ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
CAO TRUNG HIẾU
ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ
ĐỐI VỚI NGẬP LỤT Ở HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
CAO TRUNG HIẾU
ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ
ĐỐI VỚI NGẬP LỤT Ở HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh
HÀ NỘI - 2014
góp ý quý báu của các Quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp những người quan
tâm đến nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nôi, ngày 08 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Cao Trung Hiếu
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................... vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH ................................................................................. vii
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .................................................................. 3
3. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 3
4. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................... 3
5. Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 4
6.1. Phương pháp phân tích tài liệu ....................................................................... 4
6.2. Phương pháp quan sát .................................................................................... 4
6. 3. Phương pháp phỏng vấn sâu ......................................................................... 5
7. Ý nghĩa của nghiên cứu..................................................................................... 5
8. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 6
3.5.3. Người dân nhập cư khắc phục hậu quả sau khi ngập................................ 75
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 81
PHỤ LỤC ......................................................................................................... ..85
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BPCLB Ban phòng chống lụt bão
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change
Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
GIS Geographic Information System – Hệ thống thông
tin địa lý
UBND Ủy ban nhân dân
WB World Bank – Ngân hàng thế giới
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Trung bình nhiệt độ và lượng mưa khu vực Hà Nội 2008 ............... 22
Bảng 2.2. Một số đặc trưng mực nước sông Hồng thời khì 1956 – 2010......... 25
Bảng 2.3. Các thông số một số hồ đập lớn trong Hà Nội ................................. 26
Bảng 2.4. Tỉ suất nhập cư vào Hà Nội giai đoạn 2005 – 2013 (%) .................. 31
Bảng 2.5. Hiện trạng phân vùng tiêu và hình thức tiêu .................................... 35
Bảng 2.6. Mực nước hiện trạng và cho phép tại các vị trí trên sông ................ 36
Bảng 2.7. Tình hình gập lụt tại thành phố Hà Nội từ 1984 – 2008................... 43
vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay Biến đổi khí hậu (BĐKH) được nhân loại đánh giá là một trong
những thách thức lớn nhất thế kỷ 20, đồng thời là một hiểm họa tiềm tàng đối với
loài người trong tương lai, bởi vì nó đang đe dọa xóa bỏ những thành quả nhiều
năm trong công cuộc chống đói nghèo, cản trở việc thực hiện các mục tiêu phát
triển thiên niên kỷ và sự phát triển con người cả hiện nay và các thế hệ mai sau.
Tác động của BĐKH làm gia tăng số lượng và mức độ khắc nghiệt của
những thiên tai hiện hữu như bão, lũ, lụt, hạn hán, v.v... Đối với khu vực nông
thôn BĐKH làm cho người nông dân ở những nước nghèo trên thế giới cũng
như ở nước ta trở nên trắng tay sau nhiều năm lao động vất vả, cực nhọc. Nóng
lên toàn cầu và sự dâng lên của mực nước biển làm tăng diện tích ngập lụt, xâm
nhập mặn và xói lở ở những vùng đồng bằng châu thổ có thể làm cho người
nông dân mất đi cơ hội sản xuất, nguồn sinh sống duy nhất của họ.
Đối khu vực thành phố, đặc biệt là các thành phố ở những nước đang phát
triển khi cơ sở hạ tầng còn đang thấp kém, dân số quá đông, dẫn đến việc thích
ứng với các hiện tượng bất thường của thời tiết còn rất yếu kém. Ví dụ như, năm
2008 sau trận mưa lịch sử chưa từng thấy trong vòng 40 năm qua đã làm cho
thành phố Hà Nội ngập lụt nghiêm trọng, dẫn đến sự xáo trộn mạnh mẽ trong
đời sống của cư dân thành phố, giá cả các mặt hàng thức phẩm gia tăng đột biến
do khan hiếm, dịch bệnh sau lũ hoành hành dẫn đến sự quá tải ở các bệnh viên,
các vấn đề về môi trường chở nên nghiêm trọng, cuộc sống bị xáo trộn đặc biệt
với nhóm người nghèo thu nhập thấp [22]. Năm 2011 lũ lụt khủng khiếp xảy ra
ở Thái Lan làm 500 người chết, thiệt hại lên đến 5 tỉ đô la, các thành phố lớn
trong đó có thủ đô Băng Cốc bị tê liệt hoàn toàn, sự xáo trộn mạnh mẽ trong đời
sống người dân xảy ra nghiêm trọng dẫn tới sự bất đồng lớn giữa người dân với
chính phủ trong việc tiêu thoát lũ khi chính phủ kiên quyết không xả lũ để bảo
Trong điều kiện cơ sở hạ tầng còn yếu kém, phát triển chưa đồng bộ,
người dân thành phố hầu như ít có kinh nghiệm thích ứng với lũ lụt, mặt khác
các hiện tượng bất thường như mưa lớn trước kia ít xảy ra nay lại thường xuyên
xuất hiện. Vì vậy, khả năng thích ứng với thiên tai ở thành phố đặc biệt là thích
2
ứng với lũ lụt còn rất yếu kém, cho nên rất cần có những đánh giá cụ thể về khả
năng thích ứng của người dân ở khu vực thành phố, qua đó để có những biện
pháp và chính sách phù hợp nhằm nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng
dân cư thành phố, đặc biệt là nhóm người nghèo, có thu nhập thấp.
Việc lựa chọn đề tài “Ứng phó của người dân nhập cư đối với ngập lụt
ở Hà Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay” là do những vấn đề được
nêu ở trên. Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về thực trạng, khả năng
ứng phó với hiện tượng ngập lụt của bộ phận người dân nhập cư tại một số địa
điểm trên khu vực thành phố Hà Nội đồng thời đề xuất những phương án tối ưu
có thể áp dụng vào thực tế nhằm cải thiện khả năng thích ứng với các hiện tượng
bất thường của thiên nhiên có thể xảy ra.
2. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Cách thức ứng phó của người dân nhập cư đối
với ngập lụt trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Khách thể nghiên cứu:
- Các thành viên thuộc Ban phòng chống lụt bão các cấp huyện, xã.
- Người dân nhập cư trong khu vực nghiên cứu
3. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi không gian: Nghiên cứu được khú trú trên địa bàn Huyện
Thanh Trì – Thành phố Hà Nội
Về phạm vi thời gian: Bắt đầu từ 2012
4. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng ngập lụt và tác động của ngập lụt đến đời
Thứ hai, đối tượng tác giả quan sát ghi chép thông tin là công tác chuẩn bị
ứng phó với ngập lụt của Ban phòng chống lụt bão các cấp huyện, thị trấn, xã
trong khu vực nghiên cứu, trong đó có công tác thành lập Ban Chỉ huy phòng
chống lụt bão, các công tác chuẩn bị vật tư, công tác tuyên truyền.
Thứ ba, tác giả quan sát trong suốt quá trình thu thập thông tin về chuẩn
bị ứng phó, ứng phó khi xảy ra ngập và xử lý sau khi ngập của bộ phận người
dân nhập cư trên địa bàn nghiên cứu.
4
6. 3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Ngoài phương các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát,
tác giả còn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu. Đây là phương pháp chủ yếu
tác giả sử dụng để tìm hiểu cách thức ứng phó với ngập lụt của người dân nhập
cư trên địa bàn.
Trước khi phỏng vấn, tác giả đã định hướng trước được những nội dung
cần hỏi, cần thu thập thông qua đề cương phỏng vấn. Trong quá trình phỏng vấn
tác giả tiến hành phỏng vấn một cách linh hoạt đối với từng trường hợp, thông
tin phỏng vấn được tác giả ghi chép dưới dạng văn bản.
Trong nghiên cứu này tác giả thực hiện 22 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó
các đối tượng được phỏng vấn bao gồm:
Thứ nhất, cán bộ thuộc Ban phòng chống lụt bão các cấp huyện, xã, nhằm
tìm hiểu thông tin về tình hình ngập lụt, nguồn lực, cách thức hoạt động của Ban
phòng chống lụt bão các cấp (7 cuộc phỏng vấn).
Thứ hai, tác giả phỏng vấn sâu đối với bộ phận người dân nhập cư, nội
dung phỏng vấn xoay quanh các vấn đề như: Việc chuẩn bị ứng phó trước khi
ngập; Thường làm gì khi xảy ra ngập và sau khi ngập họ thường làm những việc
gì (15 cuộc phỏng vấn).
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã được người cung cấp thông tin cho
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới về ngập lụt và di cƣ
Hiện nay ngập lụt đô thị là một trong những vấn đề phổ biến và đáng quan
ngại nhất ở nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát
triển. Theo nghiên cứu về ngập lụt đô thị của 3 tác giả Jha, Bloch và Lamond,
dựa trên các dữ liệu từ Trung tâm EM-DAT (Emergency Events Database), chỉ
trong vòng 2 thế kỷ qua, số lượng các trận ngập lụt đô thị toàn cầu đã tăng lên
đáng kể, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực như kinh tế, xã
hội và môi trường (Jha, Bloch and Lamond 2012) [30].
Hình 1.1. Số lƣợng các trận lụt đƣợc báo cáo trên toàn cầu (Nguồn: EMDAT/CRED internet)
Trong bối cảnh phát triển quá nhanh của nền kinh tế dẫn đến việc xây
dựng cơ sở hạ tầng chưa phù hợp, hơn nữa sự bất thường của các hiện tượng
thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra dẫn đến thách thức về ngập lụt đô
thị ngày càng gia tăng. Theo tổng hợp của các nhà nghiên cứu gồm: Jha, Bloch
và Lamond trong vòng 2 năm 2010 – 2011, nhiều trận lũ lụt tàn phá đã xảy ra
dọc theo lưu vực sông tại Pakistan vào tháng 10/2010; tại Queensland, Australia,
Nam Phi, Sri Lanka và Philippines vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011; trận lụt
7
xảy ra cùng với dòng bùn chảy tại vùng Serrana của Brazil vào tháng 1/2011;
do đó sẽ trở nên nguy hiểm hơn và việc quản lý sẽ trở nên tốn kém hơn do hầu
hết dân số sinh sống ở khu vực đô thị. Điều này gây ảnh hưởng đến tất cả các
loại quy mô định cư: trong khi vào năm 2030 dự đoán có khoảng 75 khối dân cư
với quy mô trên 5 triệu người, dân số đô thị ở tất cả các loại quy mô dự kiến
cũng sẽ tiếp tục tăng. Đến năm 2030, đa phần dân số thành thị trên thực tế sẽ
sinh sống tại các thị trấn và thành phố có quy mô dân số dưới 1 triệu người nơi
thể chế và cơ sở hạ tầng đô thị ít có khả năng đối phó [30].
Để ứng phó với vấn đề ngập lụt ở các đô thị, trên thế giới hiện nay có rất
nhiều nghiên cứu phục vụ cho vấn đề này. Ví dụ như:
Tập hợp các nghiên cứu trong cuốn “Cities and Flooding, a guide to
integrated Urban flood risk managament for the 21st century” của nhóm tác giả
Abhas K Jha, Robin Bloch, Jessica Lamond. Khẳng định, lũ lụt là kết quả của sự
kết hợp các hiện tượng khí tượng thủy văn như lượng mưa cực đoan và dòng
chảy, tuy nhiên cũng có thể do các hoạt động của con người như lũ lụt có thể là
kết quả của sự phát triển không đồng bộ, không có kế hoạch trong vùng lũ. Thay
đổi sử dụng đất không hợp lý cũng là một nguyên nhân, sự phát triển quá nóng
của các đô thị làm giảm tính thấm nước của đất, tăng dòng chảy mặt, trong nhiều
trường hợp hệ thống thoát nước không được thiết kế để ứng phó với các dòng
chảy tăng cường. Trên thế giới, những người di chuyển từ nông thôn lên thành
phố thường định cư ở những khu vực có độ tiếp xúc cao với lũ lụt, thiếu cơ chế
tự bảo vệ trước lũ lụt là nguyên nhân chính dẫn đến tính dễ bị tổn thương của
đối tượng này [30].
9
Theo nghiên cứu “Urban flood Management”của Carlos E.M. Tucci and
Juan Carlos Bertoni nghiên cứu cho Brazil, cho thấy Brazil là một trong những
quốc gia tiên tiến ở châu Mỹ Latinh trong việc phân tích và xử lí các vấn đề về
hệ thống thoát nước thành phố, họ nghiên cứu các trường hợp ở các thành phố
Estrela, União da Vitoria / Porto União, Curitiba và Porto Alegre. Kết quả
những công việc kiếm sống của họ (nhiều người kiếm sống bằng nghề thu gom
rác thải), những khu vực này đất đai thường rẻ hơn, việc gắn kết cộng đồng và
gia đình do đặc thù về sinh hoạt được gắn kết hơn. Việc thích nghi với lũ lụt
được những hộ gia đình này thực hiện cả hai thích nghi là tạm thời và vĩnh viễn,
bao gồm những việc như nâng cấp nền nhà, sân, sử dụng vật liệu chống lụt, việc
lừa chọn nội thất thiên về tháo lắp vận chuyển dễ dàng, dây điện được đặt cao
trên mức lũ, tấm lợp không được gắn trực tiếp vào nhà đảm bảo khả năng loại bỏ
nó khi nhà bị ngập cao, nhiều gia đình có chuẩn bị sẵn vali, túi đựng săn sàng di
chuyển nếu nguy hiểm khẩn cấp. Người dân ở khu vực này cũng thiết lập và
phát triển hệ thống cảnh báo, xây dựng kế hoạch dự phòng cho việc sơ tán đến
nơi an toàn, những kinh nghiệm trong việc sơ tán cũng được đúc kết thành kinh
nghiệm, ví dụ như người già và trẻ em được sơ tán đến nơi an toàn trước, các vật
dụng điện tử được di chuyển sau, đồ gia dụng và quần áo được di chuyển sau
cùng, việc thực hiện từng bước này sẽ dễ dàng và nhanh trong hơn tránh được
thiệt hại do lụt. Người dân cũng có kinh nghiệm hơn trong việc tận dụng sự hỗ
trợ từ phía nhà nước, điều này là động lực lớn cho người dân trong việc xây
dựng nhà ở tại những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước lũ lụt [37].
Trong Luận án tốt nghiệp: Hiểu biết về tác động của biến đổi khí hậu đến
di cư “Understanding the Effect of Climate Change on Human Migration” của
tác giả Sabine Perch-Nielsen, dưới sự hướng dẫn của Prof. Dr. Dieter Imboden Michèle Bättig, luận văn được thực hiện tại Sở Khoa học và Công nghệ Liên
bang Thụy Sỹ (Department of Environmental Sciences Swiss Federal Institute of
Technology), tác giả cho biết, trong hai thập kỷ vừa qua một số nhà nghiên cứu
sự di cư hàng loạt như là một hệ quả của biến đổi khí hậu, những nghiên cứu đó
đã thúc đẩy rất nhiều các nghiên cứu khác liên quan đến biến đổi khí hậu và sự
di dân trong đó có Luận văn của tác giả. Nghiên cứu của tác giả làm rõ mối quan
11
hệ của biến đổi khí hậu và di dân bằng cách (i) khảo sát khả năng kết nối giữa
các mô hình toán học về khí hậu và các mô hình về di dân; (ii) Phát triển 04 mô
hoặc cộng đồng, lao động di cư từ nông thôn lên thành thị phổ biến ở các nước
kém phát triển thường là di cư tạm thời và nội bộ, chủ yếu là để kiếm công ăn
việc làm và gia tăng thu thập, bởi vì đa dạng nguồn thu nhập là con đường chủ
yếu để giảm thiểu nguy cơ gia tăng các mối nguy hiểm có nguồn gốc khí hậu;
(iii) Trong giai đoạn suy thoái môi trường như nhiễm mặn đất, suy thoái đất,
hiện tượng phổ biến nhất là gia tăng các hình thức di cư lao động, bởi vì bằng
cách đó sẽ có nguồn tiền gửi về cho gia đình ngay lập tức đề giảm bớt gánh nặng
do suy thoái môi trường; (iv) Với sự khởi nguồn của thảm họa bất ngờ hay sự
hiện diện liên tục của một thảm họa truyền thống (như hạn hán, lũ lụt, nạn đói)
cộng đồng dân cư sẽ tham gia vào các mô hình di dân kiểu di dân bị nạn. Các
đặc tính của di cư bị nạn rất khác nhau đối với từng quốc gia bởi mức độ nghiêm
trọng của các cuộc khủng hoảng và do khác biệt về địa lý, tuy nhiên có một
điểm khá chung đó là người di cư phải lựa chọn một trong các kiểu cứu trợ đó
là: 1 – Phụ thuộc vào mạng cứu trợ xã hội, 2- Phụ thuộc vào các cơ quan có khả
năng viện trợ và có phương án tái định cư, 3 – chuyển đến các nơi ở tập trung
chờ được hỗ trợ định cư tạm thời hoặc lâu dài, sự lựa chọn đầu tiên phổ biến
trong khi có thiên tai, lựa chọn thứ 2 phổ biến trong các trường hợp xảy ra
khủng hoảng môi trường như nước biển dâng, ở các quốc gia dễ bị tổn thương
do biến đổi khí hậu; (v) Di cư môi trường là kiểu di cư nội bộ và ngắn hạn, khả
năng tạo thành xung đột là rất ít. Tuy nhiên, sẽ làm xáo trộn nhân khẩu, đô thị
nông thôn [39].
Nghiên cứu Biến đổi khí hậu và đô thị hóa: Tác động và ý nghĩa đối với
quản lý đô thị - “Climate change and urbanization: Effects and implications for
urban governance” của tác giả David Satterthwaite. Tác giả nhận định rằng:
Biến đổi khí hậu tác động lên khu vực đô thị có nhiều khả năng sẽ ngày càng
tăng. Đối với khu vực dân cư nghèo, một số tác động trực tiếp, ví dụ như lũ lụt
xảy ra thương xuyên, nguy hiểm hơn, một vài tác động gián tiếp như giảm
nguồn cấp nước sạch cho khu vực dân cư nghèo, BĐKH gây ra các hiện tượng
thời tiết cực đoan, làm giá lương thực tăng, gây thiệt hại tài sản của các hộ gia
13
lệ người dân từ khu vực nông thôn đổ lên thành phố lao động rất là đông, những
14
đối tượng này thường là thu nhập thấp, không có nhà cửa, nếu ngập lụt xảy ra,
việc bị ảnh hưởng thiệt hại đối với những đối tượng này là rất cao. Tuy nhiên,
hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến những đối
tượng này, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn đế dự báo ngập lụt, tác
động của ngập lụt một cách chung chung, chưa đi sâu vào từng đối tượng cụ thể.
Trong ấn phẩm “Sống chung với lũ” của nhóm tác giả Michael
DiGregorio, Huỳnh Cao Vân, các tác giả nghiên cứu cộng đồng dân cư thuộc địa
bàn Quy Nhơn tỉnh Bình Định trong đợt lũ lụt gây ra bởi cơn bão Marinae.
Nghiên cứu này với nội dung lũ lụt do bão Mirinae ở ngoại ô thành phố Quy
Nhơn đã chỉ ra rằng cư dân ở đây quen với mùa lụt và đã có cách ứng xử với cả
các rủi ro lẫn lợi ích trong mùa ngập lụt trải qua nhiều thế hệ. Nguời dân cũng
nhận biết được những đổi thay gần đây trong khu vực như các đập dâng, đuờng
xá, cầu cống và đê điều được xây mới, cũng như các vùng thoát lũ đang bị san
lấp để phát triển đô thị. Họ nghĩ rằng các dự án mới này cộng với việc chính
quyền chưa cung cấp kịp thời những cảnh báo bão thích đáng là những nhân tố
chủ yếu làm nghiêm trọng thêm ảnh huởng của bão Mirinae, chứ không phải là
số luợng và mức độ nghiêm trọng của bão được dự đoán ngày càng tăng làm họ
chịu thiệt hại do bão. Các bằng chứng cho thấy những ý kiến của người dân đã
đúng [27].
Trong nghiên cứu “Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ lụt khu vực hạ
lưu sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị” của tác giả Đặng Đình Khá, Khoa Khí
tượng thủy văn hải dương học, Đại học Khoa học Tự nhiện, Đại học Quốc gia
Hà Nội, trong nghiên cứu tác giả sử dụng hai phương pháp là dùng mô hình thủy
văn xây dựng bản đồ ngập lụt và phương pháp khảo sát phỏng vấn thực địa
nhằm xây dựng bản đồ tổn thương cho khu vực nghiên cứu. Kết quả, tác giả đã
đánh giá được mức độ tổn thương và đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao
môi trường cũng đóng vai trò hàng đầu trong các nguyên nhân cơ bản của di cư.
(iii) Các hình thức phát triển không bền vững cộng với tình trạng biến đổi khí
hậu ngày càng trầm trọng là nguyên nhân làm suy thoái môi trường và đây chính
là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng di cư. (iv) Ngày càng có nhiều
bằng chứng cho thấy di cư có thể giúp nâng cao khả năng chống chịu cho người
16