Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi
khí hậu đối với sinh kế người dân các xã
vùng đệm Vườn quốc gia Cát Bà
Nguyễn Văn Công
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS. TS. Trần Văn Thụy
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Dự báo các tác động của biến đổi khí hậu với khu vực Vườn Quốc gia
Cát Bà. Đánh giá khả năng thích ứng và tính dễ bị tổn thương biến đổi khí hậu của
các nhóm cộng đồng ven biển tham gia hoạt động sinh kế tại vùng đệm Vườn Quốc
gia Cát Bà. Cung cấp các khuyến nghị và đề xuất giải pháp giảm thiểu cho các hoạt
động sinh kế và quản lý tài nguyên hỗ trợ tăng cường khả năng thích ứng của người
dân địa phương trước tác động của biến đổi khí hậu.
Keywords: Khoa học môi trường; Biến đổi khí hậu; Ảnh hưởng môi trường; Vườn
Quốc gia Cát Bà
Content
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHÊN CỨU
1.1. Biến đổi khí hậu và các tác động của biến đổi khí hậu
1.1.1. Biến đổi khí hậu
Trong lịch sử phát triển của Trái đất, khí hậu đã có nhiều lần thay đổi do tự nhiên.
Những thời kỳ băng hà xen lẫn các thời kỳ ấm lên của Trái đất đã xảy ra từ cách đây rất lâu
(hàng vài triệu năm) cho tới khoảng 18.000 năm trước Công nguyên. Thời kỳ tiểu băng hà
gần nhất xảy ra ở châu Âu trong giai đoạn giữa hai thế kỷ XVI-XIX. Biến đổi khí hậu toàn
cầu hiện nay bắt đầu xảy ra từ giữa thế kỷ XIX. Nhiệt độ trung bình của Trái đất hiện nay
đã tăng 0,74
tài liệu quan trọng nhất về biến đổi khí hậu. Theo IPCC (2007), sự ấm lên của khí hậu là
điều chắc chắn. Hàm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọng nhất trong bầu khí
quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhưng đã tăng
lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150 năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và
một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng
đất.
1.2.1.2. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu được nghiên cứu nhiều sau khi Việt Nam tham gia
ký công ước khung liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992 và sau đó là
tham gia nghị định thư Kyoto năm 1998. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã đi sâu nghiên
cứu về BĐKH như Giáo sư Nguyễn Đức Ngữ với sự ra đời cuốn sách Biến đổi khí hậu,
nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật năm 2008, và nhiều nhà khoa học khác cũng tham gia vào
lĩnh vực nghiên cứu này. Bộ Tài nguyên và Môi trường là đơn vị nhà nước Việt Nam chủ
trì các hoạt động liên quan đến biến đổi khí hậu. Cho đến này, Bộ đã xây dựng 02 kịch bản
biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam lần lượt năm 2009 và năm 2011.
1.2.2. Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới và Việt Nam
1.2.2.1. Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới
Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi các cách tiếp cận đối với phát triển
trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người
và tính bền vững hơn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc
tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods
Framework) để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình. Theo khung này, các
hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực
sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa
phương.
1.2.2.2. Các nghiên cứu về sinh kế tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cùng với các hoạt động được đầu tư cho nghiên cứu về biến đổi khí
hậu, nhiều hoạt động nghiên cứu về sinh kế và sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Năm 2010, MONRE và UNDP đã xuất bản tài liệu về “Xây dựng khả năng phục hồi:
Chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động biến đổi khí
công bố của Việt Nam (MONRE, 2009, 2012) và các nguồn số liệu khác, ở các cấp độ
khác nhau (quốc gia, khu vực/vùng, tỉnh)
2.2.2. Khung đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng biến đổi khí hậu
Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương biến đổi khí hậu được Allison đưa ra năm
2009 trong báo cáo của ông và cộng sự. Theo khung đánh giá này, các khái niệm được sử
dụng cho đánh giá tính tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu như sau: Hình 2.1. Khung đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu (Allison và NNK,
2009)
MỨC ĐỘ
PHƠI VỚI
TÁC
ĐỘNG (E)
BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
TÍ NH
NHẠY
CẢM (S) TÁC ĐỘNG
TIỀM NĂNG
(PI =S+E)
NĂNG
LỰC
THÍ CH
tin liên quan đến hộ như kinh tế hộ, nguồn thu nhập và ngành nghề chính…
Phỏng vấn sâu cá nhân: Phương pháp này được sử dụng nhằm khai thác thông tin từ các
chuyên gia địa phương, người có kinh nghiệm trong nghề lâu năm.
Quá trình điều tra, đánh giá tại thực địa được chia làm 03 đợt: Đợt 1 từ ngày 20 – 24/4/2012
tại xã Xuân Đám và Gia Luận và đợt 2 từ ngày 23 – 27/8/2012 tại xã Trân Châu và Việt Hải
và đợt 3 từ ngày 1 – 5/11/2012 tại xã Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám. Khảo sát được thực
hiện trên 120 hộ và tác giả đã thực hiện phỏng vấn sâu đối với các cán bộ tại KDTSQ Cát Bà,
VQG Cát Bà và UBND huyện Cát Hải.
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khái quát đánh giá các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
8
Vị trí địa lý:
Hình 3.1. Khu Dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà
Đảo Cát Bà nằm phía cực đông của tỉnh Hải Phòng, thuộc huyện Cát Hải. Quần đảo
Cát Bà có hơn 366 hòn đảo lớn nhỏ kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Quần đảo Cát
Bà có vị trí địa lý 20°50’N và 106°38’E. Đảo Cát Bà nằm giáp ranh với vùng biển vịnh Hạ
Long.
Địa hình:
Cát Bà có đặc trưng là địa hình núi non hiểm trở, độ cao từ 0 - 322m so với mực nước
biển, phần lớn cao từ 50-200 m, địa hình là cao ở phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông
Nam. Đảo Cát Bà được cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo đá vôi, do đó địa hình có sự phân
cấp lớn. Có 4 loại địa hình chủ yếu là địa hình núi đá vôi sườn dốc, địa hình núi đá vôi karst,
địa hình thung lũng và địa hình ngập mặn ven biển. Trong đó địa hình karst là dạng địa hình
đặc trưng và là dạng địa hình phổ biến nhất của đảo Cát Bà nên trên đảo Cát Bà sinh kế nông
nghiệp khá hạn chế và ngành du lịch phát triển hơn.
mặn sẽ gặp nhiều khó khăn do phải giải quyết được thỏa đáng mối quan hệ về sở hữu công -
tư.
3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Dân số, lao động:
10
Theo số liệu từ niên giám thống kê 2010, Đảo Cát Bà gồm 06 xã và 01 thị trấn, với
tổng diện tích đất tự nhiên là 37,050 km
2
,
dân số 16.340 người (8.042 nam và 8.092 nữ), trong
đó thị trấn Cát Bà có dân số lớn nhất với 10.799 người. Dân số tập trung trong nghành phi
nông nghiệp đặc biệt là du lịch chiếm 79,7% dân số. Tuy nhiên, tính trên 06 xã tỉ lệ nông
nghiệp chiếm tới 52,8% tổng số dân. Như vậy, dịch vụ chủ yếu tập trung chính tại thị trấn Cát
Bà nơi có nghành du lịch hết sức phát triển.
Ngành nghề: Các hoạt động kinh tế chính ở khu vực nghiên cứu bao gồm các lĩnh
vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, du lịch và dịch vụ.
3.1.3. Các sinh kế chính ngƣời dân khu vực vùng đệm vƣờn Quốc gia Cát Bà
Khai thác thủy sản:
Nghề khai thác cá biển ở Cát Bà có truyền thống khá lâu. Trong cơ chế quản lý nghề
cá cũ trước đây, các hợp tác xã nghề cá đã một thời rất phát triển, là một điển hình của miền
Bắc. Đạt được thành tích đó là nhờ nghề cá lúc đó là nghề cá thủ công, chỉ hoạt động đánh bắt
ở vùng gần bờ, do ở vào vị trí tự nhiên thuận lợi, nguồn lợi ven bờ còn rất dồi dào và đội ngũ
ngũ dân lành nghề, thuyền lưới và công cụ sản xuất được Chính phủ cho vay vốn
Nuôi trồng thủy sản
Khai thác và nuôi thủy sản trên đảo Cát Bà diễn ra khá sôi động. Phù Long là xã có
nhiều hình thức nuôi trồng thủy sản vùng ven bờ như: nuôi ngao, ngán, đầm nuôi tôm tự
nhiên, đầm quảng canh trong rừng ngập mặn và đầm tôm công nghiệp (Công ty Sơn Trường).
Hai xã Xuân Đám và Hiền Hào có một số bãi nuôi ngao với diện tích không lớn lắm. Nuôi cá
lồng bè rất phổ biến ở các khu vực vịnh kín thuộc thị trấn Cát Bà, xã Việt Hải và Gia Luận.
cũng có tới 247 người tham gia.
3.2. Tác động biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu
3.2.1. Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu khu vực đảo Cát Bà
Theo số liệu quan trắc được tại các trạm Phù Liễn và Hòn Dáu, những biểu hiện của
biến đổi khí hậu (bao gồm biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa, xoáy thuận nhiệt đới, mực nước
biển) trên khu vực đảo Cát Bà có một số đặc điểm:
Hình 3.6. Diễn biến nhiệt độ tại Cát Bà thời kỳ 1961 - 2007
Nhiệt độ tăng khoảng 0,12°C mỗi thập kỉ, trong đó nhiệt độ mùa xuân tăng ít nhất
12
(khoảng 0,08°/thập kỉ), nhiệt độ mùa đông tăng mạnh nhất (khoảng 0,23°C/thập kỉ). Nhiệt độ
trung bình năm của thời kì gần đây (1991-2007) tăng 0,4°C so với thời kì trước (1961-1990).
Trong thời kì gần đây, tần suất mùa lạnh kết thúc sớm (tháng 11) tăng lên và tần suất mùa
lạnh kết thúc muộn giảm đi so với thời kì 1961-1990.
Trong thời kì 1960-2007, lượng mưa năm giảm (-6,99mm), lượng mưa mùa khô tăng
chút ít, hầu như không thay đổi, lượng mưa mùa mưa giảm từ 5-10%. Trong thời kì gần đây
(1991-2007), lượng mưa giảm (-168 mm) so với thời kì trước (1961-1990), tuy nhiên số ngày
mưa lớn lại có xu hướng gia tăng.
Hình 3.8. Diễn biến mực nƣớc biển tại trạm Hòn Dáu (1955 - 2007)
Mực nước biển trong khu vực đảo Cát Bà được tính theo số liệu quan trắc tại trạm
Hòn Dáu. Theo đó, mực nước biển trung bình năm có xu hướng tăng 3,88 mm/năm trong thời
kì 1960-2007, mực nước biển cao nhất năm có xu hướng tăng 5,6 m/năm, mực nước biển thấp
nhất năm tăng 2,15 mm/năm. So sánh thời kì gần đây (1991-2007) với thời kì trước (1961-
1990), mực nước biển trung bình năm tăng 7,2 cm, mực nước biển cao nhất năm tăng 7,8 cm,
mực nước biển thấp nhất năm tăng 2,7 cm.
3.2.2. Kịch bản biến đổi khí hậu cho khu vực đảo Cát Bà
Theo khuyến nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc sử dụng kịch bản biến đổi
khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam trong đánh giá tác động và xây dựng kế hoạch ứng
0,7
1,0
1,3
1,6
1,9
2,1
2,3
2,5
% lượng mưa
0,9
1,3
1,8
2,3
2,8
3,3
3,7
4,1
4,4
Mực nước biển dâng
khu vực Móng Cái -
hòn Dáu (cm)
7-8
11-
12
15-
17
20-
24
25-
31
hoạt và sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể trữ nước khi
nhu cầu nước tăng cao do dân số và nhu cầu sử dụng nước của du lịch và các hoạt động kinh
tế xã hội khác tăng lên.
Tác động đến tài nguyên đất
Một phần diện tích của hơn 40 ha đất thấp canh tác nông nghiệp thuộc các xã Hiền
Hào, Xuân Đám đã bị nhiễm mặn và nguy cơ nhiễm mặn có thể sẽ tăng cao hơn trong tương
lai, dẫn đến phải chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng trọt sang mục đích khác.
Tác động tới trồng trọt và chăn nuôi
Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới trồng trọt và chăn nuôi của Việt Nam dưới nhiều
góc độ khác nhau [44] và Cát Bà cũng không nằm ngoài các tác động đó.
Tác động tới lâm nghiệp
Nhiệt độ cao hơn, cường độ bức xạ cao hơn thúc đẩy quá trình quang hợp, song độ ẩm
giảm đi lại kìm chế chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng. Đặc biệt, khi nhiệt độ tăng cao
và bốc hơi nhiều hơn khiến gia tăng nguy cơ cháy rừng trong các tháng nóng và khô hanh
(MONRE-Vietnam, 2010). Tại khu vực rừng trên núi ở Vườn quốc gia Cát Bà, nguy cơ cháy
cao thường xảy ra vào các tháng 2 và tháng 3 ở các khu vực xa, khó dập tắt, với nguyên nhân
chủ yếu do bất cẩn của người dân khi đi vào rừng khai thác sản phẩm phi gỗ (như mật ong,
tắc kè).
Tác động đến đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
Biến đổi khí hậu dẫn đến mưa lớn có thể xảy ra, khiến cho nồng độ muối tại những
vùng nước nông giảm đi đột ngột làm cho sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là tôm, có thể
bị sốc và chết. Theo kết quả phỏng vấn, nhiệt độ cao vào mùa hè chưa có ảnh hưởng lắm tới
các loài nuôi trong các lồng bè ở các xã và thị trấn Cát Bà. Tuy nhiên, nhiệt độ cao sẽ ảnh
hưởng đến tôm cá nuôi ở các đầm mà không đủ độ sâu thích hợp cho chúng. Vào mùa đông,
những người nuôi lồng bè ở khu vực Bến Bèo cho biết, nếu nhiệt độ xuống dưới 9
0
C, một số
loài cá nuôi trong lồng bè chậm lớn hoặc thậm chí có thể chết (ví dụ như cá sú, sao, vược).
Trong điều kiện BĐKH, nếu nhiệt độ xuống quá thấp (dưới 9
0
Theo kết quả khảo sát, nhận thức về biến đổi khí hậu của người dân làm sinh kế trên
đảo Cát Bà cho thấy, hơn 19,5% số hộ được hỏi chưa từng được nghe về biến đổi khí hậu. Đối
tượng hiểu biết thấp về biến đổi khí hậu chủ yếu tập trung vào các hộ cận nghèo.
Theo kết quả khảo sát vào tháng 6/2012 cho thấy, nhận thức, thông tin về vấn đề biến
đổi khí hậu, ảnh hưởng của nó đến đời sống của người dân, các biện pháp ứng phó vấn còn
hạn chế. Thông tin về diễn biến của biến đổi khí hậu, cũng như những tác động và ảnh hưởng
của biến đổi khí hậu chưa được thực hiện theo bài bản và chưa được đưa vào hệ thống tuyên
truyền đại chúng tới nhân dân địa phương.
3.3.2. Nguồn lực xã hội
Về mặt tổ chức xã hội, người dân trên đảo Cát Bà có tính liên kết cao. Đa số người
dân đều là người từ đảo Cát Hải, sau khi người gốc Hoa rời bỏ đảo cách đây gần 200 năm,
người dân Cát Hải đã di chuyển và định cư sinh sống tài đảo Cát Bà. Vào thời điểm đó, các xã
hiện nay là các làng và người dân sinh sống với nhau trong sinh hoạt làng xã.
16
Tuy nhiên, bên cạnh sự đoàn kết về mặt xã hội, trong các sinh kế lại thiếu sự liên kết
trong làm ăn. Cụ thể, hiện nay trên đảo chỉ có 01 chi hội nuôi trồng thủy sản và 01 chi hội
khai thác thủy sản tại xã Phù Long. Các tổ hợp tác và tổ nhóm nghề nghiệp còn rất hạn chế.
Trong số 160 người được hỏi chỉ có 18 hộ có liên kết trong làm ăn.
3.3.3. Nguồn lực tự nhiên
Các xã vùng đệm vườn Quốc gia Cát Bà có nguồn lực về tự nhiên tương đối phong
phú. Với vị trí là vùng đệm VQG Cát Bà, là một nơi có sự đa dạng sinh học lớn và phong phú
các hệ sinh thái tự nhiên như rừng tự nhiên trên cạn, rừng ngập mặn, hệ sinh thái san hô và cỏ
biển.
Nhìn chung, diện tích đất nông nghiệp đặc biệt là diện tích lúa có phần hạn chế, đa số
đất trồng lúa và trồng màu nằm trong vùng thấp và dễ bị tác động của ngập lụt và hạn hán. Về
nuôi trồng thủy sản, diện tích nuôi trồng tập trung nhiều nhất ở xã Phù Long với hơn 1.400
ha. Đa số người dân ở đây nuôi tôm trong đầm với hơn 1.000 ha và một số ít nuôi các loài
nhuyễn thể.
Với diện tích hơn 700 ha rừng ngập mặn và hệ sinh thái san hô còn giữ được sức khỏe
nhằm tự thích ứng trước biến đổi bất lợi của thời tiết
3.3.7. Phân tích các chính sách thích ứng
a. Các chính sách từ trung ƣơng
- Quyết định số 1589/2008/QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính
phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011 – 2015 của Bộ
TNMT (Quyết định số 2418/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ TNMT).
- Xây dựng và công bố Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
(tháng 6.2009) và công bố kết quả cập nhật kịch bản (2011)
- Chiến lược quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến 2020, Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn xây dựng, được phê duyệt theo quyết định số 172/2007/QĐ-
TTg ngày 16/11/2007 của Thủ tướng chính phủ.
- Khung Chương trình hành động thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành Nông
nghiệp và PTNT giai đoạn 2008-2020.
b. Từ thành phố Hải Phòng và huyện Cát Hải
- Chính sách/dự án hướng tới phát huy lợi thế của huyện Cát Hải phát triển du lịch và
phát triển tiềm năng nuôi trồng thủy sản. Điều đó được thấy rõ qua Quy hoạch chi tiết
phát triển nuôi trồng hải sản trên vùng biển Hải Phòng năm 2015, định hướng đến năm
2020 (Sở Nông nghiệp và PTNT, 2010).
- Chính sách/dự án hướng tới phát triển bền vững nâng cao khả năng thích ứng với biến
đổi khí hậu cho người dân. Điều này được thấy rõ trong Đề án xây dựng chương trình
phát triển bền vững khu dự trử sinh quyển quần đảo Cát Bà [1].
- Thành phố triển khai “Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển
dâng thành phố Hải Phòng đến năm 2025”.
18
3.4. Đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu đối với sinh kế ngƣời dân và
các giải pháp giảm thiểu
3.4.1. Tình trạng dễ bị tổn thƣơng của sinh kế do biến đổi khí hậu
Theo khung đánh giá tính dễ bị tổn thương (Alisson, 2009), tính dễ bị tổn thương được
19
cho thấy, Cát Bà có đa dạng sinh học thuộc vào loại cao nhất ở miền bắc Việt Nam, đồng thời
với các giá trị tài nguyên đa dạng như các hệ sinh thái ven biển, thảm phủ thực vật đây chính
là các giá trị cần được bảo vệ và giữ gìn nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững và thích ứng
với biến đổi khí hậu. Thêm vào đó, với hệ thống các văn bản chính về biến đổi khí hậu và
nâng cao năng lực của sinh kế từ cấp trung ương đến địa phương sẽ là yếu tố thúc đẩy khả
năng thích ứng của cộng đồng và sinh kế tại các xã ven biển VQG Cát Bà trong trong bối
cảnh biến đổi khí hậu.
Tính dễ bị tổn thương: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, phụ nữ và người nghèo là đối
tượng dễ bị tổn thương hơn. Phụ nữ dễ bị tổn thuơng hơn nam giới vì khả năng và mức độ
tiếp cận nguồn lực sinh kế thấp hơn, đặc biệt là hoạt động khai thác thủy sản bằng thuyền (gần
như 100% nam giới mới có sức khỏe để tham gia hoạt động này). Hơn nữa, thông thường khi
bão lụt và thiên tai xảy ra, phụ nữ sẽ ít có khả năng phản ứng nhanh vì phần đông không biết
bơi và hơn nữa, do phân công lao động trong gia đình, nên khả năng di chuyển của phụ nữ sẽ
khó khăn hơn.
Đối với các sinh kế, trồng trọt và nuôi trồng thủy sản là các sinh kế dễ bị tổn thương
hơn do biến đổi khí hậu. Các ngành này có sự phụ thuộc cao vào các yếu tố thời tiết và khí
hậu. Bão, hạn hán và ngập lụt ảnh hưởng lớn nhất đến trồng trọt do hệ thống thủy lợi hạn chế,
kỹ thuật và nhận thức người dân còn thấp. Trong khi đó, bão và mưa lớn kéo dài, xâm nhập
mặn ảnh hưởng nhiều hơn đến nuôi trồng thủy sản dẫn đến vỡ bờ đầm, thiệt hại lớn đến thu
nhập của người dân.
3.4.2. Các giải pháp giảm thiểu tính dễ bị tổn thƣơng
Để giảm thiểu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với người dân các xã vùng
đệm vườn Quốc gia Cát Bà, ngoài các giải pháp tạm thời cần hướng đến các giải pháp nhằm
nâng cao tính thích ứng trong thời gian dài hạn.
Về ngắn hạn, người dân đang nuôi trồng thủy sản trong đầm tại xã Phù Long cần thực
hiện gia cố bờ đầm, tăng cường trồng rừng ngập mặn nhằm bảo vệ bờ đầm. Đối với người dân
trồng lúa và hoa màu tại các xã Hiền Hào, Xuân Đám, Gia Luận, và Việt Hải cần tăng cường
cải tạo hệ thống tiêu thoát nước nhằm giảm ngập lụt, hạn hán và xâm nhập mặn.
KẾT LUẬN
1. Biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu đối với môi trường, hệ sinh thái và sinh kế
người dân tại vùng đệm vườn Quốc gia Cát Bà đã bước đầu được nghiên cứu. Biểu hiện
chính của biến đổi khí hậu tại đây là sự gia tăng nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biên dâng
và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Biến đổi khí hậu dẫn đến hạn hán, mưa lớn kéo dài,
xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp và sản lượng đánh bắt, nuôi trồng
thủy hải sản tại các xã vùng đệm vườn Quốc gia Cát Bà.
2. Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy năng lực thích ứng của các sinh kế và người dân
vẫn đang cần phải được phải nâng cao hơn nữa. Đối với nguồn lực thích ứng về con
người, xã hội, cơ sở vật chất đang còn ở mức thấp cần tiếp tục được đầu tư, phát triển.
Đồng thời cần phát huy thế mạnh về nguồn lực tự nhiên.
21
3. Sinh kế của người dân vùng đệm vườn Quốc gia Cát Bà đang ở trong tình trạng dễ bị tổn
thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Trong đó, sinh kế nông nghiệp và thủy sản là dễ
bị tổn thương hơn. Các sinh kế này có tính phụ thuộc cao vào các điều kiện thời tiết do đó
chịu ảnh hưởng lớn từ các tác động biến đổi khí hậu. Vì vậy, cần tiếp tục nâng cao về khả
năng thích ứng của các sinh kế này. Bên cạnh đó, nhóm phụ nữ và người nghèo là dễ bị
tổn thương hơn cả. Họ là đối tượng chịu tác động và có khả năng tiếp cận thấp đến các
nguồn lực sinh kế.
4. Bước đầu đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường năng lực thích ứng và giảm thiểu
tính dễ bị tổn thương của các sinh kế do biến đổi khí hậu. Các giải pháp bao gồm nâng cao
nhận thức về biến đổi khí hậu, kỹ thuật sản xuất; nâng cấp một số hạ tầng; tiếp tục đa dang
hóa sinh kế, các loài nuôi và tăng cường hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Các giải pháp cần ưu tiên trong thời gian tới là nâng cấp cơ sở hạ tầng nhằm ứng phó với
các mối thách thức hiện thời. Bên cạnh đó, cần tăng cường thực hiện các giải pháp dài hạn
như tăng cường nhận thức, xây dựng chiến lược sinh kế thích ứng và duy trì bảo vệ các
nguồn lợi, hệ sinh thái tự nhiên.