ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
ĐẾN KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG THU BỒN
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Chuyên ngành: Thủy văn học
Mã số: 60 44 0224 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THANH SƠN
Hà Nội - 2013
LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS. Nguyễn Thanh Sơn,
là người trong suốt thời gian qua đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp
đỡ tôi phát huy khả năng và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời đến các thầy cô, gia đình, đồng nghiệp, bàn bè luôn cổ
vũ, động viên, giúp đỡ tôi có thêm nghị lực, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn
trong quá trình học tập và nghiên cứu để có ngày hôm nay.
Luận văn đã hoàn thành song không thể không mắc nhữ
ng sai lầm và
Chương 3. ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ ĐẾN KINH TẾ -
XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG THU BỒN 20
3.1. XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ (HIỂM HỌA) DO LŨ, NGẬP LỤT 20
3.2. XÂY DỰNG BẢN ĐỒ SỰ PHƠI NHIỄM CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG TRƯỚC
LŨ, NGẬP LỤT 24
3.3. XÂY DỰNG BẢN ĐỒ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA NGƯỜI DÂN 26
3.4. XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ, NGẬP LỤT.35
KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 40
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ lưu vực sông Thu Bồn 9
Hình 2.1: Các bước xác định tính tổn thương do lũ 17
Hình 2.2. Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Vu Gia – Thu Bồn 19
Hình 3.1. Bản đồ độ sâu ngập 21
Hình 3.2. Bản đồ vận tốc đỉnh lũ 21
Hình 3.3. Bản đồ thời gian ngập 23
Hình 3.4. Bản đồ nguy cơ lũ, ngập lụt 23
Hình 3.5. Bản đồ sử dụng đất tỉnh Quảng Nam 25
Hình 3.6. Bản đồ sự phơi nhiễm của các đối tượng trước lũ, ngập lụt 26
Hình 3.7. Yếu tố vật lý gây hại chính cho gia đình 30
Hình 3.8. Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương 30
Hình 3.9. Khắc phục tổn thương do lũ 31
TAR Third Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần III)
UNDP United Nations Depvelopment Programme ( Chương
trình Phát triển Liên hợp quốc)
1
MỞ ĐẦU
Miền Trung là vùng có chế độ khí hậu khắc nghiệt là nơi hứng chịu nhiều
thiên tai: bão, áp thấp nhiệt đới, nước dâng, lũ lụt và hạn hán với tần suất và cường
độ lớn nhất nước ta. Lũ lụt xảy ra do ảnh hưởng tổ hợp của các yếu tố tự nhiên nội
ngoại sinh cùng với các hoạt động kinh tế xã hội của con người trên bề mặt lưu vực
gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu thì sự
gia tăng về quy mô và cường độ các hiện tượng cực đoan trong đó có lũ lụt cùng
dẫn đến nhiều thảm họa. Đánh giá những tổn thương do lũ lụt trong bối cảnh biến
đổi khí hậu ở Miền Trung là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Thiên tai và những tác độ
ng của nó đến kinh tế, xã hội và môi trường ngày
càng gia tăng trên toàn thế giới. Theo tổng quan của Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu
được phiếu), nên thời gian để hoàn thiện luận văn bị hạn chế, vì thế tác giả đã chưa
đưa được kết quả tính tính dễ bị tổn th
ương do lũ của lưu vực nghiên cứu vào
nghiên cứu trong mảng bối cảnh biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu tính dễ bị
tổn thương do lũ này sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà họach
định chính sách ra quyết định chiến lược phát triển bền vững kinh tế xã hội. Bố cục
luận văn bao gồm:
Mở đầu
Chương 1 : Tổng quan
Chương 2: Phươ
ng pháp đánh giá tính dễ tổn thương do lũ
Chương 3: Đánh giá tính dễ tổn thương do lũ gây ra đối với kinh tế- xã hội
lưu vực sông Thu Bồn.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
1.1.1. Khái niệm chung về tính dễ tổn thương.
Mục đích của việc đánh giá tính dễ bị tổn thương nhằm cung cấp cho các nhà
ra quyết định hay các bên liên quan về những lựa chọn nhằm giảm thiểu ảnh hưởng
2004) như là các điều kiện xác định bởi các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế
và môi
trường hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng.
Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thì tính dễ bị tổn thương lại
tập trung vào năng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời
khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức
về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên c
ứu là giải thích các hành vi xã hội.
Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn
thương, họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thương mà
ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống.
Trong lĩnh vực vật lý, ngành khoa học tự nhiên đã giải thích tính dễ bị tổn
thương do ả
nh hưởng của biến đổi khí hậu. Hội đồng Quốc tế về Biến đổi khí hậu
(IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương qua nhiều năm. Năm
1992, họ xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ không có khả năng đối phó với
những hậu quả của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Năm 1996, SAR
đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà biến đổi
khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ
nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với
điều kiện khí hậu mới. Được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậ
u
sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện (Downing, 2005). Định nghĩa này
bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối
nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu [5].
IPCC TAR (2001) [5] đã giải thích khái niệm tính dễ bị tổn thương như mức
độ dễ bị ảnh hưởng của hệ thống hoặc kh
ả năng không thể đối phó được với các tác
động của biến đổi khí hậu. Tính dễ bị tổn thương là một hàm đặc trưng của cường
vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết
định nhằ
m chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu.
1.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐÁNH GIÁ TỔN THƯƠNG LŨ
Trong những năm qua việc quản lý lũ bằng các phương án công trình như đê
và hồ chứa, được thiết kế với các trận lũ có tấn suất khác nhau đã chiếm ưu thế. Đây
là cách tiếp cận nhằm giảm thiên tai lũ, nghĩa là gi
ảm xác suất xuất hiện, cường độ
6
lưu lượng lũ, cũng như giảm diện ngập lụt.
Thời gian gần đây đã có sự phát triển quan trọng: đó là chuyển mục tiêu quản
lý thiên tai sang quản lý rủi ro lũ, trong đó rủi ro lũ là những thiệt hại do lũ lụt gây
ra với một tần suất nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Vì thế, việc đánh
giá những thiệt hại, tổn th
ương lũ cần được nghiên cứu một cách cẩn trọng trong
quản lý rủi ro lũ.Việc đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ đang đạt được những kết quả
quan trọng phục vụ cho việc đưa ra các quyết định trong quản lý rủi ro lũ thông qua
các bước sau:
Đánh giá tổn thương lũ: Các đối tượng trong vùng lũ như nhà ở, cộng đồng,
công trình vv…. bị tổn thươ
ng một cách biến động không chỉ theo không gian, thời
gian mà còn phụ thuộc vào khả năng chống chịu của người dân tại đó. Ví dụ, các
cộng đồng phải thường xuyên đối mặt với lũ lụt, họ sẽ phát triển các chiến lược đối
phó với các hiện tượng đó. Còn các cộng đồng không phải đối mặt với các trận lũ
lụt thường bỏ qua việc thích nghi với các nguy c
ơ lũ, vì thế họ sẽ bị tổn thương lớn
hơn khi phải đối diện với lũ. Do đó, những đánh giá về tổn thương lũ đóng vai trò
quan trọng trong bài toán xác định phương án giảm rủi ro thích hợp, như phát triển
các kế hoạch khẩn cấp và thực hiện các bài tập trong tình huống khẩn cấp.
Bản đồ hóa tổn thương lũ: Bản đồ tổ
với cùng các điều kiện kinh tế xã hội là giống nhau.
Cũng theo [5] Mai Dang (2010) đã nghiên cứu cả về khía cạnh kinh tế, xã hội
và môi trường trong nghiên cứu tổn thương lũ ở lưu vực sông Đáy. Tác giả chưa
đánh giá được khả năng chống chịu củ
a cộng đồng, khả năng tự phục hồi của hệ
thông và tính nhạy của cộng đồng (sự hiểu biết, khả năng nhận thức rủi ro, sự chuẩn
bị, các công trình và biện pháp phòng chống lũ ).
Với các cách tiếp cận ở trên, tuy đã sử dụng khía cạnh kinh tế để đánh giá
tính dễ bị tổn thương lũ, nhưng chưa tính đến khả năng ch
ống chịu của cộng đồng
cũng như sự hiểu biết, khả năng nhận thức rủi ro, sự chuẩn bị, các công trình và
biện pháp phòng chống lũ vv… Các yếu tố này, thực chất rất quan trọng trong việc
đánh giá các tổn thương do lũ.
Một hướng nghiên cứu khác đánh giá tổn thương lũ dựa vào bản thân cộng
đồng dân cư mà không xét đến sự lộ diện của c
ộng đồng đó trước nguy cơ lũ.
Nghiên cứu của Conner (2007) [5] đã đưa các biện pháp công trình và phi công
trình vào tính toán chỉ số tổn thương lũ, thể hiện khả năng chống chịu của cộng
đồng dân cư. Sebastian (2010) [5] đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa
8
xác suất tác động (thiệt hại) và khả năng chống chịu. Theo cách tiếp cận này thì tính
tổn thương lũ của các cộng đồng sống ven sông ngang bằng với những cộng đồng
sống ở vùng cao [5].
Các cách tiếp cận đánh giá tổn thương lũ ở trên chỉ xem tính tổn thương lũ là
một yếu tố trong việc xác định rủi ro lũ và chỉ tập trung vào một mặt nhất đị
nh như
kinh tế hay khả năng chống chịu của cộng đồng. Trong nghiên cứu của Villagra’n
de Leo’n JC (2006) [5] và UNESCO – IHE (2007)[5] thì tổn thương lũ được xác
định qua khả năng chống chịu, tính nhạy và sự lộ diện của các đối tượng trước nguy
cơ lũ và đó cũng là hướng lựa chọn để tiệm cận nghiên cứu của luận văn này. Cơ sở
Mã, kéo dài từ Đông sang Tây với một số đỉnh cao trên 100m (Núi Mang 1708m,
Bà Nà 1483m); phía Tây là dãy Trường S
ơn Nam với một số đỉnh cao trên 200m (A
9
Tuất 2500m, Lum Heo 2045m, Tion 2032m, ); phía Nam là khối núi Kon Tum
thuộc dãy Trường sơn với đỉnh Ngọc Linh cao 2598m, chạy ra tới biển. Như vậy,
lưu vực hệ thống sông Thu Bồn được bao bọc bởi các dãy núi cao ở ba phía, Bắc,
Tây và Nam. Chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống đồng bằng là vùng trung du với
những đồi núi thấp có độ cao (100-800m).
Hình 1.1. Bản đồ lưu vực sông Thu Bồn
Vùng đồng bằng hẹp có địa hình thấp dưới 30m, phân bố ở một số huyện
thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ( Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Thăng Bình, Hội
An) và thành phố Đà Nẵng (huyện Hòa Vàng, các quận Ngũ Hành Sơn và Hải
10
Châu). Tiếp giáp với biển là những dải cát có những cồn cát cao hơn 10m [8].
c) Thổ nhưỡng
Đất được phát tiển trên các loại đá mẹ [8], gồm các loại chính: nhóm đất mùn
trên núi cao; nhóm đất feralit phát triển đá mác ma và các loại đá khác, phân bố
rộng rãi ở vùng đồi núi thấp; đất phù sa; đất phenfm đất mặn; đất cát biển và đất xói
mòn từ sỏi đá.
d) Thực vật
Thực v
ật trong lưu vực khá phong phú và đa dạng, gồm kiểu rừng kín thường
xanh ẩm á nhiệt đới phân bố ở độ cao trên 1000m; kiểu rừng kín lá rụng hơi ẩm
nhiệt đới; kiểu rừng cây thưa, lá rộng hơi khô nhiệt đới và kiểu rừng cây là kim hơi
khô nhiệt đới. Ngoài ra, còn có các trảng cỏ, cây bụi. Rừng bị tàn phá, khai thác
thiếu quy hoạch. Tính đến năm 2006, diện tích rừng trong tỉnh Quảng Nam khoảng
457,7.10
3
0
C ở vùng núi.
- Độ ẩm không khí có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ không khí và lượng
11
mưa. Vào các tháng mùa mưa độ ẩm không khí vùng đồng bằng ven biển có thế đạt
85- 88%, vùng núi có thể đạt 90- 95%. Các tháng mùa khô vùng đồng bằng ven
biển chỉ còn dưới 80%, vùng núi còn 80-85%. Độ ẩm không khí vào những ngày
thấp nhất có thể xuống mức 20-30%.
- Lượng mây tổng quan trung bình năm biến đổi trong phạm vi (5-7,7)/10
bầu trời, có xu thế tăng dần từ đồng bằng lên miền núi
- Tốc độ gió bình quân hàng năm vùng núi đạt 0,7-1,3 m/s, trong khí đo vùng
đồng bằng ven biển
đạt 1,3 -1,6 m/s. Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được ở Trà
My mùa hạ đạt 34m/s, trong mùa mưa đạt 25m/s. Vùng đồng bằng ven biển gió
thường mạnh hơn và đạt 40m/s như ở Đà Nẵng khi có bão
- Lượng bốc hơi phụ thuộc vào yếu tố khí hậu: nhiệt độ không khí, nắng, gió,
độ ẩm Lượng bốc hơi trung bình năm trên lưu vực khoảng 680-1040mm, ở vùng
núi lượng bốc hơi khoả
ng 680-800mm, vùng đồng bằng ven biển lượng bốc hơi
khoảng 880-1050mm.
- Lượng mưa năm phân bố rất không đều trong lưu vực, từ dưới 2000mm ở
thung lũng sông Bung tăng lên tới trên 4000mm ở vùng núi, trong đó trung tâm mưa
lớn Trà My – thượng nguồn sông Thu Bồn là trung tâm mưa lớn nhất ở Nam Trung
Bộ, và là một trong một số trung tâm mưa lớn ở nước ta [8].
f) Mạng lưới sông ngòi trên lưu vực
Với hình d
ạng lưu vực hình bầu nên mạng lưới sông trên lưu vực Thu Bồn
phát triển tới các phụ lưu cấp IV và trong tổng số 78 phụ lưu có chiều dài sông
chính lớn hơn 10km được phân chia theo các cấp : 19 phụ lưu cấp I, 36 phụ lưu cấp
II, 22 phụ lưu cấp III và 2 phụ lưu cấp IV.
2
,
thành phố Tam Kỳ 1178 người/km
2
, thành phố Hội An 1473 người/ km
2
trong khi
đó huyện Nam Giang 12 người/km
2
. Dân cư trong vùng đông nhất là dân tộc Kinh
có 1.280.587 người, chiếm 93,2%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Cơ Tu có
37.310 người, chiếm 2,71%; dân tộc Xơ Ðăng có 30.231 người, chiếm 2,2%; dân
tộc Mnông có 13.685 người, chiếm 0,99%; dân tộc Giẻ Triêng có 4.546 người,
chiếm 0,33%; dân tộc Co có 4.607 người, chiếm 0,33%; dân tộc Hoa có 1.106
người, chiếm 0,08%; dân tộc Tày có 509 người, chiếm 0,03%; dân tộc Mường có
364 người, chiếm 0,02%; dân tộc Nùng có 247 người, chiếm 0,01%; các dân tộc
khác chiếm 0,1%.
b) Văn hóa và giáo dục
Chất lượng giáo dục qua các năm được nâng cao rõ rệt: Trẻ em 5 tuổi được
huy động đi học trường mẫu giáo đạt tỷ lệ 98% hàng năm. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ
thông trung học năm 2009-2010 đạt 94,85% đối với trung học phổ thông, trong đó
13
20,59% em trúng tuyển vào các trường đại học- cao đẳng; học sinh khối giáo dục
thường xuyên đạt tỷ lệ tốt nghiệp là 54,63%.
Quảng Nam đang nỗ lực thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và
Nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012. Theo kế hoạch đã được phê duyệt,
tổng mức đầu tư Đề án này triển khai tại địa phương là 155,640 tỷ đồng; trong đó,
tỷ lệ vốn đối ứng của địa phương là 40%, tương đương với 45,439 t
ỷ đồng [9].
c) Cơ cấu kinh tế
Kỳ Hà là một cảng nước sâu nằm trong khu kinh tế mở Chu Lai và ngay cạnh khu
kinh tế Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi), hiện nay tàu có trọng tải dưới 2 vạn tấn
thường xuyên ra vào cảng này Quảng Nam có 8 tuyến đường sông với tổng chiều
dài khoảng 200 km phân bố tương đối đồng đều trên khắp địa bàn tỉnh, đảm bảo cho
phương tiện từ 5 - 25 tấn vận chuyển hàng hoá, hành khách thông suốt. Sân bay
Chu Lai là một trong sáu sân bay hiện đại nhất của Việt Nam, có đường băng dài
3.050 mét, có khả năng phục vụ các loại máy bay trọng tải lớn như: Boing,
Airbus [9].
Về du lịch, tỉnh Quảng Nam có 125 km bờ biển kéo dài từ Điện Ngọc (giáp
bãi biển Non Nước, thành phố Đà Nẵng) đến giáp vịnh Dung Quất (tỉnh Quảng
Ngãi), với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như: Hà My (huyện Điện Bàn), Cửa Đại
(thành phố Hội An), Bình Minh (huyện Thăng Bình), Tam Thanh (thành phố Tam
Kỳ), Kỳ Hà, Bãi Rạng (huyện Núi Thành) nơi đâu cũng hoang sơ, tràn đầy gió và
ánh nắng mặt trời [9].
1.5. LŨ LỤT VÀ NHỮNG TỔN THƯƠNG TRÊN LƯU VỰC SÔNG THU BỒN
Do vị trí địa lý, đặc điểm về địa hình, địa mạo cùng với tác động biến đổi khí
hậu toàn cầu, tình hình thiên tai tại lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn diễn ra hết sức
phức tạp và có xu thế ngày càng gia tăng về số lượng cũng như mức độ khốc liệt.
Các loại hình thiên tai thường xuất hiện ở lưu vực là áp thấp nhiệt đới, bão, lũ lụt,
giông sét, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở đất…Trong đó hai loại hình thiên tai là
bão và lũ lụt là nguy hiểm nhất và gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản.
Bão và ATNĐ thường xảy ra trong thời gian từ tháng V đến tháng VII, tập
trung chủ yếu vào tháng X và XI. Các cơn bão và ATNĐ thường xuất hiện kèm
15
theo gió xoáy, mưa to nên dễ gây ra lũ lụt. Theo thống kê trên biển Đông từ năm
1997 đến 2009 xuất hiện 174 cơn bão và ATNĐ, trong đó có 26 cơn bão và 12
ATNĐ ảnh hưởng đến lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn. Đặc biệt có cơn bão số 6
(2006) có tên quốc tế là Sang Sane và cơn bão số 9 (2009) có tên quốc tế là Ketsana
đã đổ bộ trực tiếp vào tỉnh Quảng Nam gây thiệt hại nhiều về người và tài sản.
Lũ lụt th
thương lũ, sự phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu qua công thức [5]:
Tổn thương =
(2.1)
Trong khi đó UNESCO – IHE [5] lại đưa ra một cách tính khác:
Tổn thương lũ = Sự phơi nhiễm + Tính nhạy – Khả năng phục hồi (2.2)
Trong đó, sự phơi nhiễm được hiểu như là các giá trị có mặt tại vị trí lũ lụt có
thể xảy ra. Những giá trị này có thể là hàng hóa, cơ sở hạ tầng, di sản văn hóa, con
người, nông nghiệp…hay sự phơi nhiễm có thể được hiểu là mức độ phơi bày c
ủa
tài sản, con người nằm trong vùng nguy cơ lũ. Sự phơi nhiễm phụ thuộc vào tần
suất xuất hiện con lũ, cường độ lũ và giá trị tài sản, con người có mặt tại đó.
Tính nhạy được định nghĩa là các yếu tố tiếp xúc trong hệ thống, ảnh hưởng
đến xác suất bị tổn hại ở những thời điểm nguy hại của l
ũ lụt. Tính nhạy liên quan
đến các đặc tính của hệ thống, bao gồm bối cảnh xã hội của dạng thiệt hại do lũ.
Đặc biệt là nhận thức và sự chuẩn bị sẵn sàng của người dân trước nguy cơ lũ, các
tổ chức liên quan đến giảm nhẹ thiên tai, các biện pháp bảo vệ cộng đồng trước lũ.
Khả năng phục hồi là khả năng của h
ệ thống chịu được những nhiễu loạn do
lũ gây ra và duy trì hiệu quả các hoạt động của thành phần kinh tế xã hội, môi
trường, vật lý của hệ thống.
Trong tình hình thực tế, rất khó khăn để đánh giá tính nhạy cảm, khả năng
phục hồi và khả năng đối phó một cách riêng biệt cho các cộng đồng, do
vậy những khía cạnh đó có thể được kết hợp thành kh
ả năng chống chịu, khi đó tổn
thương lũ có thể tính như sau:
Tổn thương = Sự phơi nhiễm – Khả năng chống chịu (2.3)
17
Nếu như sự phơi nhiễm thể hiện sự phơi bày của tài sản, con người trước
Qua hình 2.1, để xây dựng được bản đồ tổn thương lũ cần xác định đựơc sự
phơi nhiễm (phơi bày) của các đối tượng trước lũ và khả năng chống chịu của cộng
đồng. Trong đó sự phơi bày của các đối tượng trước lũ được thành lập dựa trên bản
đồ nguy cơ lũ và bản đồ sử dụng đất. Ở đây bả
n đồ nguy cơ lũ được tích hợp dựa
trên ba bản đồ: bản đồ độ sâu ngập, bản đồ thời gian ngập, bản đồ vận tốc đỉnh lũ.
Các bản đồ này là kết quả đầu ra của mô hình thủy lực, cụ thể là mô hình thủy lực
MIKE FLOOD đã được sử dụng để xây dựng bản đồ nguy cơ lũ.
Bản đồ nguy cơ lũ có th
ể được đánh giá thông qua các chỉ số cơ bản như bản
đồ ngập lụt, thời đoạn lũ, vận tốc lũ, xung lượng lũ (là tích của mực nước lũ và vận
tốc lũ), vật liệu trong dòng lũ (trầm tích, muối, các chất hóa học, nước thải và đất
đá) vv…Trong các yếu tố đó thì độ sâu ngập lụt, vận tốc đỉnh lũ, thời gian ng
ập lụt
đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định các thiệt hại về lũ. Sự tích hợp giữa
độ sâu ngập và vận tốc đỉnh lũ thể hiện khả năng phá hủy các đối tượng trên vùng
mà lũ đi qua, ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng như nhà cửa, các công trình,
tính mạng của người dân và sức khỏe của cộng đồng. Thời đoạn lũ
hay thời gian
ngập lụt lại ảnh hưởng gián tiếp đến sự phá hủy như làm ngập úng hoa màu, gián
đoạn các hoạt động kinh tế xã hội, gây ô nhiễm, bệnh dịch vv… Để đánh giá được
nguy cơ lũ trong vùng nghiên cứu luận văn sử dụng kết quả của bộ mô hình MIKE
FLOOD đã được Vũ Thị Thu Lan và các cộng sự áp dụng mô phỏng ngập lụt trên
lưu vực nghiên cứu và
đã xây dựng bộ bản đồ ngập lụt với các tần suất khác nhau
để mô phỏng lại các trận lũ trong lịch sử. Dựa trên phương pháp chồng xếp bản đồ
độ sâu ngập, vận tốc lũ, thời gian ngập (kết quả đầu ra của mô hình MIKE FLOOD)
theo trọng số nghiên cứu đã xây dựng bản đồ nguy cơ lũ.
2.2. BẢN ĐỒ NGẬP LỤT LƯU VỰC SÔNG VU GIA- THU BỒ
N