1
Trờng đại học s phạm hà nội
Khoa công tác xã hội
----------------
khóa luận tốt nghiệp
Đề tài:
Vai trò của nhân viên Công tác xã hội
trong việc hỗ trợ tâm lý cho ngời mẹ
có con là trẻ tự kỷ
Giảng viên hớng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Mai Hơng
Sinh viên thực hiện
: Bùi Thị Liễu
Lớp
: K62B - CTXH
Hà nội - 2016
LI CM N
Trong quỏ trỡnh tỡm hiu v tin hnh nghiờn cu phc v ti khúa lun
tt nghip Vai trũ ca nhõn viờn cụng tỏc xó hi trong vic h tr tõm lý cho
ngi m cú con l tr t k bờn cnh s n lc v c gng ca bn thõn, tụi ó
nhn c rt nhiu s quan tõm, giỳp cng nh s ng viờn tinh thn ca gia
ỡnh, thy cụ, cỏc cỏn b giỏo viờn ang lm vic ti trung tõm v bn bố.
1
2
Không bao giờ
Nhân viên công tác xã hội
Rất thường xuyên
VIẾT TẮT
CTXH
KBG
NV CTXH
RTX
3
3
5
Số lượng
SL
6
7
8
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Tỉ lệ phần trăm
TT
7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay cùng với sự phát triển xã hội, nhịp sống công nghiệp tại các
thành phố lớn ngày càng gấp gáp, hối hả đã góp phần không nhỏ trong việc tạo
ra những tác động đến cuộc sống gia đình và tâm lý con người. Nhất là đối với
trẻ thì tác động đó đưa đến những hậu quả đáng kể, ảnh hưởng đến sự phát triển
của trẻ và tạo ra những vấn đề đôi khi rất nghiêm trọng về thể chất và tâm lý.
Một trong những vấn đề đó chứng rối loạn tự kỷ đang xảy ra đối với trẻ em.
“Tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt cuộc đời, thường xuất
hiện trong 3 năm đầu đời. Tự kỉ là rối loạn thần kinh gây ảnh hưởng đến chức
năng hoạt động của não bộ. Tự kỉ có thể xảy ra ở bất kì cá nhân nào không phân
biệt giới tính,chủng tộc hay điều kiện kinh tế - xã hội. Đặc điểm của tự kỉ là
những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và
có hành vi, sở thích, hoạt động mang tinh hạn hẹp, lặp đi lặp lại.[14,15]
Tự kỷ không chỉ để lại hậu quả nghiêm trọng đối với bản thân các em, mà
nó con để lại hậu quả lớn đối với gia đình trẻ đặc biệt là người mẹ có con là trẻ
tự kỷ.Trên thực tế có rất nhiều người mẹ khi nhận thấy con mình có những biểu
hiện rối loạn tự kỷ, người mẹ trở lên lo lắng, căng thẳng mâu thuẫn vợ chồng,
đôi phần cảm thấy tội lỗi dày vò bản thân đã gây ra căn bệnh này cho con mình
mà dẫn đến những rối loạn tâm lý. Chính vì vậy, để chăm sóc và nuôi dưỡng cho
trẻ tự kỷ đạt kết quả tốt thì việc hỗ trợ tâm lý cho người mẹ có con là trẻ tự kỷ
rất quan trọng.
Hiên nay, Công tác xã hội đã và đang phát triển mạnh mẽ tại tất cả các
quốc gia và đang đi sâu vào tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, vai trò
của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho người mẹ có con là
trẻ tự kỷ là một lĩnh vực đang cần quan tâm. Tác nghiệp với nhóm đối tượng là
người mẹ có con là trẻ tự kỷ- người gặp khó khăn về tâm lý cần được hỗ trợ kịp
hội.
Vera Fahlberg (1998) mô tả tiến trình hình thành sự gắn bó vững chắc
như một chu kỳ tùy thuộc vào sự nhạy cảm của cha / mẹ với những dấu hiệu của
đứa trẻ khi trẻ thông tin các nhu cầu thể chất hay tâm lý. Các chu kỳ cho biết thế
nào là hình thức “đối thoại” sớm nhất, dẫn đến sự tương đồng giữa người lớn và
9
đứa trẻ. Sự bộc lộ nhu cầu và đáp ứng nhạy cảm, kế đó là sự giảm nhẹ căng
thẳng và nhờ vào sự lặp đi lặp lại theo thời gian của những chu kỳ như thế đã
dẫn đến sự cảm nhận của đứa trẻ về hình ảnh của cha/mẹ và xem cha/mẹ như
một nền tảng vững chắc, một người mà trẻ có thể dựa vào về mặt thể chất cũng
như tình cảm, một “cha mẹ đủ tốt” như Winnicott (1965) đã gọi. Quan sát những
mô hình quan hệ này trong năm đầu tiên của cuộc sống của trẻ cho phép nhân
viên xã hội chú ý đến những trục trặc trong những giai đoạn ban đầu của sự phát
triển tình cảm, để hiểu được mối quan hệ cha / mẹ - đứa trẻ và nhận diện được
những nhu cầu của cha mẹ.
Nghiên cứu của Imamura (1965), tiếp đó của Larry và Harrison Covello
(1973) đã nghiên cứu cách thức tương tác giữa cha mẹ với trẻ dưới 6 tuổi. Chính
trong những nghiên cứu này, các nhà tâm lý học cho chúng ta hiểu rõ hơn về
mối quan hệ gắn bó giữa cha mẹ và con cái mang tính cách chung nhất giúp
chúng ta hiểu được tầm quan trọng trong cách thức giáo dục của gia đình.
Ngoài ra, cũng cho chúng ta thấu hiểu được những trạng thái cảm xúc,nói cách
khác thì đó chính là những diễn biến về mặt tâm lý của cha mẹ trong quá trình
chăm sóc- giáo dục con .
Đa phần các tác giả nghiên cứu về trẻ tự kỷ, thường tập trung vào các chủ
đề như nhu cầu về trị liệu cho trẻ, nhu cầu về việc giáo dục hòa nhập cho trẻ,
nhu cầu về phục hồi chức năng cho trẻ… các nghiên cứu về việc hỗ trợ tâm lý
cho người mẹ, gia đình trẻ tự kỷchưa được nghiên cứu và đề cập theo chiều
Đồng thời khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Nhung – Khoa Giáo dục
đặc Biệt – ĐH SP HN với đề tài: “Tìm hiểu diễn biến tâm lý của cha mẹ có con
mắc Hội chứng Tự kỉ” nhằm mục đích tìm hiểu những phản ứng của các cha
mẹ khi biết con mình bị Tự kỉ. Cha mẹ phải chịu đựng rất nhiều những trạng
thái cảm xúc phức tạp, thường được gọi là “những trận bão cảm xúc” và nó có
thể kéo dài trong nhiều năm, tồn tại và ảnh hưởng rất nhiều đến thể xác cũng
như tinh thần của họ.
Nhìn chúng tại Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về sóc giáo
dục cho trẻ tự kỷ rất đang ghi nhận. Bên cạnh đó, cũng có các công trình nghiên
cứu hỗ trợ cho phụ huynh trẻ tự kỷ vẫn đòn hỏi tính ứng dụng cao hơn nữa. Tuy
nhiên, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu hỗ trợ cho người mẹ có con là trẻ
tự kỷ theo hướng CTXH nhằm nâng cao kỹ năng trong quá trình can thiệp cho
con mình.
12
Vì vậy, có thể khẳng định rằng đề tài này có những hướng đi mới so với
các nghiên cứu, đề tài trước đó.
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
-Vai trò nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho người mẹ
của trẻ tự kỷ.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 50 khách thể là người mẹ có con là trẻ tự
kỷ tại trung tâm Nắng Mai.
3.3. Pham vi nghiên cứu
3.3.1 Không gian nghiên cứu
Do điều kiện khách quan và chủ quan chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên
cứu như sau:
họ có thể giảm thiểu được phần nào căng thẳng, khủng hoảng tâm lý trong quá
trình chữa bệnh cho con mình.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu về đề tài, nhóm chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau:
6.1. Phương pháp phân tích tài liệu
- Mục đích: Tìm hiểu, thu thập, hệ thống, khái quát những vấn đề lý luận
liên quan đến đề tài.
- Nội dung: Tiến hành thu thập các thông tin có liên quan đến cơ sở lý
luận của đề tài và các thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu thực trạng khó
khăn tâm lý của người mẹ có con là trẻ tự kỷ từ đó đưa ra vai trò nhân viên
CTXH trong việc hỗ trợ tâm lý cho người mẹ có con là trẻ tự kỷ
- Cách tiến hành: Thu thập và tiến hành tham khảo, nghiên cứu các tài
liệu, sách báo đề cập đến vấn đề tâm lý; các tài liệu nghiên cứu đánh giá về thực
trạng khó khăn tâm lý cùa người mẹ có con là trẻ tự kỷ, từ đó chỉ ra vai trò
NVCTXH trong việc hỗ trợ tâm lý cho người mẹ có con là trẻ tự kỷ; tham khảo
một số luận văn của những người đã từng nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài
sau đó hệ thống hoá thành cơ sở lý luận của đề tài.
14
6.2. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Nhằm thu thập các thông tin cụ thể, khách quan liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
- Nội dung: Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng khó khăn tâm lý của người
mẹ có con là TTK, vai trò NVCTXH trong việc hỗ trợ tâm lý cho người mẹ có
con là trẻ tự kỷ tại trung tâm Nắng Mai
- Cách tiến hành:
+ Khách thể quan sát: Những người mẹ của trẻ tự kỷ từ ( 25tuổi đến 35
lại những thông tin thu thập được (trên cơ sở sự đồng ý của người được phỏng
vấn) dưới các hình thức: ghi âm, ghi chép nhanh bằng sổ tay cá nhân,...
Những thông tin thu thập được sẽ được tổng hợp và phân tích để thấy
được các quan điểm cá nhân về vấn đề nghiên cứu.
6.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng nhằm thu
thập các ý kiến tổng quan của sinh viên về vấn đề nghiên cứu.
- Nội dung: Trong bảng hỏi có nhiều nội dung khác nhau liên quan tới
thực trạng khó khăn tâm lý của người mẹ có con là trẻ tự kỷ và tìm hiểu những
mong muốn, nhu cầu của họ về vấn đề giải tỏa rối loạn tâm lý và cách thức can
thiệp tốt nhất cho trẻ tự kỷ.
- Cách tiến hành:
+ Số lượng mẫu: 50 mẫu
+ Cách chọn mẫu: Chọn mẫu tự nguyện
+ Cách tiến hành: Số mẫu sẽ được pháp cho trung tâm, sau đó sẽ phát
bảng hỏi với những đối tượng có nguyện vọng trả lời, cứ như vậy cho tới khi
phát hết số bảng hỏi dự kiến.
6.5. Phương pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học.
16
- Mục đích: Phương pháp này được sử dụng nhằm tổng hợp và xử lý
những thông tin đã thu thập được từ dạng tổng thể sang những thông tin cá biệt
phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài.
- Nội dung: Số liệu thu được sau điều tra chính thức được xử lý bằng
chương trình Microsoft Excel.
- Cách tiến hành: Mã hóa các thông tin và tiến hành tính toán.
6.6. Phương pháp Công tác xã hội nhóm
- Mục đích: Nhằm làm rõ vai trò của công tác xã hội nhóm trong việc trợ
Đề tài nghiên cứu sẽ là tài liệu để học tập, tham khảo cho những ai quan
tâm đến vấn đề giúp đỡ hỗ trợ người mẹ của trẻ có trạng thái tâm lý ổn định
trong quá trình can thiệp cho con mình một cách tốt nhất, khắc phục tình trạng
rối loạn tâm lý của người mẹ. Đề tài cũng góp phần làm rõ hơn vai trò của nhân
viên Công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho người mẹ của trẻ tự kỷ tại
trung tâm Nắng Mai.
8. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài nghiên cứu gồm có 3 phần: Mở đầu; Nội dung và Kết
luận. Trong đó phần Nội dung gồm có 3 chương:
Chương1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Thực trạng khó khăn tâm lý của người mẹ có con là trẻ tự kỷ
Chương 3: Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý
cho người mẹ có con là trẻ tự kỷ.
18
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. 1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1.1. Khái niệm Công tác xã hội và công tác xã hội nhóm
•
Khái niệm công tác xã hội
Xuất phát từ những cách thức khác nhau của sự giúp đỡ đối tượng có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, từ mục đích, phương pháp giải quyết các vấn đề xã
hội và từ quan niệm về Công tác xã hội đã dẫn đến nhiều định nghĩa về công tác
xã hội. Tuy những định nghĩa này không mâu thuẫn, đối lập nhau nhưng mỗi
định nghĩa thường chú trọng đến một mặt hoặc một khía cạnh, đặc trưng nào đó
của Công tác xã hội, chưa bao quát, chưa phản ánh đầy đủ bản chất của công tác
khoa học chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải quyết và dự phòng
những vấn đề xã hội nảy sinh do thành viên xã hội thiếu khả năng thích ứng với
cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng chức năng xã hội. tính năng của nó là điều
chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội, đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc
đẩy sự phát triển ổn định của xã hội, thông qua phục vụ xã hội và quản lí xã hội.
Theo Từ điển bách khoa ngành công tác xã hội: công tác xã hội là một
khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra
những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội.
Năm 2000, tại Đại hội montreal, Liên đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp
quốc tế (IFSW) đã phát triển định nghĩa Công tác xã hội theo hướng tiếp cận
mới: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc đẩy việc
giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và
giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ thoải mái và dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội
can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân
quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội.
Trong cuốn từ điển xã hội học của hai tác giả G.Endruweit và
G.Tromsmdoorff, nhà xuất bản thế giới, xuất bản năm 2001: CTXH là một dịch
vụ đã chuyên môn hóa- một việc giúp đỡ có tính cá nhân- để giải quyết những
vấn đề xã hội đặc biệt.
20
Năm 2004, Liên đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế họp ở
Canada đã thảo luận, bổ sung và đưa ra định nghĩa: CTXH là hoạt động chuyên
nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải
quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ xã hội) vào quá
trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và
cộng đồng. Công tác xã hội đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa
một định nghĩa chung, khái quát về Công tác xã hội như sau:
Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền
tảng khoa học chuyên nghành, nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá
nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn
lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững. [2;45,46]
•
Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Xuất phát từ nhiều cách quan niệm, cách hiểu về Công tác xã hội khác
nhau nên cũng có nhiều cách gọi khác nhau về người làm công tác xã hội.Sự đa
dạng trong các hoạt động xã hội là cơ sở dẫn đến sự phong phú của việc nhận
diện người làm công tác xã hội.Từ khi công tác xã hội chuyên nghiệp ra đời
người ta mới chú ý đến khái niệm nhân viên công tác xã hội.
Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới người làm công tác xã hội được gọi
với những gọi khác nhau như: nhân viên xã hội, cán sự xã hội, cán bộ xã hội,
nhân viên công tác xã hội, cán bộ làm công tác xã hội... Dù cách gọi tên như thế
nào thì người làm công tác xã hội chuyên nghiệp là người được đào tạo chuyên
nghiệp và trong quá trình thực hành tác nghiệp phải dựa trên nền tảng lý thuyết
hệ thống kiến thức khoa học được trang bị và sử dụng phương pháp, kỹ năng
chuyên nghiệp của nghề nghiệp chuyên môn công tác xã hội.
Ở Việt Nam, người làm công tác xã hội được biết đến phổ biến muộn hơn
( từ sau năm 2000) nhưng tương đối thống nhất với tên gọi nhân viên công tác
xã hội và được gọi tắt là nhân viên xã hội.
Nhân viên xã hội là những người có trình độ chuyên môn, được trang bị
kiến thức, kĩ năng về công tác xã hội chuyên nghiệp và sử dụng kiến thức, kĩ
năng đó trong quá trình tác nghiệp trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, nhóm,
22
-
thuẫn và khủng hoảng.
Hỗ trợ trẻ em có vấn đề liên quan đến pháp luật,+ tư pháp vị thành niên.
23
-
Hỗ trợ giải quyết vấn đề gặp phải của đối tượng liên quan đến tham vấn – giáo
-
dục học đường.
Hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏa trong hệ thống cơ sở y tế.
Hỗ trợ các đối tượng thuộc bảo trợ xã hội như: người già cô đơn và trẻ em
-
không nơi nương tựa và người tàn tật.
Hỗ trợ giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Nghiên cứu xã hội à hoạch định các
•
chính sách
Khái niệm Công tác xã hội nhóm
- Khái niệm nhóm xã hội: “ Nhóm là một thuật ngữ dùng để chỉ tập hợp
người có mối quan hệ tương tác đa chiều, hình thành trên cơ sở tự nguyện hoặc
sắp đặt, có chung mục đích, một hay nhiều mối quan tâm hoặc lợi ích ”. [3;59]
khi có vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa hai hay nhiều người.
- Hai là, phương pháp CTXH nhóm được sử dụng để tác động, trợ giúp
thay đổi hoàn cảnh khi một số người có vấn đề hoặc nhu cầu giống nhau trong
một cộng đồng hoặc một địa bàn.
- Ba là, phương pháp CTXH nhóm được sử dụng khi cần có sự trao đổi,
thảo luận và đi đến thống nhất hành động giải quyết một vấn đề nào đó, thực
hiện một mục tiêu nào đó của tập thể, đơn vị, tổ chức.
•
Các loại hình CTXH Nhóm:
Việc phân biệt các loại hình CTXH nhóm chỉ mang tính chất tương
đối.Trong thực tế, tác động của nhóm là rất lớn và cơ chế rất phức tạp. Do đó,
khi sử dụng một hoạt động nhóm, có thể hướng đến nhiều mục tiêu hoặc cũng
có thể dùng nhiều loại hình nhóm để đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó.
- CTXH nhóm chức năng giải trí
- CTXH nhóm giáo dục
- CTXH nhóm trị liệu
- CTXH nhóm tái tạo – tái tạo xã hội hóa cá nhân
- CTXH nhóm tự giúp
- CTXH nhóm nhiệm vụ
•
Đặc trưng của CTXH Nhóm:
Đặc trưng về đối tượng tác nghiệp
Đối tượng tác nghiệp của CTXH Nhóm là toàn nhóm.CTXH Nhóm thông
qua tiến trình nhóm và các phương pháp, kĩ năng hoạt động tác động đến toàn
bộ thành viên của nhóm. Sự tác động này lấy tác động đồng thời là chủ yếu,
không phải tác động đơn lẻ trên từng đối tượng và với những cách thức khác
sự tác động trở lại; Lấy ảnh hưởng của nhóm để tạo sự thay đổi hành vi, thái độ,
nhận thức của mỗi thành viên.
Đặc trưng về vai trò và mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và đối tượng tác
nghiệp
Nhân viên xã hội đóng vai trò chủ yếu là người tổ chức, điều phối, hướng
dẫn, định hướng hoạt động của nhóm qua các giai đoạn và ở những mức độ, vai
trò cụ thể khác nhau. Ảnh hưởng của nhân viên xã hội trong hoạt động nhóm
chủ yếu mang tính gián tiếp thông qua việc tạo môi trường lành mạnh, thúc đẩy
sự tương tác dẫn đến sự thay đổi tích cực của cả nhóm và của mọi thành viên
trong việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và vai trò của cá nhân trong nhóm cũng