi đến tận
cùng để tìm ra sự thật về người con gái anh yêu đã chết đau đớn trong trận càn của địch mà
anh là người chứng kiến. Còn ở Ba Sương, sự ngây ngất trong vầng hào quang giả dối đã
khiến cô quay lưng với tất cả kỷ niệm xưa. Sự im lặng của Ba Sương trong đoạn thoại trên
có tác động sâu sắc đến nội dung phát ngôn của nhân vật Hai Hùng.
1.1.3.2. Song thoại
16
Đây là dạng thoại chủ yếu và được quan tâm nhiều nhất trong lý thuyết hội thoại.
Theo Nguyễn Đức Dân: “Nếu không có chú thích gì đặc biệt thì thuật ngữ hội thoại được
hiểu là song thoại” [32, tr.77]. Song thoại là lời của người trao hướng đến người nghe và có
sự đối đáp bằng hành vi ngôn ngữ. Chúng tôi gọi là hành vi trao lời và hành vi đáp lời. Ở
dạng thoại này, nhân vật trực tiếp đưa lời nói của mình vào hội thoại, bảo đảm yếu tố lời
- Không... [XVI, tr.118].
Tuy không có lời dẫn và từ dẫn nhưng người đọc vẫn hình dung được thái độ, tình
cảm, hành động của nhân vật trong cuộc thoại trên. Đây là nhân vật được tạo nên từ cái
nhập nhằng, nhá nhem giữa bóng tối và ánh sáng. Bề ngoài thì lịch sự, hiểu biết nhưng bên
trong lại là một tâm địa vô cùng đen tối, đểu giả ngay cả trong quan hệ tình cảm.
Ở dạng song thoại còn xuất hiện xen độc thoại như là một hình thức để nhân vật
bộc lộ suy nghĩ thầm kín của mình hơn nữa trong dụng ý của tác giả:
- Sinh nhật chị.
- Sinh nhật tôi? - Chị tròn mắt rồi chợt nhớ và phá lên cười, cái cười còn trẻ trung
lắm - Chết thật! Năm nào cũng không nhớ và năm nào cũng được Hoàng tặng hoa, kể từ
ngày còn ở Hà Nội. Cám ơn! - Chị lúng túng nhận bó hoa, không dấu được một chút cảm
động ánh lên trong mắt - Cám ơn nhiều lắm! [XV, tr.336].
Song thoại là dạng thức hội thoại cơ bản của lý thuyết hội thoại và cùng là dạng
thoại xuất hiện chủ yếu trong ngôn ngữ hội thoại tiểu thuyết.
1.1.3.3. Tam thoại
Tam thoại là dạng thoại xuất hiện khi có ba nhân vật giao tiếp cùng một chủ đề, một
không gian và cùng một thời điểm. Ở mọi cuộc trao đổi, giao tiếp trong cuộc sống cũng
như trong văn chương luôn xảy ra hiện tượng có hơn hai nhân vật giao tiếp trở lên. Ở hình
thức giao tiếp này có thể quy về dạng tam thoại. Trong tiểu thuyết Chu Lai, dạng thức hội
thoại này khá nhiều, điều đó cũng thể hiện mối quan hệ đan xen nhiều chiều, phức tạp giữa
các nhân vật tiểu thuyết.
Anh vụt đứng dậy, móc hộp quẹt Zipo Mỹ còn giữ được, quẹt vào giữa mặt kẻ dâm
tặc, giọng rung lên vì giận:
- Bỏ cô ấy ra! Làm thằng đàn ông như vậy là rất nhục!
- Nhục kệ cha tao! - Sau phút quếnh quáng trước quầng sáng lửa, gã lấy lại giọng
hách dịch - Mày là thằng nào? Mày chui ở xó nào ra thế? Định giở trò rình rập hả? Đội
mấy, nói!
Không thèm trả lời, anh quay lại phía cô gái lúc này đang cuống cuồng bận lại
áo xống:
- Cô về đi! Đối với loại đàn ông chó dái này, cô nên hết sức cẩn thận... [XV, tr.119].
- Thế cánh chủ thợ họ trả lời thế nào mấy anh? - Sáu Nguyện hỏi.
- Trả lời cái mẹ gì! - Một người quật con bài đánh chát xuống mặt bàn - Tất nhiên
là đổ cho con nhỏ...
- Thật tội cho cô ấy - Người khác chêm vào với giọng từ tốn hơn - Mẹ thì già, bố
lâm trọng bệnh...
- Giúp!- Người nữ lại dằn giọng - Giúp thì dễ quá...? [XV, tr.236, 237].
Dạng thức đa thoại trong lý thuyết hội thoại đã xác định số lượng nhân
vật tham gia vào hội thoại: đám đông nhân vật, mà ở đó nhân vật được miêu
19
tả rõ nét nó nằm trong hệ thống nào, chỉ biết rằng nó xuất hiện cùng với lượt
lời để có thể nhận ra có nhân vật ấy trong đám đông ấy. Trong tiểu thuyết Chu
Lai, hình thức đa thoại không được sử dụng nhiều.
Tóm lại, trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về hội thoại, có thể
dẫn ý kiến của Đỗ Hữu Châu làm định nghĩa khái niệm này:“Hội thoại là hoạt
động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ.
Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hoạt
động căn bản này... Vấn đề phải nghiên cứu sự hành chức của những cặp trả
lời như cặp hỏi/trả lời theo một quan điểm hội thoại, tức trong sự đối đáp của
các nhân vật giao tiếp trong một hoàn cảnh nhất định ” [20, tr.276, 267].
1.1.4. Ngôn ngữ hội thoại
Việc nghiên cứu hội thoại tất yếu liên quan đến việc làm rõ ngôn ngữ hội thoại.
Ngôn ngữ hội thoại là một trong những vấn đề đã được đặt ra trong ngôn ngữ học nói
chung, ngữ dụng học và ngôn ngữ học văn bản nói riêng của ngôn ngữ học hiện đại. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài về lĩnh vực này, như: O. M. Moskalskaija, I.
R.Galperin, J. Lyon (dẫn theo Phan Mậu Cảnh, 2008)... Ở trong nước, giới Việt ngữ học
khi nói đến lĩnh vực văn bản và ngữ dụng học cũng có những cuốn tiểu thuyết đạt giải
nhiều tác giả đề cập đến vấn đề hội thoại như Đỗ Hữu Châu (2003), Diệp Quang Ban
thức truyền miệng hay hình thức văn bản được ghi lại bằng văn tự, có thể được viết bằng
văn vần hoặc văn xuôi. Các tác phẩm có dung lượng rất khác nhau và có thể chia thành ba
loại hình cơ bản: tác phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình, tác phẩm kịch.
Mỗi tác phẩm văn học là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như chủ đề,
tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng, v.v.. Ở những tác phẩm có giá trị, sự kết hợp hài
hoà và tác động qua lại giữa các yếu tố ấy khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ
thuật mang tính thống nhất hữu cơ, biện chứng giữa nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ
thuật. Tính phức tạp của tác phẩm văn học không chỉ biểu hiện qua cấu trúc nội tại của bản
thân nó mà còn biểu hiện qua hàng loạt quan hệ khác. Với chủ thể sáng tạo, tác phẩm là
nơi ký thác, nơi khẳng định quan điểm nhân sinh, lý tưởng thẩm mỹ. Với hiện thực khách
quan, tác phẩm là hình ảnh phản ánh đời sống, là tấm gương ghi giữ diện mạo lịch sử của
một giai đoạn, một thời kỳ một đi không trở lại và dự báo tương lai. Với người đọc, tác
phẩm là đối tượng tích cực của cảm thụ thẩm mỹ. Cố nhiên, trong thực tế, những quan hệ
ấy xuyên thấm, tổng hoà với nhau một cách biện chứng và sinh động.
1.2.2. Nhân vật văn học
Nhân vật văn học là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân trung tâm của mỗi
tác phẩm văn học. Nhân vật là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn.
Nhân vật văn học là thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một
21
dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người. Bên cạnh con người, nhân vật
còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho
những đặc điểm giống với con người. Nhân vật là phương thức nghệ thuật
nhằm khai thác những nét thuộc tính con người, nhân vật có ý nghĩa trước hết
ở các loại văn học tự sự, sân khấu, điện ảnh.
1.2.2.1. Kiểu loại nhân vật
Nhân vật trong văn học là một hiện tượng đa dạng về mặt kiểu loại.
Các nhà nghiên cứu (như: Phan Cự Đệ (2001), Đỗ Văn Khang (1996), Bùi