MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5.1. Phương pháp luận 4
5.2. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 4
6. Các loại số liệu cần thu thập 5
7. Kết cấu chính của Luận văn 6
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH
DỄ BỊ TỔN THƢƠNG ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG CƢ DÂN MIỀN NÚI 7
1.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn
thương 7
1.1.1. Biến đối khí hậu 7
1.1.2. Khí hậu cực đoan 7
1.1.3. Khả năng bị tổn thương (Vulnerability) 9
1.1.4. Đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu 11
1.2. Biến đổi khí hậu và sinh kế bền vững 15
1.2.1. Bối cảnh nghiên cứu sinh kế bền vững 15
1.2.2. Nghiên cứu sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu 18
CHƢƠNG 2: CÁC ĐẶC TRƢNG SINH KẾ VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 22
Ở 07 XÃ MIỀN NÚI HUYỆN BA VÌ 22
của hộ 38
Bảng 2.5: Phân bố tỷ lệ (%) các hộ gia đình được điều tra theo phương thức
ứng phó với các hiện tượng thời tiết bất thường trong sản xuất nông nghiệp và
chăn nuôi 40
Bảng 3.1: Tổng hợp các chỉ số được đưa vào đánh giá tính VI 42
Bảng 3.2: Vai trò của các chỉ số trong đánh giá tính tổn thương 46
Bảng 3.3: Kết quả tính chỉ số tổn thương cho từng nhân tố chính năm 2006 48
Bảng 3.4: Kết quả tính chỉ số tổn thương cho từng nhân tố chính năm 2011 50
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) 16
Hình 2.1: Vị trí các xã miền núi Ba Vì 23
Hình 2.2: Biến trình nhiều năm và xu thế nhiệt độ không khí trung bình năm
tại trạm Ba Vì 31
Hình 2.3: Biểu đồ phân bố số ngày nắng nóng theo tháng trạm Ba Vì 31
Hình 2.4: Biểu đồ phân bố số ngày rét đậm theo tháng trạm Ba Vì 32
Hình 2.5: Phân bố mưa trung bình các tháng trong năm giai đoạn 1970 – 2011
của trạm Ba Vì 33
Hình 2.6: Biểu đồ biến đổi lượng mưa theo mùa mưa trạm Ba Vì 34
Hình 2.7: Biều đồ số ngày mưa lớn trong các tháng trạm Ba Vì 35
Hình 2.8: Biểu đồ xu hướng biến đổi số ngày mưa lớn giai đoạn 1970-2011
trạm Ba Vì 35
Hình 3.1: Khung phân tích đánh giá mức độ tổn thương ở 07 xã Miền núi 41
Hình 3.2: Biểu diễn các chỉ số tổn thương ở xã Ba Vì 51
Hình 3.3: Biểu diễn các chỉ số tổn thương ở xã Tản Lĩnh 52
Hình 3.4: Biểu diễn các chỉ số tổn thương của xã Ba Trại 53
Hình 3.5: Biểu diễn các chỉ số tổn thương của xã Minh Quang 54
gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu khắc nghiệt trong hai
mươi năm gần đây (một trong năm nước chịu ảnh hưởng lớn nhất, đứng thứ 3
vào năm 2008). Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng các loại hình thiên tai cả về
số lượng, cường độ và mức độ ảnh hưởng. Hậu quả của thiên tai vô cùng lớn:
thiệt hại về người, phá hoại cơ sở hạ tầng, làm ảnh hưởng đến nhiều thành quả
phát triển kinh tế xã hội và gia tăng tình trạng đói nghèo, là một nguy cơ hiện
hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên
niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. Việt Nam có tỷ lệ khoảng
66,4% dân số sinh sống ở vùng nông thôn (Nguồn: UN, 2010b) và nguồn sinh
kế của họ đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
nên cuộc sống của những người dân ở những khu vực này phụ thuộc nhiều
vào khí hậu và điều kiện tự nhiên. Biến đổi khí hậu đặt ra cho họ những thách
thức lớn hơn trong việc xóa đói giảm nghèo và duy trì sinh kế bền vững.
Chính vì vậy đây là nơi dễ bị tổn thương nhất do tác động bởi biến đổi khí
hậu.
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, là huyện miền núi nghèo ở phía
Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 430 km
2
gồm 30 xã và 01 thị
trấn. Địa hình chia làm 3 vùng: vùng núi, vùng đồi gò trung du và vùng đồng
bằng ven sông. Dân số toàn huyện có trên 280.000 người bao gồm 03 dân tộc:
Kinh, Mường, Dao cùng sinh sống. Là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên, di
tích lịch sử và nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo vẫn còn được lưu giữ cho
đến ngày nay, đó thực sự là những tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, tài
nguyên thiên nhiên Trên thực tế các ngành nghề kinh tế của huyện Ba Vì đã có
2
những bước phát triển đáng kể nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế
vốn có.
núi Ba Vì?
2) Có thể đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng
cũng như phát triển sinh kế bền vững các xã miền núi?
Để trả lời được câu hỏi đó, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể là:
+ Những biểu hiện cụ thể của khí hậu ở các xã miền núi huyện Ba Vì;
+ Các loại hình hoạt động sinh kế chính cũng như các đặc điểm về phát
triển kinh tế xã hội ở các xã miền núi;
+ Biến đổi khí hậu đã mang lại những tác động tiêu cực như thế nào và
ai, sinh kế nào dễ bị tổn thương nhất, tổn thương như thế nào;
+ Hệ thống chính sách của Nhà nước trong việc hỗ trợ người dân nhằm
nâng cao năng lực thích ứng và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên nhiệm vụ cần thực hiện là:
- Tìm hiểu, tổng quan các đặc điểm về kinh tế xã hội và các đặc điểm
sinh kế, đặc điểm về các chính sách thể chế các huyện miền núi Ba Vì trong
giai đoạn 2006-2013;
- Thu thập các tài liệu số liệu về khí tượng, khí hậu, thời tiết cực đoan ở
Ba Vì;
- Tìm hiểu đánh giá về các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thời tiết
cực đoan đã tác động tới sinh kế người dân trong giai đoạn nghiên cứu;
- Ứng dụng các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương để xác
định các chỉ số tổn thương và phân hạng chỉ số cho các mức tác động.
- Đánh giá kết quả.
4
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại các xã miền núi của huyện Ba Vì gồm:
Minh Quang, Khánh Thượng, Ba Vì, Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh và Ba Trại .
Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2011 để đánh giá những thay đổi
các thông số kỹ thuật về khí tượng thủy văn để đánh giá sự thay đổi của khí
hậu trong vòng 41 năm và phân tích các số liệu về điều tra nông nghiệp nông
thôn cấp nông hộ ở 07 xã để đánh giá sự thay đổi các loại hình sinh kế và tính
toán các chỉ số đưa vào đánh giá tổn thương
Phƣơng pháp nghiên cứu định tính:
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính gồm
các công cụ như quan sát tham dự, phỏng vấn sâu trực tiếp các cá nhân trong
ban lãnh đạo xã, đại diện các hộ gia đình để thấy được cảm nhận các tác động
trực tiếp của biến đổi khí hậu tới người dân và cách thức ứng phó của người
dân với biến đổi khí hậu.
Phƣơng pháp đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng:
Dựa trên việc tổng quan các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn
thương đang được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam áp dụng, tôi
lựa chọn một phương pháp đánh giá tối ưu và phù hợp với khu vực miền núi
như Ba Vì.
6. Các loại số liệu cần thu thập
- Số liệu quan trắc khí tượng trạm Ba Vì từ năm 1970 đến năm 2011.
6
- Số liệu thống kê kinh tế xã hội: niên giám thống kê huyện Ba Vì, điều
tra nông nghiệp nông thôn năm 2006 và 2011.
- Báo cáo tổng kết hàng năm của ủy ban nhân dân 7 xã miền núi huyện
Ba Vì.
- Dữ liệu bản đồ các xã miền núi huyện Ba Vì.
7. Kết cấu chính của Luận văn
Mở đầu
Chƣơng 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu và đánh giá tính dễ bị tổn
thương đối với cộng đồng cư dân miền núi.
Chƣơng 2. Các đặc trưng sinh kế và biến đổi khí hậu ở 07 xã miền núi
cực đoan thông thường được có tần suất xuất hiện của nó nhỏ hơn 10%. Theo
định nghĩa này, những đặc trưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy
8
từng khu vực mà đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa
lý tự nhiên, bức xạ, địa hình…
Hiện tượng khí hậu cực đoan: là trung bình của số các hiện tượng thời
tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định, trung bình tự nó đã là cực
đoan. Hiện tượng khí hậu cực đoan có thể xác định từ các yếu tố khí hậu. Nói
cách khác, hiện tượng khí hậu cực đoan phần lớn không được quan trắc trực
tiếp mà người ta căn cứ vào số liệu quan trắc các yếu tố khí hậu để xác định
hoặc quy định một hiện tượng nào đó có xuất hiện hay không.
Biến đổi khí hậu và các tác động tiềm tàng của nó đang ngày càng nhận
được nhiều sự quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Các nghiên cứu khoa học ngày
càng đưa ra nhiều bằng chứng về các tác động của biến đổi khí hậu đối với
con người. Biến đổi khí hậu có những tác động tiềm tàng đến các lĩnh vực,
khu vực và các cộng đồng khác nhau. Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến 3
lĩnh vực: (i) kinh tế (bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản,
năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng và du lịch); (ii) xã hội
(sức khỏe con người); và (iii) môi trường (bao gồm tài nguyên nước, tài
nguyên rừng, tài nguyên biển, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, chất lượng
không khí). Các khu vực dễ bị tổn thương nhất dưới tác động của biến đổi khí
hậu là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển và
vùng núi. Cộng đồng dễ bị tổn thương nhất bao gồm: nông dân, ngư dân, các
dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và các tầng lớp nghèo
nhất ở đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn.
Những tác động trên cho thấy biến đổi khí hậu đang là vấn đề quan
trọng ảnh hưởng tới hiện nay. Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển kinh tế-xã hội của tất cả các quốc gia và mọi nỗ lực phát triển của con
10
tính tổn thương là “mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội có thể bị tổn
thương hoặc không thể ứng phó với các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu
(bao gồm các hình thái thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu”. Để định lượng
tính tổn thương do biến đổi khí hậu, IPCC đã chỉ rõ tính tổn thương (V) là
một hàm số của 3 yếu tố sau: (i) mức độ phơi nhiễm của hệ thống trước các
tác động bất lợi của biến đổi khí hậu (Exposure - E); (ii) mức độ nhạy cảm
của hệ thống trước những thay đổi của khí hậu (Sensitivity - S); (iii) năng lực
thích ứng với biến đổi khí hậu (Adaptive Capacity - AC).
IPCC nhấn mạnh chỉ số tính tổn thương là một chỉ số tổng hợp của nhiều yếu
tố thành phần. Tính tổn thương phụ thuộc vào hai yếu tố là: (1) yếu tố tự nhiên do
các tác động liên quan đến thay đổi khí hậu và thời tiết; (2) yếu tố con người gồm
các tác động do con người tạo ra. Chỉ số tổn thương tổng hợp phải phản ánh được
tính tổn thương về kinh tế (economic vulnerability), tổn thương về môi trường
(environmental vulerability) và tổn thương về xã hội (social vulnerability). Trong
đó các yếu tố liên quan đến tính tổn thương về xã hội như giảm nghèo, đa dạng hóa
sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động đa dạng hóa sinh kế,
bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động của tập thể ngày càng quan
trọng vì chúng liên quan trực tiếp đến năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu. IPCC
cũng nêu rõ tính tổn thương do biến đổi khí hậu phụ thuộc vào nhiều địa điểm khảo
sát và quy mô đánh giá.
Đến năm 2010, tác giả Armitage và Plummer cũng đưa đánh giá khả
năng bị tổn thương của con người trước tác động của biến đổi khí hậu phụ
thuộc vào 4 yếu tố sau.
(i) Bản chất và độ lớn của biến đổi khí hậu;
11
hậu. Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC thì có 3 cách: tiếp
cận tác động (impact approach), tiếp cận tương tác (interaction approach) và
tiếp cận tổng hợp (intergrated approach). Mỗi cách tiếp cận có những điểm
mạnh và điểm yếu hạn chế riêng, việc lựa chọn cách tiếp cận nào phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác nhau như nhu cầu đánh giá, phạm vi, khung thời gian
và nguồn lực cho phép. Theo Fussel thì có thể chia ra thành 5 nhóm cách tiếp
cận được áp dụng cho đánh giá tính dễ bị tổn thương nói chung và đánh giá
tình dễ bị tổn thương do biến đối khí hậu nói riêng đó là: Cách tiếp cận theo
rủi ro - hiểm họa; cách tiếp cận theo kinh tế - chính trị; cách tiếp cận theo mô
hình đáp ứng- phản hồi trong thiên tai; cách tiếp cận tổng hợp; cách tiếp cận
theo khả năng chống chịu (resilence) và các cách tiếp cận khác. Tuy nhiên
hiện nay không có một phương pháp luận nào có thể áp dụng cho việc đánh
giá tính dễ bị tổn thương cho tất cả các hoàn cảnh và trường hợp, mà thường
phụ thuộc vào yêu cầu của từng trường hợp cụ thể và theo từng cơ quan thực
hiện đánh giá.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá
tính dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu. Alex de Sherbinin và cộng sự sử
dụng phương pháp tiếp cận dựa vào các kịch bản kết hợp với những phương
pháp tiếp cận mới đánh giá tính dễ bị tổn thương từ dưới lên để nghiên cứu
đánh giá tính dễ bị tổn thương tại 3 thành phố là Mumbai (Ấn Độ), Rio de
Janeiro (Brasil) và Thượng Hải (Trung Quốc). Nghiên cứu này đã đánh giá
một số cản trở về mặt chính trị để chuẩn bị tốt hơn trong việc phòng ngừa
thiên tai.
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã nghiên cứu và xây
dựng hướng dẫn “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải
pháp thích ứng” nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch hành động
13
của các Bộ, Ngành địa phương với biến đổi khí hậu. Hướng dẫn sử dụng cách
đồng dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu thì thích ứng lại là một nhiệm vụ
cấp thiết. Hơn nữa, “không được phép phó mặc cho người nghèo và những
người dễ bị tổn thương trên thế giới bị chìm hay tự bơi chỉ với năng lực yếu
ớt của mình”. Điều đó có nghĩa là người nghèo và những người dễ bị tổn
thương trước tác động của biến đổi khí hậu cũng cần được hỗ trợ để tăng
cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Thích ứng với biến đổi khí
hậu là “sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh
hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao
động hoặc biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do
nó mang lại. Như vậy, thích ứng bao gồm những hoạt động điều chỉnh trong
các hệ thống tự nhiên và con người để đối phó với những tác động có thể có
của biến đổi khí hậu, làm giảm bớt sự nguy hại hoặc khai thác những cơ hội
có lợi từ biến đổi khí hậu. Các hoạt động thích ứng được thực hiện nhằm giảm
thiểu khả năng bị tổn thương.
Tổ chức CARE International ở Việt Nam tập trung nghiên cứu ở vùng
núi phía Bắc Việt Nam gồm các tỉnh Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Kạn và Thanh
Hóa để đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của các nhóm
dân tộc thiểu số trong đó đề cập tới tác động của biến đổi khí hậu tới an ninh
lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân.
Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan như
hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất nông nghiệp làm cho
thiếu đói, chăn nuôi gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng. Ngoài ra báo
cáo cũng nhấn mạnh sự khác biệt giới về khả năng thích ứng. Phương pháp
luận phân tích năng lực và khả năng bị tổn thương – CVCA đã tạo ra một
khuôn khổ phân tích khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến
đổi khí hậu ở cấp cộng đồng. Với nhận thức rằng người dân địa phương phải
điều khiển tương lai của họ, phương pháp luận CVCA đặt ưu tiên cho kiến
15
nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những
hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được
thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh
kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hội. Năm 2001, Cơ quan phát
triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về Sinh kế để hướng
dẫn cho các hoạt động của mình thì Sinh kế còn được mô tả tổng hợp của
nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một
người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của
mình.Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ
gia đình, thôn, vùng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình.
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)
Sinh kế bền vững (sustainable livelihood) từ lâu đã là chủ đề được quan
tâm trong các tranh luận về phát triển, giảm nghèo và quản lí môi trường cả
trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm
thay đổi cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990
17
tượng khác. Cũng có một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền
vững để phân tích các cơ hội và thách thức về sinh kế của người dân ở khu
vực nông thôn, ven biển và miền núi, từ đó đề xuất những hình thức hỗ trợ
sinh kế phù hợp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
1.2.2. Nghiên cứu sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Theo Chambers và Conway (1992) các sinh kế bền vững là các sinh kế
có thể đối phó và phục hồi từ các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và
tài sản trong khi không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của biến đổi khí hậu, có
thể nhận thấy rằng, biến đổi khí hậu là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả
năng bị tổn thương của sinh kế. Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (ví dụ
như mực nước biển dâng và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn
lực tự nhiên (như đất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất (như đường
xá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng kể. Trong bối cảnh biến đổi
khí hậu ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế
được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền vững trên 3
phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còn dựa vào việc
các sinh kế này có thể giảm nhẹ biến đổi khí hậu hoặc thích ứng với biến đổi
khí hậu hay không.
Biến đổi khí hậu đã trở thành thách thức lớn với mọi cộng đồng. Bất kỳ
thay đổi nào về khí hậu cũng dẫn đến sự mất ổn định về môi trường và xã hội.
Đối với những nơi khó khăn và sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên thì chính là nơi dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu. Cộng
đồng là chủ nhân nhưng cũng là nạn nhân nhận lãnh hậu quả biến đổi khí hậu.
Cư dân đang mưu sinh tại các địa bàn vùng trung du, miền núi, nhất là những
19
vùng đất thấp thuộc lưu vực sông, cửa sông, bãi ngang đang chịu ảnh hưởng
hết sức to lớn của biến đổi khi hậu và nguy cơ của nó ngày càng lớn.
tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vực thường xuyên bị hán hán của tỉnh
Ninh Thuận, Việt Nam. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đề cập tới cộng đồng
cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa
phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó với thảm họa
từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán. Năm 2007, báo cáo về nghèo đói với
biến đổi khí hậu của Oxfam Quốc tế đã có những cảnh báo về sự suy tàn sinh
kế của người nghèo, nêu rõ sự gia tăng các thảm họa khí hậu ảnh hưởng tới
nhiều người đặc biệt là hộ nghèo, người nghèo không có sức mạnh để chống
chịu lại các thảm họa. Trong báo cáo “Thay đổi môi trường toàn cầu và an
ninh con người” đề cập tới mối quan hệ giữa nghèo đói và thích ứng với biến
đổi khí hậu, báo cáo cũng xem xét tới thực trạng thể chế trong việc kếp hợp
giải pháp thích ứng với biến đối khí hậu của việc thực thi các chính sách hỗ
trợ phát triển hiện nay.
Cuối năm 2010, dự án “Tiếp cận tổng hợp đến các đối tượng dễ bị tổn
thương nhằm ứng phó với các thảm họa tự nhiên tại miền Trung Việt Nam”
được hợp tác giữa Đại học Nông lâm Huế - Đại học Huế và Viện GSGES –
Đại học Kyoto, Nhật Bản dưới sự tài trợ của cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật
Bản JICA. Khu vực nghiên cứu của dự án gồm 4 xã: Hương Phong, Hương
Vân thuộc huyện Hương Trà, 1 xã thuộc huyện miền núi A Lưới và nhóm dân
cư vạn đò định cư tại thành phố Huế. Đây là những nơi thương xuyên gặp
thiên tai và dễ bị tổn thương bởi những ảnh hưởng của thiên tai và cần có sự
hỗ trợ để nâng cao năng lực đối phó với thiên tai. Dự án được thực hiện với
mục tiêu làm rõ tính dễ bị tổn thương do thiên tai và hoàn cảnh của người dân
dễ bị tổn thương trong khu vực đối tượng, nâng cao năng lực phòng chống