Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ - Pdf 28



ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG ĐỐI
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA THÀNH PHỐ
CẦN THƠ
(Sản phm thuc hp đng s: 180112/FIRM-CBCC ky
́
nga
̀
y 18/01/2012) Tên và mã số dự án: Dự án “Tăng cƣờng năng lực quốc gia ứng phó với biến
đổi khí hậu ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ TĐ và KS phát thải khí nhà kính”
(thuộc Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng) - 00060851
Tên go
́
i thâ
̀
u: Tƣ vấn xác định các phƣơng án thích ứng và phòng ngừa tác
động của Biến đổi khí hậu cho tỉnh Cần Thơ
Nh thầu: Trung tâm Môi trƣờng Đô thị và Công nghiệp
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG ĐẾN
NÔNG NGHIỆP, THỦY SẢN DO BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU THÀNH PHỐ CẦN THƠ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Lê Thị Hƣờng
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG CỦA
HỆ SINH THÁI LÚA NƢỚC DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở CẦN THƠ

Chuyên ngành : Khoa học Môi trƣờng
Mã số : 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Dƣơng Hồng Sơn

Lê Thị Hƣờng i

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TP. CẦN THƠ 4
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 4
1.1.1 Các khái niệm chung 4
1.1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái lúa nước 6
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 8
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 8
1.2.2 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 11
1.2.3 Các công trình nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu 19
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở TP. Cần Thơ 21
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 21
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hi 24
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu 32
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, s liệu 32
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu dựa trên khung tiếp cận chung của IPCC 32
2.2.3 Phương pháp kế thừa 33
2.2.4 Phương pháp GIS 33
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng ở TP. Cần Thơ 35

Bảng 8. Mực nƣớc biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình B2 (cm) 37
Bảng 9. Diện tích ngập trong thời kỳ tƣơng lai theo kịch bản biến đổi khí hậu tƣơng
ứng với các mức ngập khác nhau ở TP. Cần Thơ (km
2
) 37
Bảng 10. Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ phơi lộ (E) 44
Bảng 11. Số liệu đầu vào của chỉ số tính nhạy cảm (S) 45
Bảng 12. Số liệu đầu vào của chỉ số khả năng thích ứng (AC) 47
Bảng 13. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số E
trong điều kiện hiện tại 49
Bảng 14. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số S
trong điều kiện hiện tại 50
Bảng 15. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số AC
trong điều kiện hiện tại 51
Bảng 16. Các giá trị chỉ thị trong điều kiện hiện tại 52
Bảng 17. Các giá trị E, S, AC và VI trong điều kiện hiện tại 53
Bảng 18. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số E -
kịch bản 2020 55
Bảng 19. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số S -
kịch bản 2020 56
iv

Bảng 20. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số AC
- kịch bản 2020 57
Bảng 21. Các giá trị chỉ thị - kịch bản 2020 58
Bảng 22. Các giá trị E, S, AC và VI - kịch bản 2020 58
Bảng 23. Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ phơi lộ (E) trong điều kiện hiện tại 67
Bảng 24. Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ nhạy cảm (S) trong điều kiện hiện tại 68
Bảng 25. Số liệu đầu vào của chỉ số khả năng thích ứng (AC) trong điều kiện hiện
tại 69

Chƣơng trình mục tiêu quốc gia
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
EEA
Cơ quan môi trƣờng Châu Âu
IPCC
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
KT-XH
Kinh tế - xã hội
Sở NN&PTNT
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
SOPAC
Uỷ ban Khoa học Địa lý ứng dụng Nam Thái Bình
Dƣơng
TP
Thành phố
UNDP
Chƣơng trình Phát triển Liên Hợp Quốc
UNEP
Chƣơng trình Môi trƣờng Liên Hiệp Quốc 1

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết
BĐKH mà trƣớc hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nƣớc biển dâng đang là
một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. BĐKH tác
động lên các lĩnh vực: tài nguyên, môi trƣờng, KT-XH, sức khỏe cộng đồng, hạ
tầng cơ sở, quy hoạch đô thị, nông nghiệp, thủy sản, đa dạng sinh học,…trên phạm

Theo Quyết định số 21/2007/QĐ-TTg ngày 08/02/2007 của Thủ tƣớng Chính
phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP. Cần Thơ thời kỳ
2006 – 2020 với mục tiêu trở thành thành phố công nghiệp, hiện đại, đẩy nhanh tốc
độ tăng trƣởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa –
hiện đại hóa; phát triển ngành sản xuất và dịch vụ. Tuy nhiên khi xây dựng quy
hoạch chƣa xét đến điều kiện BĐKH, có thể làm ảnh hƣởng đến quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố trong giai đoạn này cũng nhƣ đời sống kinh tế của
ngƣời dân và một số lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp – hệ sinh thái lúa
nƣớc. Trƣớc tình hình trên, TP. Cần Thơ bị sức ép nặng nề trong việc hoàn thành
các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nếu không có một chiến lƣợc hiệu quả về
thích ứng với BĐKH. Để làm đƣợc điều đó, việc xác định những nhóm đối tƣợng,
lĩnh vực/khu vực nào dễ bị tổn thƣơng với BĐKH và đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng
là một nhiệm vụ rất quan trọng, giúp cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách
đề xuất đƣợc những giải pháp và chiến lƣợc hợp lý trong bối cảnh BĐKH ngày
càng gia tăng.
Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu
- Xây dựng bộ chỉ số tổn thƣơng của hệ sinh thái lúa nƣớc do BĐKH cho TP.
Cần Thơ.
- Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do BĐKH đến hệ sinh thái lúa nƣớc
ở TP. Cần Thơ và xác định đƣợc quận/huyện nào là tổn thƣơng lớn nhất.
- Đề xuất các biện pháp ứng phó với BĐKH đối với hệ sinh thái lúa nƣớc.
Phạm vi nghiên cứu
3

TP. Cần Thơ nằm ở trung tâm ĐBSCL, khu vực chịu ảnh hƣởng mạnh của
ngập lụt do nƣớc biển dâng kết hợp với lũ hàng năm nên ảnh hƣởng của hiện tƣợng
này đối với ĐBSCL nói chung và các khu vực dễ bị tổn thƣơng nói riêng trong thế
kỷ 21 cần phải đƣợc xem xét một cách chi tiết. Trong Luận văn, TP. Cần Thơ đƣợc
lựa chọn để nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng của hệ sinh thái lúa nƣớc do

đƣa ra trong nghiên cứu của Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007),
Chƣơng trình Giảm nhẹ thiên tai của Liên Hiệp quốc (UNISDR, 2009).
Biến đổi khí hậu (Climate change): là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí
hậu, có thể nhận biết đƣợc qua sự biến đổi về trung bình và/hoặc sự biến động của
các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng
thập kỷ hoặc dài hơn. Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí
hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài
thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng
thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên
bên trong hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do những biến đổi nhân tạo
lâu dài trong thành phần khí quyển (IPCC, 2007).
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability): là mức độ mà 1 hệ thống dễ bị ảnh
hƣởng và không có khả năng chống chịu với những tác động tiêu cực của BĐKH,
bao gồm dao động khí hậu và những hiện tƣợng thời tiết cực đoan. Tính dễ bị tổn
thƣơng là hàm tổng hợp của các tham số đặc tính, cƣờng độ, tốc độ biến đổi và phụ
thuộc vào mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống
(IPCC, 2007). Tính dễ bị tổn thƣơng tăng lên khi cƣờng độ BĐKH và tính nhạy
cảm tăng, giảm xuống khi khả năng thích ứng tăng lên.
Tiếp xúc/l diện/phơi l (Exposure): Bản chất và mức độ mà một hệ thống
đƣợc tiếp xúc với sự thay đổi khí hậu đáng kể (IPCC, 2007).
Tính nhạy cảm (Sensitivity): là mức độ mà một hệ thống có thể bị tác động tiêu
cực hay tích cực từ sự BĐKH. Sự biến đổi này bao gồm biến đổi về khí hậu trung
bình và tần suất cũng nhƣ hiện tƣợng thời tiết cực đoan. Tác động này có thể là trực
5

tiếp (ví dụ nhƣ sự thay đổi mùa màng do thay đổi nhiệt độ) hoặc gián tiếp (ví dụ
thiệt hại gây ra bởi gia tăng tần suất ngập ven biển do nƣớc biển dâng). Mức độ
nhạy cảm bao gồm sự phơi lộ có xem xét đặc trƣng và cƣờng độ của BĐKH và khả
năng hệ thống sẽ bị ảnh hƣởng bởi những thay đổi này. Ví dụ, hệ thống trồng trọt
rất nhạy cảm trong khi các cơ sở chế biến lại kém nhạy cảm hơn với BĐKH mặc dù

mùa, nó có thể đƣợc phân loại nhƣ một hiện tƣợng khí hậu cực đoan, đặc biệt là nếu
nó tạo ra một mức cực đoan cho giá trị trung bình hay giá trị tổng của chính nó (ví
dụ nhƣ: hạn hán, mƣa lớn trên một mùa) (IPCC, 2007).
1.1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái lúa nước
TP. Cần Thơ là một phần của vùng đồng bằng rộng lớn hệ thống sông Cửu
Long. Lƣợng nƣớc chảy vào ĐBSCL bắt nguồn chủ yếu từ ngoài lãnh thổ Việt
Nam, vì vậy, ĐBSCL có một chế độ thủy văn phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài.
Hàng năm chịu mùa lũ với ngập lụt trên diện rộng. Trong bối cảnh BĐKH và nƣớc
biển đang dâng lên thì nguy cơ gia tăng ngập lụt ở ĐBSCL đƣợc đánh giá là vấn đề
đáng kể nhất.
Tổ chức Nông Lƣơng Thế giới FAO đã chỉ ra rằng nông nghiệp, mà cụ thể là
trồng lúa nƣớc là ngành nhạy cảm với BĐKH và BĐKH có tác động nghiêm trọng
đối với các hoạt động sản xuất. Khi sinh kế của một hộ gia đình phụ thuộc vào các
nguồn thu nhập vốn đã ít ỏi và không có sự đa dạng hóa, và khi những nguồn thu
nhập này lại là đối tƣợng phụ thuộc lớn vào khí hậu thì các hộ gia đình có thể đƣợc
coi nhƣ những đối tƣợng phụ thuộc vào độ nhạy cảm của khí hậu (Adger 1999).
Ngành trồng lúa nƣớc truyền thống là phƣơng thức sinh kế chủ yếu của
ngƣời dân ở TP. Cần Thơ. Các vụ ngắn nhƣ rau và hoa quả hàng năm đƣợc thay thế
các vụ lúa. Đặc trƣng của ngành này là nông dân trồng lúa vào đầu mùa lũ và thu
hoạch khi mực lũ tiến sát đỉnh đê, các cánh đồng ngập lụt sau đó sẽ đƣợc tận dụng
để nuôi tôm, cá trong mùa đỉnh lũ.
BĐKH có tác động lớn đến sinh trƣởng, năng suất cây trồng, làm tăng nguy
cơ lây lan dịch bệnh. BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cƣờng độ, tính biến động
và tính cực đoan của các hiện tƣợng thời tiết nguy hiểm nhƣ bão, tố, lốc, các thiên
tai liên quan đến nhiệt độ và mƣa nhƣ thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn
7

hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng suất và sản lƣợng của lúa qua
đó BĐKH gây nguy cơ thu hẹp diện tích lúa nƣớc. Điều này cho thấy tại TP. Cần
Thơ, hộ gia đình nông dân đƣợc công nhận là đơn vị kinh tế cơ bản mà ngành nông

Năng suất lúa
Gây thiệt hại và giảm năng
suất lúa do mƣa lớn thất
thƣờng xảy ra vào thời điểm
thu hoạch, hay do ngập úng
Năng suất bị suy giảm do đất
8

Các yếu tố khí hậu
Đối tƣợng bị tác động
Tác động, rủi ro
và nƣớc bị nhiễm mặn
Làm gia tăng dịch bệnh, sâu
hại ảnh hƣởng đến năng suất
lúa
Các hiện tƣợng khí
hậu cực đoan khác
nhƣ bão, áp thấp
nhiệt đới,
Năng suất lúa
Gây thiệt hại nặng nề đối với
hệ sinh thái lúa nƣớc do đất
trồng lúa ngập, cây lúa bị đổ,
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong v ngoi nƣớc
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tiếp cận nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng bắt đầu từ cuối những
năm 90, với những nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng của hệ thống tự nhiên – xã hội
do các tai biến tự nhiên (Mai Trọng Nhuận, 2000-2005), biến đổi khí hậu và mực
nƣớc biển dâng (Tom, G và cộng sự, 1994-1996), môi trƣờng thay đổi (Adger,
1999). Sau đó, cách tiếp cận theo hƣớng tổng hợp gồm cả tổn thƣơng về tài nguyên

cận này đƣợc gọi là phƣơng pháp phát triển và phân tích kịch bản, phƣơng pháp
xem xét tác động va khả năng dễ bị tổn thƣơng ứng với từng tổ hợp các kịch bản
biến đổi khí hậu và các kịch bản phát triển khác nhau. Với mục đích đơn giản hóa
đồng thời vẫn đảm bảo tính đa dạng và đầy đủ của đánh giá, thông thƣờng ngƣời ta
sử dụng và phân tích tổ hợp của 3 kịch bản biến đổi khí hậu và 3 kịch bản phát triển
– nghĩa là có 9 trƣờng hợp đánh giá: Kịch bản biến đổi khi hậu ứng với kịch bản
phát triển 1 (trƣờng hợp 1), ứng với kịch bản phát triển 2 (kịch bản 2), ứng với kịch
bản 3 (trƣờng hợp 3); kịch bản biến đổi khí hậu 2 ứng với kịch bản phát triển 1
(trƣờng hợp 4), ứng với kịch bản phát triển 2 (trƣờng hợp 5) v.v Tuy nhiên, tùy
vào khả năng và yêu cầu của từng địa phƣơng, chúng ta cũng có thể chọn số trƣờng
hợp đánh giá ít hơn: Ví dụ nhƣ 3 kịch bản biến đổi khí hậu và 2 kịch bản phát triển
(6 trƣờng hợp) hay 1 kịch bản phát triển (3 trƣờng hợp). Sau khi xác định đƣợc các
tổ hợp kịch bản, tiến hành đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cho các ngành và
10

nhóm đối tƣợng ứng với từng tổ hợp kịch bản và ghi nhận kết quả vào Ma trận đánh
giá tác động.
Cũng trong năm 2011, ThS. Trần Thị Kim Lan – Sở Tài nguyên và Môi
trƣờng tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện nghiên cứu về đánh giá tác động của BĐKH,
tính dễ bị tổn thƣơng của BĐKH gây ra đối với trồng trọt - chăn nuôi và thủy sản –
ngƣ nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mặt
định tính mà chƣa tính toán cụ thể chi tiết về mức độ ảnh hƣởng và tổn thƣơng ở
từng mặt, từng lĩnh vực. Theo tác giả, các tác động của BĐKH bắt nguồn từ 3 hệ
quả là: Nhiệt độ tăng, mƣa với cƣờng độ lớn, mực nƣớc biển và ngập lụt gia tăng.
Trong lĩnh vực nguồn nƣớc và vệ sinh, một dự án thuộc nguồn vốn đầu tƣ
của ADB áp dụng nghiên cứu cho khu vực tỉnh Bến Tre đƣợc hoàn thiện vào năm
2011 với mục tiêu chính là đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng, rủi ro và các tác động
hiện tại đến nguồn nƣớc và vệ sinh ở tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu cũng xác định đƣợc
các điều kiện khí hậu nhất định trong tƣơng lai và đánh giá ảnh hƣởng của các kịch
bản BĐKH trong tƣơng lai đến hệ thống tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh. Bên cạnh

cách tổng thể và kết hợp cả ba khía cạnh “trụ cột” của phát triển là: môi trƣờng,
kinh tế và xã hội. Bởi vậy, EVI ngày càng trở nên quan trọng để có thể định lƣợng
đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng ở các khía cạnh khác nhau, kể cả mức độ thiệt hại và xây
dựng khả năng ứng phó, phục hồi. EVI là một trong những chỉ số đầu tiên của công
cụ quản lý môi trƣờng theo hƣớng hiện đại. Quy mô phát triển của một quốc gia
phù hợp nếu các điều kiện môi trƣờng đi cùng các quyết định quan trọng về chính
sách kinh tế, xã hội và hành vi văn hóa, bởi môi trƣờng là nền tảng của sự sống, hỗ
trợ cho hệ thống con ngƣời, đó là một phần đảm bao sự thành công của phát triển.
Trên một Tạp chí xã hội quốc tế về Ngăn ngừa và giảm thiểu các mối nguy
hiểm tự nhiên, số ISSN 0921-030X, “Nghiên cứu về chỉ số tổn thƣơng do ngập lụt
đối với các thành phố ven biển và đƣợc sử dụng trong đánh giá tác động của biến
đổi khí hậu”. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất là đánh giá tính dễ bị tổn
thƣơng ngập lụt vùng ven biển, đặc biệt là tạo ra các mối liên quan dễ nhận biết
giữa các khái niệm mang tính lý thuyết về tính dễ bị tổn thƣơng do ngập lụt, sự phù
12

hợp giữa các quyết định và các công cụ sử dụng. Nghiên cứu tập trung vào phát
triển chỉ số tổn thƣơng do ngập lụt ở các thành phố ven biển (CCFVI) dựa trên mức
độ phơi lộ, tính nhạy cảm và khả năng phục hồi, áp dụng cho 9 thành phố trên toàn
thế giới với mỗi thành phố có mức độ phơi lộ khác nhau.
Trong một nghiên cứu khác về tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu đến
tài nguyên nƣớc ở Mỹ vào tháng 5 năm 2011 của Viện nghiên cứu về con ngƣời và
vũ trụ Thái Bình Dƣơng. Tính dễ bị tổn thƣơng ở khu vực Bắc Mỹ phụ thuộc vào
khả năng và thời gian thích ứng, các chiến lƣợc ứng phó cụ thể giữa các vùng.
Nghiên cứu đã đi vào phân tích và đánh giá mức độ dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí
hậu đến tài nguyên nƣớc khu vực nƣớc Mỹ, đồng thời đƣa ra các kiến nghị về xây
dựng các chiến lƣợc thích ứng nhằm giảm thiểu rủi ro do biến đổi khí hậu.
Theo đánh giá của các nhà khoa học Mỹ về tính dễ bị tổn thƣơng, ảnh hƣởng
của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng tình trạng dễ bị tổn
thƣơng tại quốc gia này đang ngày một gia tăng và chính phủ Mỹ đã tiến hành thực

chất ô nhiễm từ châu Á - đang "chu du" qua đại dƣơng tới Bắc Mỹ và gây ô nhiễm
bầu không khí ở khu vực này, có thể khiến tác động của biến đổi môi trƣờng trở nên
nghiêm trọng hơn. Nghiên cứu của cơ quan trên cho biết khoảng một nửa khối
lƣợng bụi ở Mỹ và Canada có "xuất xứ" từ các nƣớc bên ngoài khu vực Bắc Mỹ,
trong đó phần lớn là bụi đƣợc hình thành tự nhiên trong không khí chứ không phải
bụi từ các hoạt động khai thác khoáng sản.
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng đới ven bờ do
mực nƣớc biền dâng cao (Thieler, E. Robert và cộng sự, 2001) dựa trên cơ sở
phƣơng pháp tính chỉ số tổn thƣơng ven biển (Coastal Vulnerability Index). Kết quả
đã thiết lập đƣợc bản đồ tổn thƣơng cho các khu vực ven bờ của Mỹ. Các nghiên
cứu này có ý nghĩa quan trọng nhằm xây dựng các biện pháp, chiến lƣợc thích ứng
với biến đổi môi trƣờng, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thƣơng do tác động của biến đổi
môi trƣờng (điển hình là mực nƣớc biển dâng).
Những nghiên cứu ở Châu Âu
Theo nghiên cứu của NASS (2003) về đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng và
thích ứng với biến đổi môi trƣờng ở NaUy, tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc nghiên cứu
14

và đánh giá dựa trên cách tiếp cận đa chiều, coi đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng là
một quá trình chứ không đơn thuần là một kết quả thực hiện. Nghiên cứu này có ý
nghĩa trong việc đƣa ra các kịch bản khí hậu, liên hệ với các điều kiện địa phƣơng
vào quá trình xác định mức độ tổn thƣơng.
Tại châu Âu, tháng 7 năm 2012, nghiên cứu về “Tổn thƣơng môi trƣờng, bản
đồ tính nhạy cảm và các giải pháp” thuộc dự án Quản lý rủi ro DNV đã tập trung
vào các vấn đề “tổn thƣơng môi trƣờng” do hoạt động khai thác dầu khí từ đó xây
dựng bản đồ tổn thƣơng môi trƣờng vùng ven biển ở châu Âu; nghiên cứu về quản
lý và phân tích rủi ro sự cố tràn dầu; từ các nghiên cứu đó các chuyên gia đã đƣa ra
các giải pháp để bảo vệ môi trƣờng ở những khu vực dễ bị tổn thƣơng.
Trong một báo cáo đã đƣợc hoàn thiện vào tháng 9 năm 2001 của nhóm tác
giả Ursula Kaly, Craig Pratt, Elizabeth Khaka, Arthur Dahl, Lino Briguglio và

Đến tháng 09/2011, Dự án Biến đổi khí hậu và vấn đề di dân đƣợc thực hiện với sự
hợp tác của Liên minh châu Âu, Viện Đại học châu Âu và Viện chính sách di dân.
Dự án phân tích chi tiết, đánh giá các ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu và xây dựng
các chính sách tiềm ẩn ứng phó với vấn đề di dân ngày một gia tăng do hậu quả của
tác động biến đổi khí hậu.
Những nghiên cứu ở Châu Á
Tại châu Á, nhiều nƣớc cũng đang phải đối mặt với tình trạng tiêu cực của
biến đổi môi trƣờng tự nhiên. Ấn Độ đang trải qua một đợt hạn hán tồi tệ với lƣợng
mƣa ít hơn 70% so với mọi năm. Hạn hán tại Ấn Độ đang làm ảnh hƣởng tới hoạt
động sản xuất lƣơng thực của nƣớc này. Tại Campuchia, hạn hán đang hoành hành
ở 11 trong tổng số 24 tỉnh, thành phố của nƣớc này, ảnh hƣởng đến hàng chục nghìn
ha trồng lúa. Tính đến nay, hạn hán đã tàn phá gần 5 nghìn ha mạ lúa và hơn 100 ha
đất trồng lúa. Theo Tổ chức Khí tƣợng học Thế giới, với tình trạng biến đổi môi
trƣờng nhƣ hiện nay, tần suất và cƣờng độ hạn hạn sẽ tiếp tục gia tăng trong thời
gian tới, từ đó tác động tới nhiều vấn đề khác trong xã hội nhƣ lƣơng thực, nƣớc
uống, y tế và năng lƣợng. Vấn đề cấp bách hiện nay là chính phủ các khu vực bị ảnh
hƣởng cần ƣu tiên các chính sách đánh giá thiệt hại nhƣ trợ cấp, giảm thuế đối với
những cộng đồng bị ảnh hƣởng cũng nhƣ triển khai các chính sách bảo hiểm hạn
16

hạn để hỗ trợ ngƣời dân.
Theo báo cáo của IPCC, biến đổi môi trƣờng tự nhiên sẽ gây ra các xu hƣớng
khí hậu cực đoan trên thế giới nói chung và châu Á nói riêng. Tại Hà Nội, Bộ
TN&MT phối hợp với Chƣơng trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã tổ chức
Hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu và các cực trị khí hậu tại Việt Nam”. Trong
Hội thảo này, ông Rajendra Kumar Pachauri, Chủ tịch Ủy ban Liên Chính phủ về
Biến đổi khí hậu (IPCC) đã công bố báo cáo đặc biệt của IPCC về “Quản lý rủi ro
các cực trị và thiên tai nhằm đẩy mạnh thích ứng với biến đổi khí hậu”.
Bên cạnh đó, “Xây dựng phƣơng pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng
trong sản xuất lúa gạo do biến đổi khí hậu”, Gayoung Yoo Jung Eun Kim, 2007 –


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status