Mục lục
A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục đích nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phạm vi nghiên cứu
6. Phơng pháp nghiên cứu
7. ý nghĩa của luận văn
8. Kết cấu của luận văn
B. Phần nội dung
Chơng 1: T tởng của các nhà triết học Trung Quốc thời Tiên Tần
Trang
1
1
1
2
2
2
2
2
2
3
về phạm trù Đạo
1. Vài nét về lịch sử Trung Quốc thời Tiên Tần
2. Đạo là gì?
3. Biểu hiện của Đạo ở các trờng phái t tởng
3.1. Đạo trong Kinh dịch, Thợng Th, Kinh thi, Tả truyện
8
8
10
12
14
17
17
20
23
24
25
30
thuyết của mình
2. Vai trò của Đạo trong cuộc sống
30
33
C. Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
37
39
Lời cảm ơn
Với tính chất là làm khoá luận tốt nghiệp, tôi đã thực hiện đề tài Phạm
trù Đạo và ý nghĩa của nó đối với triết học Trung Quốc thời Tiên Tần .
Đề tài đợc thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn. Ngoài sự cố gắng của
đối với Triết học Trung Quốc thời Tiên Tần làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Phạm trù Đạo là phạm trù trung tâm trong hệ thống các phạm trù triết
học Trung Quốc. Vì vậy phạm trù Đạo đợc rất nhiều ngời quan tâm và nhiều
nhà khoa học nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau: Nguyễn Khắc Viện với
Bàn về đạo Nho (Nhà xuất bản thế giới), Nguyễn Hiến Lê trong Khổng Tử
(Nhà xuất bản văn hoá); Trần Trọng Kim với Nho Giáo (NXB văn hoá thông
tin); Trơng Lập Văn với Đạo (NXB Khoa học xã hội)Qua các công trình
nghiên cứu của các tác giả trên chúng tôi thấy rằng:
- Phần lớn các tác giả mới bàn về Đạo một cách chung chung, chỉ nêu
một số quan điểm về phạm trù Đạo chứ cha đi sâu nghiên cứu, phân tích về
phạm trù Đạo.
- Trơng Lập Văn là tác giả giải quyết một cách hệ thống và toàn diện
nhất về phạm trù Đạo thời Tiên Tần.
- Đa số các công trình nghiên cứu cha đề cập đến ý nghĩa của phạm trù
Đạo. Song, những thành tựu của họ là những t liệu vô cùng quý báu để chúng
tôi tham khảo và hoàn thành luận văn của mình.
3. Mục đích nghiên cứu.
- Có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về phạm trù Đạo thời Tiên Tần trong
triết học Trung Quốc.
- Thấy đợc ý nghĩa của phạm trù Đạo thời Tiên Tần đối với triết học
cũng nh việc xây dựng t duy trừu tợng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu quan điểm của các nhà triết học Trung Quốc về phạm trù
Đạo thời Tiên Tần.
- Rút ra ý nghĩa của phạm trù Đạo đối với triết học cũng nh việc xây
dựng t duy trừu tợng.
1. Vài nét về lịch sử Trung Quốc thời Tiên Tần.
Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời và Tiên Tần là thời kỳ có
ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành và phát triển t tởng triết học.
Trải qua hàng ngàn năm cộng sản nguyên thuỷ, Trung Quốc cổ đại bớc
vào xã hội chiếm hữu nô lệ (xã hội phong hầu kiến quốc) với những biến động
5
lịch sử dữ dội và trải qua các triều đại: Hạ, Thơng, Chu. Đến năm 221 TCN
Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ lập nên nhà nớc phong kiến đầu tiên. Tất
cả giai đoạn lịch sử từ nhà Tần trở về trớc gọi là thời kỳ Tiên Tần.
Triều Hạ (khoảng thế kỷ XXI XVI TCN), Triều Thơng (khoảng thế
kỷ XVI - khoảng năm 1066 TCN), Triều Tây Chu (khoảng năm 1066-771
TCN). Đến năm 770 TCN, Chu Bình Vơng dời đô sang Lạc ấp ở phía đông,
giai đoạn Đông Chu bắt đầu. Giai đoạn Đông Chu bao gồm hai thời kỳ: Xuân
Thu và Chiến Quốc. Thời thứ nhất sở dĩ gọi là Xuân Thu vì lịch sử Trung Quốc
thời này đợc phản ánh trong sách Xuân Thu, quyển sử nớc Lỗ do Khổng Tử
soạn; còn thời Chiến Quốc có thể lấy năm 403 TCN tức là năm ba nớc Triệu,
Ngụy, Hàn đợc nhà Chu công nhận là ch hầu và kéo dài đến năm 221 TCN là
năm nớc Tần thống nhất Trung Quốc.
Thời kỳ Tiên Tần là thời kì biến động dữ dội của lịch sử Trung Quốc cổ
đại, chiến tranh liên tiếp xẩy ra. Chẳng những ch hầu đánh nhau với ch hầu mà
ch hầu còn đánh nhau với thiên tử. Đó là biểu hiện cuộc đấu tranh giai cấp sâu
sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt là lĩnh vực đời
sống tinh thần, các triết gia - đại biểu tinh thần của các giai cấp tiến hành cuộc
đấu tranh không khoan nhợng. Sử cũ gọi đây là thời kỳ bách gia tranh minh,
bách gia ch tử mà ở đó vấn đề bản thể luận đợc hầu hết các triết gia đề cập
một cách thấu đáo nhất, triệt để nhất - trong đó cuộc đấu tranh xoay quanh nội
hàm của phạm trù Đạo là một minh chứng điển hình nhất.
định vốn có của sự vật. Mối quan hệ bản chất giữa các sự vật hay mối quan hệ
giữa cái bản chất, đã thể hiện tính chất căn bản nội tại, vốn có và tiến trình phát
triển của bản thân sự vật đó. Đó là mối liên hệ bản chất, quy luật phản ánh sự
vật tất định nh thế xác định xu thế không thay đổi. Nó là mối liên hệ tơng đối
ổn định và đợc củng cố, biến động không ở trong hiện tợng. So sánh với quy
luật cụ thể, quy luật đặc thù thì Đạo là một quy luật phổ biến hay quy luật
chung.
- Đạo là quá trình vận động biến hoá, chỉ tiến trình khí hoá Đạo
không có cái gì là không chứa đựng, không đâu không có, Đạo lớn không có
ngoài, Đạo nhỏ không có trong. Bản thân nó đã chứa đựng sự mâu thuẫn và
7
thống nhất giữa âm và dơng, có và không, một và hai, động và tĩnh, lý và khí,
Đạo và khí (khí cụ)Từ mâu thuẫn tơng quan với đồng nhất mà có quá trình
vận động biến hoá của giới tự nhiên và tiến trình phát triển diễn biến của xã hội
loài ngời.
- Đạo là nguyên tắc chính trị, là quy phạm đạo đức luân lý, là đạo lý
trị quốc và xử thế. Nguyên tắc chính trị là t tởng chỉ đạo việc trị quốc bình
thiên hạ. Quy phạm đạo đức luân lý là chỉ tam cơng, ngũ thờng, trung hiếu và
tam tòng, tứ đức(tam cơng, ngũ thờng là: Đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ
chồng và nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; tam tòng là: Ngời phụ nữ cha chồng thì theo
cha, đã có chồng rồi thì theo chồng, chồng chết thì theo con. Còn tứ đức là tiết
hạnh, c xử với mọi ngời, t thế ăn mặc và nữ công gia chánh). Vì thế, Đạo là
một phạm trù có ngoại diên bao quát rộng và chứa đựng ý nghĩa rất sâu sắc. Do
vậy, ở mỗi một nhà t tởng, mỗi một nhà triết học, không chỉ có một cách giải
thích mà đã có nhiều cách giải thích về Đạovới nhiều nội dung khác nhau.
3. Biểu hiện của Đạo ở các trờng phái t tởng.
3.1. Đạo trong Kinh dịch , Thợng th , Kinh thi , Tả truyện
và Quốc ngữ .
chỉ những nguyên tắc - t tởng về hành vi do Chu thiên tử xác định.
- Đạo là nguyên tắc, ở đây là đạo xét xử, tức là đạo lý phán quyết hình
phạt.
- Đạo là phơng pháp, là con đờng trị vì, quản lý đất nớc.
Đạo trong sách Thợng th vẫn chỉ là khái niệm của một danh từ, nhng
hàm nghĩa của nó đã trở nên khá phong phú và bắt đầu manh nha t duy lý luận
trừu tợng.
3.1.3. Đạo trong Kinh thi.
Kinh thi là một bộ tổng hợp thi ca cổ đại Trung Quốc. Nhiều bài trong
bộ sách này hàm chứa những t tởng triết học nhất định.
9
Trong Kinh thi chữ Đạo xuất hiện 29 lần và trớc hết nó có nghĩa là
con đờng, rồi từ đó mở rộng ra, có nghĩa là phơng pháp, là lời bàn luận. Điều
đó phản ánh nhận thức của con ngời đã dần đợc nâng cao.
3.1.4. Đạo trong Tả truyện và Quốc ngữ.
Nhiều ngời cho rằng Tả truyện và Quốc ngữ do sử quan nớc Lỗ là Tả
Khâu Minh viết xong vào khoảng cuối thời Xuân Thu, phản ánh bộ mặt xã hội,
chính trị, kinh tế và t tởng thời Xuân Thu đa ra nhiều khái niệm triết học đáng
đợc chú ý. Ông chia Đạo thành hai phần: Thiên đạo (đạo trời) và Nhân đạo
(đạo ngời) đa Đạo từ vơng quốc tự nhiên tiến vào vơng quốc triết học.
Thiên đạo chỉ quy luật vận hành của mặt trời, mặt trăng, âm, dơng. Sự
biến đổi vận động của sự vật cũng có tính tất nhiên, nội tại, giống nh vận động
giữa các thiên thể. Thiên đạo không chuyển đổi theo sự tốt xấu của con ngời.
Nếu làm trái với thiên đạo thì bất luận ngời đó là ai (thiên tử hay thứ dân)
không thể thành công đợc.
Trong Tả truyện và Quốc ngữ đôi khi lại coi thiên đạo là một thứ sức
mạnh thần bí mà con ngời không sao chế ngự nổi, mặt khác còn so sánh một
nghĩa chính trị lý luận. Từ toàn bộ cấu trúc t tởng triết học của Khổng Tử, cái
mà ông gọi là nhân đạo chủ yếu có hai phơng diện:
- Đạo là Nhân:
Nhân là nội dung cơ bản của Đạo Khổng Tử. Khổng Tử nói: Đạo
chỉ có hai mặt: Nhân và bất nhân mà thôi [9.58]. Nh vậy, Khổng Tử chia
Đạo ra hai mặt: Nhân và bất nhân, chủ trơng đạo nhân và chống lại cái bất
nhân. Cái hạt nhân của Nhân ở đây là lòng yêu thơng con ngời (lòng nhân ái).
Cái Nhân lấy tình máu mủ ruột thịt trong gia đình là lớn nhất. Con ngời mà
không có tình máu mủ ruột thịt thì không thể nào có lòng nhân ái đợc. Mở
rộng ra đó còn là trung với nhà vua, giữ chữ tín với bạn bè, có lòng khoan
dung, rộng mở đối với mọi ngời, biết suy bụng mình ra bụng ngời, đợc cho
mình thì cũng phải nghĩ đợc cho ngời khác nữa, biết tự kiềm chế bản thân để
giữ trọn Lễ, Nghĩa.
11
- Đạo là Lễ:
Khổng Tử rất coi trọng Lễ. Ông nói : Bất tri lễ, vô dĩ lập dã (không
biết Lễ thì cũng không thể đứng vững trong xã hội đợc)[9.59]. Cung nhi, vô lễ
- tắc lao, thận nhi vô lễ - tắc tỷ, dũng nhi vô lễ - tắc loạn, trực nhi vô lễ - tắc
giảo (cung kính mà không theo lễ thì sẽ trở nên nhút nhát, sợ sệt, dũng cảm
mà không theo lễ thì sẽ làm rối loạn, lung tung, thẳng thắn mà không theo lễ
thì sẽ làm lôi thôi, hỏng việc) [9.59]
Giữa Nhân và Lễ của Khổng Tử luôn kết hợp với nhau. Ông cho rằng
con ngời ta vừa phải cố làm đợc điều Nhân, vừa phải nghiêm khắc tuân thủ cái
Lễ, Nhân và Lễ thống nhất với nhau. Lễ thể hiện bên ngoài của Nhân, Nhân là
nội dung của Lễ. Lễ là ngọn, Nhân là gốc. Nhân và Lễ lồng vào nhau, thống
nhất với nhau. Đó là điểm độc đáo của t tởng nhân đạo của Khổng Tử.
Trong t tởng của Khổng Tử về Đạo còn có một nội dung quan trọng
Nhân đã đợc Khổng Tử giải thích bằng nhiều mặt còn Mạnh Tử thì tập
trung giải thích đó là tình yêu con ngời. Ông nói : Nhân giả ái nhân (Nhân là
tình yêu thơng con ngời) [9.63]. Mạnh Tử nêu lên: Nhân bắt nguồn từ tính
thiện của con ngời. Con ngời sinh ra vốn nhiều trắc ẩn. Nhân là kết quả của
việc mở rộng, phát triển cái lòng trắc ẩn đó. Để nhấn mạnh thêm, thậm chí
Mạnh Tử đã trực tiếp so sánh lòng trắc ẩn với Nhân: Trắc ẩn chi tâm nhân
dã (lòng trắc ẩn, nỗi trắc ẩn, ấy là nhân) [9.64], coi đó là một phần để tạo nên
tính ngời. Điều đó nói lên rằng Nhân không phải là ngoại tại mà thuộc về nội
tại. Từ đó Mạnh Tử cho rằng sự tu dỡng của từng ngời phải xuất phát từ nội
tâm, tự giác cởi mở lòng trắc ẩn, sao cho đạt tới đợc giới hạn mọi vật đều có
sẵn ở nơi ta, làm cho lòng mình tràn ngập tinh thần nhân ái. Đó là những nội
dung căn bản của Đạo khi đề cập đến Nhân.
Mạnh Tử bàn về thiên đạo chỉ mô tả đặc tính đích thực của thiên đạo chứ
không đi sâu vào nghiên cứu và phân tích về bản thân thiên đạo. Ông đã có ý
coi thiên đạo là quy luật khách quan. Nhng dụng ý của Mạnh Tử không phải là
để nói ra nội dung của thiên đạo mà chính là ông muốn dùng những đặc trng
13
đó của thiên đạo để trình bày, phân tích và chứng minh về nhân đạo. Ông nói:
T thành giả, nhân chi đạo dã (biết thành tâm lo nghĩ những cái chân thực thì
đó là đạo của con ngời vậy) [9.65]. Thực tâm, chân thành thực hành đạo nhân
nghĩa cũng giống nh sự thành tâm, nhận thức của thiên đạo vậy.
Ngoài ra, Mạnh Tử đã đa Đạo từ lĩnh vực tu dỡng lý luận đạo đức mở
rộng vào lĩnh vực chính trị, vì thế hình thành t tởng nhân chính trị quốc an dân
của ông.
Mạnh Tử chủ trơng xây dựng một xã hội yên ổn, thái bình, nhân ái. Ông
cho rằng đề xớng nhân đạo, thực hành nhân chính là con đờng duy nhất để thực
hiện cái xã hội đó. Ông nói: Nhân nhân thân kỳ thân, trờng kỳ trờng, nhi
Sở dĩ vạn vật vận động biến hoá, biến đổi từ đời này qua đời khác là do bên
trong sự vật tồn tại hai mặt tơng phản tơng thành của âm dơng. Hai mặt này
đối lập nhau, tác động lẫn nhau, thúc đẩy sự vật vận động, biến hoá và phát
triển.
Thứ hai, Dịch truyện có chép: Cái hình nhi thợng gọi là đạo, còn cái
hình nhi hạ gọi là khí (cái cao hơn hình thể của nó gọi là đạo, còn cái ở dới
hình thể của nó thì gọi là khí).
Đạo là quy luật hoá sinh và biến đổi của vạn vật trong trời đất, là mối
liên hệ thuộc về bản chất bên trong của sự vật. Tính tất nhiên nội tại đợc sản
sinh và biến hoá này của vạn vật là hoàn toàn trừu tợng, các cơ quan cảm giác
của con ngời không thể nào trực tiếp nhận biết đợc, chỉ có dùng t duy lý tính
mới có thể nhận thức và nắm bắt đợc. Nói về mặt đạo nội tại ở vạn vật trong
trời đất đợc thể hiện trong vạn vật trong trời đất thì nó là thuộc tính của vạn vật
rong trời đất. Nếu nói về mặt Đạo là quy luật sản sinh, vận động biến hoá
của vạn vật trong trời đất thì nó lại không chỉ giới hạn trong các sự vật cụ thể.
Sự khác biệt nhau của Đạo và vạn vật chính là ở chỗ Đạo là "Hình nhi thợng, còn vật thì lại là Hình nhi hạ. Gọi là Hình nhi thợng là để chỉ khi
Đạo đã là một quy luật thì tức là nó đã có tính chất vô hình, trừu t ợng, cũng
tức là có đặc tính là Âm dơng bất trắc chi vị thần (cái mà âm dơng không lờng,
15
không đo đếm đợc gọi là thần) [9.71]. Gọi là Hình nhi hạ là để chỉ những sự
vật có tính chất hữu hình, tức là những sự vật có đặc tính của Cái có hình, và
vẫn gọi là khí [9.71].
Dịch truyện dùng Hình nhi thợng và Hình nhi hạ để phân biệt Đạo
mang tính quy luật và những vật tồn tại cụ thể, nh vậy chứng tỏ rằng nó đã dấn
sâu vào nhận thức về quan hệ giữa Đạo và Khí. Những lý luận về mối quan
hệ giữa Đạo và Khí này đã khởi đầu cho các quan niệm về Đạo và Khí của
các Nho gia.
Thứ nhất, trời là cả một thế giới tự nhiên tồn tại bên ngoài con ngời. Trời vẫn
tồn tại khách quan, có xu thế tất nhiên và các quy luật cố hữu khách quan của
sự vận động biến hoá của nó. Cái đó không thay đổi, chuyển dịch theo sự tốt
xấu của con ngời. Sự chuyển dịch của các vì sao, sự vận hành của mặt trời, mặt
trăng, sự xoay vần của bốn mùa, sự biến hoá của âm dơng, tất cả đều là những
biểu hiện của quy luật vận hành của trời đất. T tởng Trời thì có đạo vĩnh
hằng, không đổi [9.75] mà Tuân Tử nêu ra dựa trên cơ sở thừa nhận sự tồn tại
khách quan của trời đó là làm phong phú thêm nội hàm của Đạo. Thứ hai,
con ngời sống trong xã hội, giữa ngời này và ngời kia vẫn có sự liên hệ với
nhau cũng nh có sự tranh chấp lẫn nhau. Để hạn chế những ham muốn, những
tham vọng có tính tự nhiên của con ngời, điều tiết quan hệ giữa con ngời với
con ngời, làm cho con ngời có thể chung sống hoà thuận với nhau mà không
phát sinh ra sự rối loạn, phải quy định những chuẩn tắc để duy trì trật tự xã hội.
Những chuẩn tắc đó chính là nhân đạo. Đạo giả, phi thiên chi đạo, phi địa chi
đạo, nhân chi sở, đạo dã, quân tử chi sở, đạo dã. (Đạo không phải của trời,
không phải của đất, đạo là của con ngời, của các bậc quân tử) [9.76]. Đạo là
phép tắc luật lệ xã hội mà mọi ngời đều phải cùng tuân theo.
Theo Tuân Tử, nội dung của Đạo bao gồm các mặt nh Nhân, Nghĩa,
Lễ, Nhợng, Trung, Tín, Hình phạt, Chính lệnh và Pháp lệnh. Trong đó, Lễ và
Pháp là hai thứ quan trọng nhất. Cái gọi là Lễ chính là các loại chuẩn tắc và
17
quy phạm xác định sang hèn, già trẻ, vợ chồng, giàu nghèo, trên dới có thứ, có
bậc khác nhau. Tuân Tử đặc biệt nhấn mạnh Lễ. Ông cho rằng Lễ chính là đạo
làm ngời cao nhất. Lễ giả, nhân đạo chi cực dã (Lễ, ấy là đạo làm ngời cao
nhất) [9.76]. Nhng, chỉ dựa vào Lễ thôi thì vẫn cha thể nào quản lý tốt đợc
quốc gia. Nếu muốn làm cho thiên hạ đại trị, còn phải phối hợp, sử dụng thêm
cả hình pháp nữa. Hình pháp chính là chế độ pháp lệnh và hình phạt của Nhà nớc. Nó cũng là một chuẩn tắc mà mọi ngời phải tuân theo. Tuân Tử nêu ra
vi, vì thế việc tu dỡng đạo đức của con ngời cũng phải lấy việc quay trở về bản
tính thuần phác tự nhiên làm mục tiêu, thông qua rèn luyện tu dỡng, làm cho
mình là thánh nhân có Đạo.
Thứ hai, Lão Tử quy nạp Đạo thành ba đặc trng chính:
Tính hình thể: Đạo không thể nhìn đợc, không thể nghe thấy cũng
không thể sờ nắm đợc. Nó là sự tồn tại siêu cảm giác.
Tính thực tồn: Đạo là một cái gì đó mờ mở ảo ảo, chợt bừng tỉnh, nghĩ
mờng tởng ra thì trong đó hình bóng nó hiện ra đây, chợt suy nghĩ ra thì thấy
nó nh là một vật gì đó còn e ấp, kín đáo, chìm trong cái u hoài, xa thẳm mà bên
trong chứa đựng cái tinh hoa, hoàn mỹ. Đạo tuy là một cái gì đó mờ mờ ảo
ảo, không thành hình rõ rệt để ngời ta cảm giác thấy đợc, không biết đợc, nhng
sự tồn tại của nó là xác thực. Vì thế mọi ngời có thể căn cứ vào nó để nhận thức
đạo lý bản nguyên của vạn vật.
Tính vận động: Đạo vẫn tồn tại từ xa tới nay, độc lập không đổi nhng
vận động không ngừng. Đó chính là cội nguồn của tất cả các sự vật đang vận
động biến hoá.
Những đặc tính đó của Đạo đã làm cho Đạo có thể trở thành bản thể
và bản nguyên sản sinh ra vạn vật. Đồng thời, những đặc tính đó cũng đặt nền
tảng cho Đạo trở thành phạm trù triết học.
Thứ ba, Lão Tử nêu mối quan hệ giữa Đạo và các khái niệm Có,
Không, Đế, Thần, Tự Nhiên, Vô Vi, Đức.
Về quan hệ giữa Đạo và các khái niệm Có, Không: Trong kết cấu
lôgic triết học của Lão Tử, Đạo là một thể thống nhất của có và không.
Đạo là sự tồn tại u ẩn, vô hình, là Cái trạng thái không có trạng thái[9.89].
Vì thế, Đạo có thể gọi là Vô (không). Nhng nh vậy không có nghĩa Đạo là
cái gì đó h vô tuyệt đối, Đạo tuy u ẩn, vô hình nhng lại Kỳ trung hữu tợng
(bên trong có hình ảnh)[9.89]. Đó là một sự tồn tại chân thực. Vì thế nó cũng
có thể coi là Hữu (có). Hữu và Vô thống nhất với nhau.
21
dân.
22
Từ thiên đạo, Lão Tử đã lần hồi nghiên cứu rồi quy định Đạo. T duy lý
luận của ông đã vợt ra khỏi giới hạn của xã hội loài ngời, đi sâu vào nghiên cứu
bản thể của vũ trụ. Chính điểm này đã làm cho ông có thể luận Đạo từ mức
độ cao của bản thể luận. Đạo luận của Lão Tử không những mở ra học phái của
Đạo gia, mà còn ảnh hởng sâu sắc tới sự phát triển của Đạo Nho và cả nền triết
học Trung Quốc.
3.3.2. Quan điểm của Trang Tử.
Trang Tử (Khoảng 269-286 TCN) kế thừa và phát triển phạm trù Đạo
của Lão Tử, lấy Đạo làm hạt nhân triển khai thành hệ t tởng - triết học của
ông.
Đạo của Trang Tử - Trớc hết là một phạm trù có tính bản thể luận.
Trang Tử cho rằng : Đạo là bản thể của vạn vật trong vũ trụ. Vạn vật trên thế
giới đều do Đạo sinh ra. Ông nói Đạo có tình, có lòng tin, vô vi, vô hình có
thể truyền bá đi mà không nhận lại đợc, có thể đợc đấy mà không thể nhìn thấy
đợc; từ cội nguồn gốc xa xa, khi cha có trời đất, nó vốn đã tồn tại rồi, thần quỷ
thần đế, sinh ra trời, sinh ra đất, xuất hiện trớc thái cực, mà không coi là cao,
ở sâu bên dới lục cực mà không coi là sâu, có trớc cả khi có trời, có đất mà
không coi là lâu, phát triển từ thời thợng cổ rồi mà vẫn không coi là già nua
[9.94,95]. Tất cả trên thế giới này, không chỉ có vạn vật trong trời đất, mà cả
quỷ thần thợng đế, đều đợc sản sinh ra từ Đạo. Đạo là một bản thể mang
tính thực tồn, sinh ra vạn vật trong trời đất.
Đạo sinh ra vạn vật trong trời đất, đồng thời lại chi phối sự vận động
biến đổi của vạn vật trong trời đất, là quy luật cần phải tuân theo trong quá
trình sinh thành và phát triển của vạn vật trong trời đất. Đạo là phép tắc và
trong quá trình vận động, biến hoá, vạn vật phải tuân theo. Vạn vật biến hoá
theo Đạo thì sẽ sinh trởng, không theo Đạo thì sẽ bị diệt vong; con ngời
Quan hệ giữa Đạo và Con Ngời: Trang Tử cho rằng Con Ngời cũng do
Khí ngng tụ mà thành. Khí quần tụ lại thì Ngời đợc sinh thành, Khí tản ra thì sẽ
có Ngời chết. Khí sinh ra từ Đạo, vì thế rút cục Ngời cũng là sản vật của
Đạo. Hình thể Con Ngời do Trời tạo nên, những bộ mặt tinh thần lại do
24
Đạo phú cho. Đạo là bản thể của Ngời, cũng là trình độ tinh thần cao nhất
của Con Ngời.
Quan hệ giữa Đạo và Đức: Trang Tử cũng nh Lão Tử đều chỉ trích đạo
đức nhân nghĩa là: Ngón tay chạnh' Cái u thịt thừa vô tích sự [9.101, xâm
hại bản tính con ngời, hạn chế tự do của con ngời. Ông cho rằng nhân nghĩa
Phi đạo đức chi chính dã (đúng nhng cha phải là đạo đức) [9.101]. Cái mà
ông nói là Đức là để chỉ giới hạn, mức độ hài hoà sau khi đắc Đạo. Đạo là
căn cứ để Đức dựa vào đó mà tồn tại, là nội dung bản chất của Đức, mà Đức lại
là biểu hiện cụ thể của Đạo trên cơ thể con ngời. Vì thế, Trang Tử nhấn
mạnh chỉ có thông hiểu về Đạo thì mới có thể hợp với Đạo.
Tóm lại, Đạo là bản thể của Con Ngời trong trời đất, mọi vật đều phải
vận động biến đổi theo Đạo. Con Ngời thì cũng phải thông hiểu về Đạo và
đắc Đạo. Việc tu thân đắc Đạo để đạt tới giới hạn của toàn Đức chí Đạo
hợp nhất làm một với tinh thần của trời đất, thực hiện tự do tuyệt đối về tinh
thần. Việc trị vì xã hội cũng phải dựa vào yêu cầu của Đạo để thực hiện trị vì
theo vô vi, vô vi nhi trị [9.102], để làm cho con ngời ta có thể tự do theo đuổi
và thực hiện đợc tới mức chi Đạo. Đạo luận của Trang Tử, cái sờn logic của
nó, về cơ bản giống nh của Lão Tử. Chỗ khác là Lão Tử cho rằng thế đạo là tự
nhiên vô vi, còn Trang Tử thì cho rằng thế đạo không phải chỉ là đạt đợc tự
nhiên vô vi, mà hơn thế nữa phải đạt tới mức là phải hợp làm một với tinh thần
của trời đất. Ông nhấn mạnh tinh thần của con ngời là siêu việt và tự do tuyệt
đối. Đó cũng là sự phát triển quan trọng về Đạo của Lão Tử. Đạo luận của