Nghiên cứu biến đổi sử dụng đất phục vụ phát
triển sinh kế bền vững khu vực xã Tản Lĩnh,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Nguyễn Hoàng Hoa
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15
Người hướng dẫn: PGS. TS. Phạm Văn Cự
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Tổng quan về biến đổi sử dụng đất; sinh kế bền vững; mối quan hệ giữa
biến đổi sử dụng đất và sinh kế. Phân tích sự biến động sử dụng đất tại khu vực nghiên
cứu giai đoạn 1993 - 2010 tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Xác định
mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế của người dân tại xã
Tản Lĩnh. Đánh giá về các loại hình sinh kế liên quan tới sử dụng đấtnôngnghiệp tại
xã Tản Lĩnh.
Keywords: Sử dụng đất; Sinh kế bền vững; Ba vì
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, đã và đang diễn ra những sự thay đổi
trong sử dụng đất và sinh kế của người dân, đặc biệt từ sau khi Luật đất đai 1993 và Luật đất
đai mới năm 2003 ra đời. Cụ thể, khác với trước đây, bên cạnh loại hình sử dụng đất chủ yếu
là trồng lúa, hoa màu; nơi đây đã xuất hiện thêm loại hình mới là trồng cỏ (phục vụ nuôi bò
sữa), và sinh kế của người dân cũng phát triển thêm rất nhiều phương thức mới như nuôi bò
sữa hay thu mua sản phẩm sữa.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về những sự thay đổi nói trên tại Việt Nam nói chung và
sinh kế đểtừ đó đưa ra những đánh giá phù hợp về phát triển sinh kế của người dân.
- Ý nghĩa thực tiễn:Sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính kết hợp với
không gian hóa dữ liệu điều tra nông hộ để thể hiện mối quan hệ giữa sử dụng đất nông
nghiệp và sinh kế, nhằm phục vụ đánh giá phương thức sinh kế gắn với hoạt động nông
nghiệp của người dân tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội.
5. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu
- Kết quả điều tra 198 hộ gia đình trên toàn bộ 13 thôn của xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội thuộc dự án “Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và
3
thay đổi sinh kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng” (DANIDA) của Trung tâm quốc tế
nghiên cứu biến đổi toàn cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Số liệu thống kê kinh tế xã hội xã Tản Lĩnh năm 2008 và 2009.
- Ảnh vệ tinh Landsat các năm 1993, 2005, và 2010 tại khu vực nghiên cứu.
- Bản đồ nền xã Tản Lĩnh năm 2005
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp 1: Phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của
người dân(Participatory Rural appraisal – PRA)
Đây là một phương pháp hệ thống bán chính quy được tiến hành ở một địa điểm cụ thể
bởi một nhóm liên ngành và được thiết kế để thu thập được những thông tin cần thiết và
những giả thuyết cho sự phát triển nông thôn. Trong đề tài này, PRA được sử dụng trong giai
đoạn đầu của dự án “Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh
kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng” (DANIDA) của Trung tâm quốc tế nghiên cứu biến
đổi toàn cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trình tự tiến hành theo các bước chính: (i) Chọn điểm
và thông qua các thủ tục, cho phép của chính quyền địa phương; (ii) Tiền trạm điểm để khảo
sát; (iii) Điều tra chọn mẫu để thu thập thông tin: không gian, thời gian (giai đoạn 2005 –
2011), đặc điểm kinh tế - xã hội; (iv) Tổng hợp số liệu và phân tích các vấn đề phục vụ cho
mục tiêu nghiên cứu.Trong đó, trong giai đoạn điều tra chọn mẫu, riêng tại xã Tản Lĩnh, số hộ
mẫu được lựa chọn tại 13 thôn trung bình là 15 hộ/thôn với tổng số là 198 hộ, dựa trên danh
- Phương pháp 4: Phương pháp phân tích nhân tố
Phân tích nhân tố là mô hình toán học cho phép đưa số lượng lớn chỉ tiêu quan trắc về
một số các nhân tố mà chỉ bị mất mát một phần những thông tin ban đầu. Các nhân tố là
những tổ hợp tuyến tính của các chỉ tiêu quan trắc. Trên cơ sở các nhân tố này, ta có thể tính
được các chỉ số tổng hợp mang thông tin khái quát mới về chất [1]. Trong đề tài này, phương
pháp phân tích nhân tố được sử dụng là phân tích trục thành phần chính (Principal Component
Analysis – PCA). PCA là công cụ phân tích nhân tố sử dụng với mục đích giảm dữ liệu.
Thuật toán PCA tìm kiếm sự kết hợp tuyến tính giữa các biến mà phương sai của chúng đạt
cực đại. Sau đó, loại bỏ phương sai này ra khỏi mô hình và cố gắng tìm kiếm sự kết hợp tuyến
tính thứ hai để có thể giải thích tối đa phần còn lại của phương sai và quá trình tiếp tục được
thực hiện tới khi tất cả các phương sai được loại trừ hết. Đây được gọi là phương pháp trục
thành phần chính và kết quả là các nhân tố trực giao (do vậy không có quan hệ).
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 3 phần chính. Trong đó, chương đầu tiên tổng quan các vấn đề lý
luận chung về biến đổi sử dụng đất, sinh kế bền vững, mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất
và sinh kế, đồng thời tổng quan lại các công trình nghiên cứu được thực hiện tại xã Tản Lĩnh,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Chương tiếp theo nêu các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội
tại khu vực nghiên cứu và phân tích biến động sử dụng đất giai đoạn 1993 – 2010 tại đây.
Chương cuối phân tích mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế của
người dân tại xã Tản Lĩnh, từ đó nêu những đánh giá về các loại hình sinh kế nông nghiệp liên
quan.
5
Chương 1 – TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan vềnghiên cứu biến đổi sử dụng đất
Liên quan tới biến đổi sử dụng đất, dựa trên 320 nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí
trong các lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học xã hội, có những từ “sử dụng đất”, “biến đổi sử
dụng đất”, “biến đổi lớp phủ và sử dụng đất” hoặc “biến đổi lớp phủ đất” trong tiêu đề hoặc từ
khóa, các tác giả B. McCusker và E.R.Carrđã tổng kết 4 xu hướng nghiên cứu chính[22]:
- Nguyên nhân của sự biến đổi sử dụng đất thường được cho là do kết hợp lại các động
với và phục hồi sau những áp lực và cú sốc và duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản hiện
tại cũng như trong tương lai; (ii) Không làm hủy hoại nguồn tài nguyên tự nhiên.
1.2.2. Đặc điểm phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững của DFID
Khái niệmvề sinh kế và sinh kế bền vững trên đã dẫn đến một số phương pháp tiếp cận
sinh kế tập trung chặt chẽ vào truy cập các loại tài sản của người dân. Trong các phương pháp
tiếp cận sinh kế bền vững, phương pháp được phát triển tại DFID từ năm 1998có trọng tâm là
khung sinh kế bền vững - một cấu trúc phân tích để tạo điều kiện cho một sự hiểu biết rộng
lớn và mang tính hệ thống của các yếu tố khác nhau có tác dụng hạn chế hoặc tăng cường cơ
hội sinh kế và để chỉ ra cách chúng liên quan với nhau [21]. Khung sinh kế bền vững được
DFID xây dựng với các nhân tố: khung hoàn cảnh dễ bị tổn thương, tài sản sinh kế, cấu trúc
chuyển đổi và quá trình thực hiện, các chiến lược sinh kế và kết quả.Trong đó, nhân tố quan
trọng, đóng vai trò trung tâm của khung sinh kế bền vững là tài sản sinh kế với 5 loại vốn:
nhân lực, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội [17].
1.3. Tổng quan về mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế
1.3.1. Trên thế giới
Mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế thường được nghiên cứu theo hướng
một chiều, tức là nhân tố này đóng vai trò tác động, gây ra sự thay đổi cho nhân tố kia, mà ít
có sự quan tâm tới tác động ngược lại, thậm chí chúng còn được nghiên cứu riêng biệt, không
có mối liên quan với nhau. Kết quả nghiên cứu của các tác giả B. McCusker và E.R. Carr [22]
là minh chứng rõ ràng và cụ thể cho điều này. Cụ thể, trong số 209 tài liệu tham khảo được
xác định có liên quan tới sinh kế chỉ có 5% (12) giải quyết biến đổi sử dụng đất (tập trung vào
các quá trình của sự biến đổi, không phải khái niệm rộng rãi về đất như đầu vào của hệ thống
sinh kế) trong các bối cảnh sinh kế và 11% (35) trong số 320 nguồn tài liệu về biến đổi sử
dụng đất có tham chiếu cụ thể tới khái niệm sinh kế bất kỳ. Hệ quả của hướng nghiên cứu này
được các tác giả B. McCusker và E.R. Carr đưa ra: (i) Bằng cách coi thay đổi sử dụng đất như
là kết quả của một vài động lực chính trị, kinh tế, môi trường, các tài liệu sử dụng đất đã vô
tình che khuất câu chuyện làm thế nào và tại sao con người tương tác với môi trường của họ
theo những cách nhất định và lý do tại sao kết quả từ cùng một hành động trong không gian
hoặc quy mô có thể khác nhau nhiều như vậy; (ii) Lý thuyết sinh kế xử lý các mối liên kết
giữa sinh kế, đặc biệt là đa dạng hóa, và sử dụng đất như là một trong những nguyên nhân và
Lemmen, Harry Uitermark, Tran Quoc Binh (2012), “Investigating the Conformity between
the Land Administration Domain Model and the Vietnamese Land Administration System”,
FIG Working Week 2012, Italy) hoặc sinh kế (Nguyễn Quốc Toản, Adam Pain, Vũ Chí
Cương (2008), “Thực trạng chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình tại Ba Vì 2006 – 2007”, Tạp
chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, 15, tr. 1-7.). Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào đề cập
tới mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế tại đây. Khu vực này được lựa chọn để
nghiên cứu bởi sự đổi thay dễ nhận thấy trong sử dụng đất và sinh kế của người dân, nhất là
từ khi Luật đất đai 1993 và Luật đất đai mới năm 2003 ra đời. Sự thay đổi này đặt ra rất nhiều
câu hỏi đáng để quan tâm và nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn như sau: (i)Quá
8
trình biến động sử dụng đất tại xã Tản Lĩnh giai đoạn 1993 – 2010 diễn ra như thế nào, đặc
biệt đối với các loại hình đất sản xuất nông nghiệp? (ii) Đặc điểm sinh kế chính của các hộ
dân tại xã Tản Lĩnh ra sao? (iii) Khung sinh kế bền vững được áp dụng như thế nào trong
nghiên cứu? (iv)Biến đổi sử dụng đất và sinh kế có mối quan hệ thế nào?
Chương 2 – ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG
ĐẤT GIAI ĐOẠN 1993 – 2010 TẠI XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
2.1. Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Xã Tản Lĩnh là một trong 31 xã của huyện Ba Vì, giáp với các xã sau:
phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh và xã Thụy An, phía Nam giáp xã Vân Hòa, phía Đông giáp Thị
xã Sơn Tây, phía Tây giáp xã Ba Vì, Ba Trại.
*Đặc điểm địa hình: có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông, nằm trong dải trung du
đặc biệt giữa một khối núi được hình thành do nâng tân kiến tạo dạng vòm – khối tảng với
đỉnh Tản Viên có độ cao 1200m, chuyển rất nhanh xuống đồng bằng trũng Hà Nội cao xấp xỉ
10m qua dải chuyển tiếp nghiêng thoải và đều với địa hình đồi và đồng bằng đồi cao từ 15 –
35 – 40m[2].Về mặt nguồn gốc hình thái địa hình bao gồm các kiểu địa hình do bóc mòn tổng
hợp; địa hình sườn và địa hình dòng chảy [2].
* Dân số: Theo số liệu điều tra năm 2009, xã Tản Lĩnh tổng số dân là 10853 người,
trong đó hơn 90% số dân thuộc dân tộc Kinh, còn lại là dân tộc Mường với 8682 lao động
nông nghiệp, số lao động phi nông nghiệp là 2170 lao động làm các ngành nghề khác nhau
như công nhân viên chức, tiểu thủ công nghiệp, du lịch – dịch vụ Do đặc thù của địa bàn nên
mức tăng dân số của xã chủ yếu là gia tăng dân số tự nhiên, với tốc độ tăng dân số năm2009
đạt 1.2%.
* Cơ cấu kinh tế: Các chỉ tiêu kinh tế tăng ổn định, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển
dịch từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp với thu nhập bình quân trên đầu người là 6,425
triệu/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới là 9,72% năm 2009. Nông nghiệp chiếm 45% năm
2008 và giảm xuống 35,5% năm 2009 trong cơ cấu kinh tế của xã Tản Lĩnh, với thế mạnh
trồng trọt (bình quân lương thực 3785,4 tấn năm 2009) và chăn nuôi gia súc gia cầm, nhất là
chăn nuôi, chế biến các sản phẩm từ sữa bò của địa phương đang được đầu tư và phát triển
tốt. Phi nông nghiệp cũng có những thành tựu đáng kể (chiếm 55% năm 2008 và tăng lên
64,5% năm 2009), nhất là hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành dịch vụ và du
lịch phát triển khá nhanh [7,8].
* Cơ sở hạ tầng: Đồng thời với sự phát triển kinh tế, hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa
bàn xã đã từng bước được đầu tư xây mới và nâng cấp.Hệ thống giao thông của xã đã được
đầu tư xây dựng mở rộng và làm mới như đường 87A, đường vào Ao Vua; đường vào Vườn
quốc gia được đổ bê tông với chiều dài 2km; hệ thống giao thông chính trong khu dân cư của
xã như thôn Hát Giang, Đức Thịnh,… , hệ thống đường giao thông nội đồng. Bên cạnh đó, hệ
thống thủy lợi của xã đã được đầu tư tu sửa thường xuyên, và kiên cố hóa một phần hệ thống
kênh mương thuộc thôn Đức Thịnh, Hát Giang, Cẩm Phương,…song vẫn chưa đáp ứng được
10
nhu cầu nước tưới của các khu vực cao dẫn tới vẫn còn tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất
nông nghiệp.
2.2. Hiện trạng sử dụng đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nộinăm
1993, 2005, 2010
Để đánh giá hiện trạng sử dụng đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội,
phương pháp phân loại có kiểm định theo thuật toán hợp lý tối đa (Maximum Likelihood) đã
33,7
3,3
23
Đất phi nông nghiệp
Đất ở tại nông thôn
Đất chuyên dùng
Đất có mặt nước chuyên dùng
643,2
4,4
156,4
23,2
0,2
5,6
Nguồn: Thống kê từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất 1993 sử dụng Arcgis10.0
Bảng 2.4. Diện tích và cơ cấu các loại đất xã Tản Lĩnh năm 2005
Loại đất
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Đất nông nghiệp
11
Đất trồng lúa
621,1
22,4
Đất trồng cây hàng năm khác
274,9
Bảng 2.5. Diện tích và cơ cấu các loại đất xã Tản Lĩnh năm 2010
Loại đất
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Đất nông nghiệp
Đất trồng lúa
Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
Đất lâm nghiệp
553,6
297,7
104
32,5
559,9
19,9
10,7
3,7
1,2
20,2
Đất phi nông nghiệp
Đất ở tại nông thôn
Đất chuyên dùng
Đất có mặt nước chuyên dùng
806
107,3
316,1
Hình 2.6. Bản đồ biến động sử dụng đất xã Tản Lĩnh giai đoạn 2005-2010
15
Chương 3 –MỐI QUAN HỆ GIỮA BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ
SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
3.1. Hướng nghiên cứu mối quan hệ kinh tế xã hội sử dụng kết hợp giữa mô hình
phân tích nhân tố và không gian hóa bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Tại Việt Nam, mô hình cũng đã được áp dụng với một số kết quả khá khả quan trong
nghiên cứu các đối tượng và mối quan hệvề tự nhiên cũng như kinh tế xã hội. Trong đó, theo
tác giả Nguyễn Cao Huần [3], các nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích nhân tố
thường thiên về nghiên cứu các đối tượng kinh tế xã hội. Hướng nghiên cứu các đối tượng
cũng như mối quan hệ kinh tế xã hội sử dụng kết hợp giữa phân tích định lượng(trong đó, mô
hình nhân tố là một trong những phương pháp hiệu quả) và không gian hóa bằng hệ thống
thông tin địa lý (GIS) đã có một số kết quả đáng lưu ý tại Việt Nam[5, 13].Hướng nghiên cứu
này dựa trên cơ sở chấp nhận “các quan hệ xã hội thực chất là quan hệ xã hội – không gian”
[16].Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm “tính không gian quan hệ” và khẳng định vai
trò của không gian trong các quan hệ xã hội biểu hiện qua tổ chức lãnh thổ ở nhiều quy mô
[9]. Theo Weber và những người khác [19, 29], sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất có tác động
đến các chỉ số kinh tế chủ đạo như thu nhập từ nông nghiệp hay đầu tư lao động. Trong phạm
vi đề tài này, học viên tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông
nghiệp và sinh kế bằng cách sử dụng các dữ liệu điều tra kinh tế xã hội của nông hộ kết hợp
với không gian nghiên cứu. Cụ thể, các đơn vị hành chính cấp thôn của xã Tản Lĩnh được sử
dụng làm đơn vị không gian trong phân tích. Trong khi đó, các cặp quan hệ được đánh giá
nhờ vào dữ liệu thống kê thu thập từ điều tra nông hộ (gồm 198 hộ thuộc 13 thôn của xã Tản
Lĩnh), thông qua sử dụngphân tích thành phần chính (PCA) – một trong các phương pháp
phân tích nhân tố với mục đích giảm số lượng các biến (dữ liệu). Một cách ngầm định, các đối
tượng nghiên cứu đã được đặt vào vị trí địa lý và được đặc tả bởi các dữ liệu số về không gian
lẫn thuộc tính mà trong phần tiếp theo sẽ có trình bày cụ thể.
onga
Hộ
Số hộ có nguồn thu nhập chính từ trồng lúa, hoặc
nuôi trâu bò, hoặc nuôi lợn, hoặc nuôi gia cầm
TN_bosua
Hộ
Số hộ có nguồn thu nhập chính từ nuôi bò sữa
Bảng 3.2. Bảng mô tả định lượng các biến
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Số lượng
Phân tích
N
Traubo_longa
10,00
3,764
13
Bo_sua
2,62
2,815
13
DT_lua_2011
14950,62
9297,480
13
DT_hangnamkhac_2011
6601,69
Ma trận thành phần sau khi quay(a)
17
Thành phần
Thành phần
1
2
1
2
Traubo_longa
0.643
0.489
Traubo_longa
0.338
0.734
Bo_sua
0.889
-0.376
Bo_sua
0.962
0.087
DT_lua_2011
0.486
0.756
DT_lua_2011
0.074
0.896
DT_hangnamkhac
chuẩn Kaiser.
a 2 thành phần được tách
a Phép quay hội tụ sau 3 vòng lặp
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ SPSS 20.0
Quay varimax được thực hiện để tạo tải trọng nhân tố cho mỗi biến nhằm tăng thêm
khác biệt giữa nhân tố. Bảng 3.7 thể hiện ma trận thành phần với giá trị các biến trước và
sau khi quay theo đồ thị thành phần cho phép xác định hai thành phần triết xuất từ phân tích
thành phần chính. Dựa vào kết quả ma trận thành phần sau khi quay, các biến Traubo_longa,
DT_lua_2011, DT_hangnamkhac_2011, TN_lua_traubo_longa có tương quan mạnh với
nhau và thuộc thành phần chính 2 hay còn gọi là “sinh kế nông nghiệp truyền thống” (trồng
lúa, trồng các cây hàng năm khác hay chăn nuôi trâu bò, lợn, gà…). Trong khi đó, các biến
còn lại là Bo_sua, DT_co_11, TN_bosua có tương quan mạnh với nhau và thuộc thành phần
chính 1 hay còn gọi là“sinh kế nông nghiệp mới” (chăn nuôi bò sữa, trồng cỏ).
Các giá trị nhân tố trong PCA còn gọi là giá trị thành phần. Các giá trị nhân tố này
được tính toán chính xác cho từng trường hợp riêng biệt (quan sát) của các thành phần theo
công thức sau:
F
i
= W
i1
X
1
+ W
i2
X
2
+ W
i3
X
3
- Kết quả phân tích thành phần chính (PCA) tuy dựa trên số lượng trường hợp nhỏ (13
trường hợp hay 13 thôn) nhưng có các chỉ số (ma trận tương quan, kiểm tra KMO và
Barlett…) phù hợp với điều kiện để lựa chọn các biến và xây dựng phân tích.
- Hai thành phần chính đã được rút ra từ mô hình PCA là “Sinh kế nông nghiệp mới”
và “Sinh kế nông nghiệp truyền thống” phù hợpvới đặc trưng sản xuất và sử dụng đất nông
nghiệp của các hộ dân được điều tra tại xã Tản Lĩnh.
- Các giá trị nhân tố của hai thành phần rút ra từ phân tích thành phần chính được kết
hợp với GIS để thể hiện sự phân bố về mặt không gian của các trường hợp nghiên cứu, mà cụ
thể trong đề tài này chính là các hộ gia đình đại diện cho 13 thôn của xã Tản Lĩnh:
* Ý nghĩa của phân tích
- Ý nghĩa khoa học:
Ý nghĩa của nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra mối quan hệ giữa biến
đổi sử dụng đất và sinh kế qua phân tích thành phần chính, mà còn không gian hóa được dữ
liệu này thông qua hệ thông tin cơ sở địa lý, tạo cơ sở cho các nghiên cứu cụ thể hơn (ví dụ:
đánh giá sự bền vững của hai thành phần sinh kế này trong tương lai) hoặc các nghiên cứu
tương tự về hoạt động sản xuất và sử dụng đất nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp khác (ví dụ:
mối tương quan giữa diện tích đất ở và đất chuyên dùng và thu nhập phi nông nghiệp).
- Ý nghĩa thực tiễn:
Thực tế kinh tế xã hội tại xã Tản Lĩnh hiện nay cho thấy trong lĩnh vực hoạt động sản
xuất và sử dụng đất nông nghiệp rõ ràng diễn ra hai sự phát triển chính là trồng cỏ - chăn nuôi
bò sữa và trồng lúa – chăn nuôi trâu bò, lợn, gà, tương ứng và phù hợp với hai thành phần đã
được rút ra từ mô hình phân tích thành phần chính. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dựa trên
kết quả điều tra 198 hộ dân của 13 thôn trong xã Tản Lĩnh nên kết quả không gian hóa chỉ đại
diện cho đặc trưng sản xuất và sử dụng đất của các hộ gia đình được điều tra.
19
Hình 3.6. Bản đồ giá trị nhân tố của thành phần chính “Sinh kế nông nghiệp mới”
20
phân tích thành phần chính, hoặc cũng có thể sử dụng để nghiên cứu khía cạnh về mối tương
quan giữa sử dụng đất và sinh kế phi nông nghiệp tại xã Tản Lĩnh.
References
Tiếng Việt
1. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu với SPSS, NXB Hồng
Đức, Hồ Chí Minh.
22
2. Lê Thị Hải Uyên (2012), Nghiên cứu đánh giá tiềm năng, thực trạng và đề xuất giải pháp
phát triển du lịch khu vực xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, Hà Nội, Đề tài NCKH cấp cơ sở,
Trung tâm hỗ trợ đào tạo và phát triển đô thị đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
3. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
4. Nguyễn Đăng Khôi (1972), “Đồng cỏ Ba vì”, Tập san sinh vật – Địa học, 9 (34), tr.97-106,
Hà Nội.
5. Phạm Văn Cự, Vũ Kim Chi, Lê Quang Toan, Đinh Thị Diệu, Đỗ Thị Hải Yến, Lưu Thị
Ngoan, Phillippe Charrette, Sarah Turner, Raja Sengupta (2008), “Phân tích định lượng và
tiệm cận không gian trong nghiên cứu nông thôn (ví dụ huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam và
Sapa, tỉnh Lào Cai)”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, tr. 256- 267, Hà
Nội.
6. Sally P. Marsh, T. Gordon MacAulay, Phạm Văn Hùng (2007), “Phát triển nông nghiệp và
chính sách đất đai ở Việt Nam”, ACIAR Monograph, 123, tr.272.
7. UBND xã Tản Lĩnh (2008), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
xã hội năm 2008 - phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2009, Hà Nội.
8. UBND xã Tản Lĩnh (2009), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
xã hội năm 2009 phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2010, Hà Nội.
Tiếng Anh
9. Amin A.(2004),“Regions unbound: towards a new politics of place”. Geografiska Annaler,
86B (1), p. 33−44.
23. Nabasa J., Rutwara G., Walker F., Were C. (1995), Participatory Rural appraisal:
Practical experiences, Natural Resources Institute, United Kingdom.
24. Pallant J. (2001), “SPSS survival manual: a step by step guide to data analysis using spss
for windows (version 10)”, Open University Press, Buckingham.
25. Preacher K.J., MacCallum R.C. (2002), “Exploratory Factor Analysis in Behavior
Genetics Research: Factor Recovery with Small Sample Sizes”, Behavior Genetics, 32,
p.160.
26. Que T.T (1998), “Economic reforms and their impact on agricultural development in
Vietnam”, ASEAN Economic Bulletin, 15 (1), p. 30-46.
27. Scoones I. (1998), “Sustainable rural livelihoods: a framework for analysis”, IDS Working
Paper 72, Sussex.
28. Seto K. C. (2006), “Economies, societies, and landscapes in transition: Examples from the
Pearl River Delta, China and the Red River Delta, Vietnam”, NRC Press, p. 193-218.
29. Weber A., Fohrer N., Moller D.,(2001). “Long‐term land usechanges in a mesocale
watershed due to socio‐economic factors:Effects on landscape structures and
functions”,Ecol. Model, 140(1‐2), p. 125‐140.