Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao năng lực cho cha mẹ về chăm sóc và giáo dục trẻ em khuyết tật trí tuệ ( ngiên cứu trường hợp tại trung tâm hy vọng hội cứu trợ trẻ em tàn tật thành phố hà nội) - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ MÁT

VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO CHA, MẸ VỀ CHĂM SÓC
VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ
(Nghiên cứu trường hợp tại trung tâm Hy Vọng - Hội Cứu trợ trẻ em
tàn tật thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ MÁT

VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO CHA, MẸ VỀ CHĂM SÓC
VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ
(Nghiên cứu trường hợp tại trung tâm Hy Vọng - Hội Cứu trợ trẻ em
tàn tật thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành:


năng lực cho cha, mẹ về chăm sóc và giáo dục trẻ em khuyết tật trí tuệ (
Nghiên cứu trường hợp tại trung tâm Hy Vọng – Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật
thành phố Hà Nội)” tôi đã nhận được sự động viên, quan tâm giúp đỡ nhiệt
tình của gia đình, thầy - cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể thầy, cô giáo Khoa Xã
hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh
nghiệm cũng như lòng yêu mến, tâm huyết với nghề nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn GS.TS Nguyễn Đình Tấn - người đã hướng dẫn
và chỉ bảo cho tôi rất tận tình, giúp tôi có nhiều kinh nghiệm quý báu trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại trung tâm Hy Vọng và
các bậc phụ huynh học sinh đã giúp tôi hoàn thành nghiên cứu của mình.
Mặc dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài, cộng với 6 năm kinh nghiệm
làm việc với trẻ khuyết tật; nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực nghiên
cứu chưa thực sự chuyên sâu, nên chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế. Vì
vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy, cô giáo để luận
văn của tôi khắc phục được những hạn chế và hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2014
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Mát


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 6
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 8
2.1. Trên thế giới ............................................................................................... 8
2.2. Tại Việt Nam ............................................................................................ 12

người khuyết tật ............................................................................................... 26
1.1.4.1. Công tác xã hội .................................................................................. 26
1.1.4.2. Công tác xã hội nhóm ........................................................................ 27
1.1.4.3. Công tác xã hội với người khuyết tật ................................................. 29
1.2. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ........................................... 30
1.2.1. Thuyết hệ thống ( system theory) .......................................................... 30
1.2.2. Thuyết trao đổi xã hội ........................................................................... 32
1.2.3. Thuyết nhu cầu ...................................................................................... 33
1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ................................................................... 39
1.3.1 . Lịch sử hình thành trung tâm Hy Vọng – Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật
thành phố ( TETT TP) Hà Nội......................................................................... 39
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ: ........................................................................... 35
1.3.3. Các hoạt động của trung tâm Hy Vọng ................................................ 36
1.3.3.1. Công tác phát triển số lượng ............................................................. 36
1.3.3.2. Hoạt động chăm sóc, nuôi dạy và phục hồi chức năng cho trẻ ......... 36
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................................................. 38
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC VÀ NHỮNG NHU CẦU CỦA
CHA, MẸ TRONG VIỆC CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM KHUYẾT
TẬT TRÍ TUỆ TẠI TRUNG TÂM HY VỌNG ......................................... 44
2.1. Thực trạng năng lực của cha, mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ KTTT......... 44


2.2. Những khó khăn của cha, mẹ trong chăm sóc, giáo dục trẻ KTTT ......... 46
2.3. Những nhu cầu của cha, mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ KTT ...... 53
Tiểu kết chương 2........................................................................................... 61
Chƣơng 3. PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ
HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO CHA, MẸ VỀ
CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI
TRUNG TÂM HY VỌNG ............................................................................ 62
3.1. Phương pháp và kỹ năng tiếp cận trong CTXH được vận dụng khi làm

KTTT

: Khuyết tật trí tuệ

NVXH

: Nhân viên xã hội

PHCN

: Phục hồi chức năng


DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
Số bảng

Nội dung

Trang

Bảng 1

Cơ cấu mẫu sử dụng trong phỏng vấn sâu

25

Bảng 2.1

Kết quả khảo sát về thời điểm phát hiện con KTTT


khuyết tật của họ. Chúng ta đều biết rằng người khuyết tật là một trong
những nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương và họ luôn cần được hỗ trợ để
có thể giảm bớt hoặc khắc phục, tiến tới loại bỏ vấn đề khuyết tật của
mình. Tiếp cận công tác xã hội trong hỗ trợ cho người khuyết tật hiện nay
đang được xem là một hoạt động phù hợp, hướng đến việc xây dựng một xã
hội hòa nhập và chấp nhận sự khác biệt.
Luật Người khuyết tật năm 2010 của Quốc hội cũng đã nêu rõ các
quyền của người khuyết tật (Khoản 1 – Điều 4). Đồng thời, chúng ta đều nhận
thấy người khuyết tật cũng như những cá nhân khác trong xã hội, họ cũng có
những nhu cầu trong các lĩnh vực của đời sống cần được đáp ứng: việc làm, y
tế, giáo dục, cơ hội tiếp cận…
Để hoạt động trợ giúp cho người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết
tật trí tuệ nói riêng đạt hiệu quả, cần huy động sự nỗ lực từ nhiều phía, trong
đó yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng. Bởi gia đình là nơi có nhiều thời
gian và điều kiện tiếp xúc, hỗ trợ và giáo dục trẻ. Nếu gia đình có nhận thức
đúng đắn về vấn đề trẻ đang gặp phải, có những kiến thức hiểu biết nhất định
thì điều này sẽ là một yếu tố thuận lợi giúp trẻ được can thiệp kịp thời, đúng
mức độ bệnh, đúng tình trạng bệnh và phù hợp với khả năng của trẻ.
1


Tuy nhiên, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của đại đa số các bậc phụ huynh
có con bị khuyết tật trí tuệ thì một bộ phận không nhỏ cha, mẹ của trẻ vẫn còn
những hạn chế nhất định trong nhận thức, điều này gây cản trở trong quá trình
trợ giúp cho trẻ, bởi khi nhận thức của cha, mẹ hạn chế hoặc nhận thức chưa
đúng, chưa đủ sẽ rất khó khăn trong việc chăm sóc, giáo dục và tiếp cận các
nguồn lực. Vì vậy, gia đình cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các
tổ chức xã hội khác, cùng chung tay góp sức trong việc hỗ trợ cho trẻ, nhằm
mang lại sự chuyển biến tích cực cho trẻ em khuyết tật trí tuệ, giảm bớt những
thiệt thòi và tăng thêm cơ hội cho các em.

Từ thế kỷ 15 trở về trước, không có nhiều tư liệu về giáo dục trẻ khuyết
tật. Nhà triết học Aristos cho rằng: “Không có gì có thể tồn tại trong trí óc
con người nếu không được các giác quan tiếp nhận”. Do đó, trẻ khuyết tật
với những khiếm khuyết của mình không thể tiếp thu các kiến thức, kinh
nghiệm của lịch sử, xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những người cho
rằng việc giáo dục cho trẻ điếc ( trẻ khiếm thính) là có thể thực hiện được.
Thế kỷ 19 – 20, giáo dục cho trẻ khuyết tật được mở rộng hơn. Hệ
thống giáo dục trẻ khiếm thị gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của nhà giáo
dục Pháp - Gaiu. Sau đó là các nhà giáo dục khác: Lui Braille, Klein,
Arnitet…Thành công nhất là Lui Braille, ông đã đặt nền móng về nội dung,
phương pháp dạy học, hình thức giáo dục và kiểu chữ viết cho người khiếm
thị đến nay vẫn được toàn thế giới thừa nhận.
Trước những năm 70 của thế kỷ 20 là thời kỳ phát triển của mô hình
giáo dục chuyên biệt trẻ khuyết tật. Các ngành khoa học ngày càng phát triển
nên quan niệm của xã hội về người khuyết tật nói chung đã có sự thay đổi.
Người ta cho rằng, người khuyết tật nói chung cũng như trẻ em khuyết tật có
khă năng phục hồi các chức năng bị khiếm khuyết nếu được chữa trị, họ cũng
3


có nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại, có những khả năng nhất định để tham gia
vào đời sống xã hội. Những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, vấn đề người khuyết
tật và trẻ em khuyết tật ngày càng được tât cả các quốc gia và cộng đồng
người trên thế giới quan tâm. Tuyên ngôn về quyền của người chậm phát triển
tinh thần đã được Liên hợp quốc thông qua ngày 21/12/1971; Tuyên ngôn về
người tàn tật ngày 9/12/1975. Hội nghị thế giới về trẻ em có nhu cầu giáo dục
đặc biệt được tổ chức tại Salamanca, Tây Ban Nha năm 1994 đã khẳng định
lại quyền được giáo dục của mọi cá nhân như đã nêu trong tuyên bố chung về
Quyền con người năm 1948.
Tư tưởng tiến bộ của nhân loại đối với trẻ khuyết tật đã được khẳng

khiếm khuyết của các em. Quan tâm tới những khả năng và tiềm năng của trẻ
khuyết tật sẽ tạo ra lợi ích cho toàn xã hội.
“ Nhìn vào khuyết tật của trẻ trước khi nhìn nhận trẻ không chỉ là hành
động không công bằng với trẻ mà còn làm mất đi những điều trẻ có thể mang
lại cho xã hội”, Ông Anthony Lake – Giám đốc điều hành UNICEP phát biểu.
“Sự mất mát của các em là mất mát chung của toàn xã hội; lợi ích của các em
cũng là lợi ích cho toàn xã hội”. Báo cáo chỉ ra những cách thức để hòa nhập
trẻ khuyết tật vào xã hội. Các nỗ lực hỗ trợ trẻ khuyết tật hòa nhập với xã hội sẽ
giúp đẩy lùi sự phân biệt đối xử đang gạt các em ra bên lề của xã hội.
Báo cáo tình hình trẻ em Thế giới năm 2013 với chủ đề trẻ em khuyết
tật cho biết: trẻ em khuyết tật là nhóm ít có khả năng được chăm sóc y tế hoặc
được đi học nhất. Trẻ em khuyết tật trở thành những người yếu thế nhất trên
thế giới .
Chúng ta đang có những tiến bộ tiến tới hòa nhập trẻ em khuyết tật,
mặc dù các tiến bộ chưa được đồng đều, báo cáo Tình hình Trẻ em Thế giới
2013 đưa ra chương trình cho những hành động tiếp theo. Báo cáo kêu gọi các
Chính phủ phê chuẩn và thực hiện Công ước về Quyền của Người khuyết tật
và Công ước Quyền Trẻ em, và có những hỗ trợ cho các gia đình để họ có thể
đáp ứng được các chi phí thường cao hơn mức bình thường trong chăm sóc
trẻ em khuyết tật.
5


Như vậy, Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc luôn quan tâm, có những chính
sách, những việc làm thiết thực để hỗ trợ cho trẻ em khuyết tật. Đồng thời
UNICEP cũng kêu gọi các nước trên Thế giới hãy đồng hành cùng trẻ em
khuyết tật để mang lại xã hội hòa nhập và tiến bộ hơn.
Ở Vương quốc Anh, Italy, Tây Ban Nha việc hỗ trợ cho học sinh
khuyết tật, giáo viên dạy học hòa nhập và phụ huynh do Trung tâm nguồn
giáo viên cấp vùng (Teacher Regional Resource Center) đảm nhận. Tại các

tâm xác định nhu cầu của trẻ khuyết tật và đưa ra các tư vấn hỗ trợ cần thiết
và có trách nhiệm cung cấp và giám sát việc sử dụng thẻ “Couple” có trị giá
tương đương 50 USD/năm cho mỗi trẻ khuyết tật.
2.2. Tại Việt Nam
Giống như bất cứ trẻ em nào, trẻ khuyết tật cũng có tiềm năng phát
triển trong cộng đồng và ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của mọi người
xung quanh mình. Khác biệt ở đây là xã hội có thể phải thích ứng để hiện thực
hóa tiềm năng đó của trẻ. Bằng việc ký Công ước về Quyền của Người khuyết
tật ( CRPD) ngày 22/11/2007, “Việt Nam đã đánh tín hiệu rằng nước mình
cam kết một xã hội thích ứng với nhu cầu của trẻ khuyết tật và Việt Nam đã
đạt những tiến bộ đầy ý nghĩa trong lĩnh vực này”. [ 19, tr 10]
Năm 1985, lần đầu tiên ý tưởng về giáo dục hòa nhập được thảo luận ở
Việt Nam tại một hội nghị do UNESCO tổ chức. Tuy nhiên, mãi đến năm
1990, giáo dục hòa nhập mới được Bộ giáo dục và Đào tạo, cụ thể là Trung
tâm nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật, Viện Khoa học Giáo dục, chuẩn bị và
triển khai với sự giúp đỡ của nhiều tổ chức quốc tế. Thực tế, giai đọan 1990 1995 là giai đoạn nghiên cứu, tìm tòi và thí điểm. Mô hình giáo dục hòa nhập
chỉ thực sự được hiểu và thực hiện theo đúng nghĩa của nó bắt đầu từ năm
1996. Điều này diễn ra đồng thời với tiến trình giáo dục hòa nhập ở Việt Nam
khi trách nhiệm giáo dục trẻ khuyết tật được chuyển từ Bộ Lao động 7


Thương binh - Xã hội sang Bộ Giáo dục và Đào tạo từ tháng 4 năm 1995. Trẻ
khuyết tật không chỉ được phục hồi chức năng mà còn được hưởng sự giáo
dục và có cơ hội hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, xã hội.
Nghiên cứu “Ngân sách cho giáo dục hòa nhập của trẻ khuyết tật (
Phân tích trường hợp tại cấp huyện”) của Ngô Huy Đức (2003) tập trung vào
nhóm trẻ khuyết tật đang ở độ tuổi đi học của 3 xã thuộc huyện Vĩnh Tường,
tỉnh Vĩnh Phúc. Cuốn sách đã làm rõ các nguồn lực tài chính từ Chính phủ
được chi tiêu ( cả trực tiếp và gián tiếp) cho trẻ em, từ đó phân tích các khả
năng cải thiện tính hiệu quả của các chi tiêu đó. Nghiên cứu cũng tiến hành

viên xã hội hỗ trợ họ trong việc phát hiện sớm, chẩn đoán, đánh giá khuyết tật
của con họ cũng như giúp phụ huynh tìm kiếm các dịch vụ xã hội. Kết quả thu
được từ việc lấy ý kiến của 105 phụ huynh có con khuyết tật đang học tại các
trường chuyên biệt tại TP HCM. Bằng việc phân tích một phần kết quả nghiên
cứu tại TP HCM ( nghiên cứu này được thực hiện bởi một nhóm các nhà
nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý, xã hội và giáo dục đặc biệt đến từ các
trường đại học ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam) thông qua kết quả khảo
sát nhu cầu của những gia đình có trẻ khuyết tật phát triển đối với các dịch vụ
xã hội. Những đánh giá quý báu này của tác giả đã giúp ích cho việc tìm kiếm
nguồn lực trợ giúp hay giúp xác định vai trò của công tác xã hội đối với người
khuyết tật và gia đình có người khuyết tật trong bối cảnh hiện nay.
Bài báo cũng nêu rõ: trong những năm gần đây, những nỗ lực của
Chính phủ và các tổ chức xã hội đã phần nào đáp ứng được nhu cầu cần được
chăm sóc và giáo dục của trẻ khuyết tật và hỗ trợ cho gia đình của trẻ khuyết
tật. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhu cầu của gia đình và những đáp ứng của
xã hội vẫn còn khá lớn, đòi hỏi sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội và cộng đồng
đối với người khuyết tật và gia đình họ nhằm nâng cao nhận thức của cộng
9


đồng trong việc phát hiện và chẩn đoán sớm những dấu hiệu chậm phát triển
ở trẻ sơ sinh và chẩn đoán, sàng lọc cho các bà mẹ mang thai.
Báo cáo về “ Trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng”
được thực hiện vào tháng 11/2009, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình xã
hội về khuyết tật đề cao những giải pháp dựa trên gia đình và cộng đồng hơn
là cách chăm sóc y tế mà Việt Nam đã áp dụng trong một thời gian dài. Mặc
dù chúng ta nhận thấy sự biến đổi từ cách tiếp cận xã hội đang tiến triển trong
các tổ chức địa phương và cả nước, vẫn sẽ cần nhiều nỗ lực hơn nữa để hướng
tới tính nhất quán trong ứng dụng và duy trì mô hình này ở các cấp cơ sở,
cộng đồng và quan trọng hơn cả là chính gia đình của trẻ khuyết tật.

nước. Bộ tài liệu bao gồm các hướng dẫn về quản lý, thực hiện, đào tạo cán
bộ, nhân lực, cộng tác viên cũng như những hướng dẫn về PHCN cho người
khuyết tật và gia đình. Trong 20 cuốn tài liệu hướng dẫn thực hành có cuốn “
Phục hồi chức năng cho trẻ chậm phát triển trí tuệ” ( PGS.TS Vũ Thị Bích
Hạnh chủ biên) bao gồm những kiến thức cơ bản nhất về khái niệm, triệu
chứng, cách phát hiện, các biện pháp chăm sóc và PHCN cho trẻ CPTTT.
Hơn nữa tài liệu cũng cung cấp một số thông tin cơ bản về những địa chỉ cung
cấp dịch vụ cần thiết mà các gia đình có thể tham khảo.
Bộ giáo dục còn có nghiên cứu “ Tài liệu giáo dục trẻ chậm phát triển trí
tuệ” cũng đưa ra những phương pháp giáo dục các kỹ năng cho trẻ CPTTT như:
kỹ năng vận động, kỹ năng học đường, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội…
Bài giảng “ Đại cương can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật trí tuệ”
của giảng viên Trần Thị Lệ Thu – Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội ( 2010)
cũng đã chỉ ra những nội dung cơ bản, cụ thể về những vấn đề liên quan
đến trẻ CPTTT.
Ngoài ra cũng có nhiều chương trình, dự án xây dựng và thực hiện
nhằm hỗ trợ cho nhóm đối tượng này như: dự án “ Xây dựng lớp học chậm
11


phát triển trí tuệ trên địa bàn thành phố Hòa Bình” do cô giáo Lê Thị Chiến
làm chủ nhiệm; “ Kế hoạch xây dựng, thực hiện chương trình can thiệp sớm
năm 2010 – 2011 cho trẻ chậm phát triển trí tuệ” của sở Giáo dục và Đào tạo
tỉnh Lâm Đồng…
Có thể thấy tất cả những nghiên cứu kể trên dù mang tính lý thuyết hay
thực hành công tác xã hội nhưng cũng chưa đi sâu vào thực tiễn vai trò của
nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ cho trẻ KTTT cũng như gia đình
trẻ. Ở nước ta hiện nay cũng đã có nhiều bệnh viện, trung tâm thực hiện các
mô hình PHCN cho trẻ chậm phát triển: Bệnh viện Nhi trung ương, các
trường/ trung tâm chuyên biệt ( trường Xã Đàn, Ánh Sao, Nắng Mai, Hy

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hình thành những quan niệm khoa học
trong việc nhìn nhận và triển khai vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc trợ giúp cho trẻ KTTT cũng như gia đình trẻ.
Nghiên cứu còn giúp xóa bỏ quan niệm sai lầm của đa số mọi người
trong việc suy nghĩ về sức khỏe tâm thần, coi những trẻ có vấn đề về sức khỏe
tâm thần, khiếm khuyết về trí tuệ là những người “ điên”, là “ không bình
thường”. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng có ý nghĩa trong việc mở ra
nhiều đối tượng can thiệp hơn cho ngành công tác xã hội ( trẻ khuyết tật và
gia đình trẻ).
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đối với trung tâm Hy Vọng: Nghiên cứu chỉ ra và làm rõ vai trò của
nhân viên công tác xã hội đang hoạt động tại đây; khẳng định và ghi nhận vai
trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp cho trẻ em khuyết tật trí
tuệ - nhóm trẻ chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Đồng thời, thông qua kết quả
nghiên cứu, trung tâm cũng có được cái nhìn tổng thể về những khó khăn
cũng như nhu cầu của gia đình trẻ khuyết tật; thấy được những mặt tích cực
và hạn chế trong triển khai hoạt động của trung tâm; giúp ban lãnh đạo, các
13


giáo viên trong trung tâm có những thay đổi về nhãn quan và nhìn nhận đúng
vai trò của nhân viên CTXH và tạo điều kiện cho nhân viên CTXH phát huy
tối đa vai trò của mình trong việc hỗ trợ cho trẻ khuyết tật trí tuệ và gia đình
trẻ. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh vai trò tham gia của nhân viên
CTXH trong mô hình trị liệu tại trường học. Từ đó ban lãnh đạo trung tâm có
định hướng thay đổi cơ cấu tổ chức mà cụ thể là tăng cường hệ thống nhân
viên CTXH tham gia vào hoạt động tại trung tâm.
Đối với gia đình trẻ: Nghiên cứu giúp cho cha, mẹ của trẻ nhận thức
được vai trò của mình trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật trí tuệ có cơ hội tiếp cận
các dịch vụ trợ giúp. Tăng cường sự hỗ trợ về mặt kiến thức, kỹ năng, các

Tìm hiểu, mô tả thực trạng trẻ em khuyết tật, trẻ khuyết tật trí tuệ tại địa
bàn nghiên cứu. Tiếp cận vấn đề trẻ em khuyết tật dưới góc độ quyền trẻ em
và nhu cầu của trẻ em; từ đó tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải
trong quá trình hòa nhập cộng đồng để có biện pháp hỗ trợ phù hợp.
Xác định vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao
năng lực cho cha, mẹ về chăm sóc và giáo dục trẻ em khuyết tật trí tuệ.
Tìm hiểu lý luận và thực tiễn về nhận thức của của cha, mẹ trẻ trong
vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ tại gia đình. Vận dụng phương
pháp công tác xã hội cá nhân và nhóm nhằm nâng cao nhận thức cho nhóm
cha, mẹ, góp phần trợ giúp cho trẻ em khuyết tật trí tuệ - một trong những
nhóm người yếu thế trong xã hội. Từ đó thấy được tiềm năng phát triển vai trò
của nhân viên CTXH trong việc trị liệu cho trẻ và gia đình trẻ mà đội ngũ các
thầy, cô giáo ở trung tâm không thể đảm đương được. Đồng thời nghiên cứu
cũng đưa ra những đề xuất để phát triển đội ngũ nhân viên CTXH chuyên
nghiệp làm việc trong mô hình trị liệu tâm lý tại trung tâm Hy Vọng.
Tìm hiểu, đánh giá mức độ nhận thức, năng lực của cha, mẹ trẻ khuyết
tật trí tuệ; những khó khăn, thiếu hụt cần trợ giúp; xác định rõ nhu cầu của họ
để tiến hành các can thiệp, trợ giúp thiết thực, ý nghĩa.
15


Quy trình vận dụng công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao năng lực
cho cha, mẹ có con bị khuyết tật trí tuệ. Bằng phương pháp thảo luận nhóm
tập trung, các buổi sinh hoạt nhóm nhằm tăng cường kiến thức, kỹ năng cho
cha, mẹ của trẻ.
Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị để các cấp, ban ngành, các tổ
chức liên quan và nhân viên công tác xã hội có biện pháp phù hợp nhằm nâng
cao hiệu quả của hoạt động trợ giúp cho nhóm trẻ em khuyết tật trí tuệ.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status