ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN VĂN CÔNG
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI SINH KẾ NGƯỜI DÂN CÁC XÃ VÙNG ĐỆM
VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌ
C
PGS.TS. TRẦN VĂN THỤY Hà Nội – 2012
LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ Khoa học môi
trường của tôi được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và tích
luỹ kiến thức tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội,
cùng với sự hướng dẫn, dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo khoa Môi trường và
sự tham khảo ý ki
ến của các bạn đồng học.
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Trần Văn
Thụy, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn khoa học để tôi có thể hoàn thành
luận văn này.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo thuộc Khoa Môi
trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, những người đã cung cấp nhưng kiến
th
ức bổ ích trong suốt quá trình đào tạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
1.2.1. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam 8
1.2.2. Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới và Việt Nam 15
CHƯƠNG 2. PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Phạm vi nghiên cứu 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1. Phương pháp hồi cứu, tổng hợp tài liệu 23
2.2.2. Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương biến đổi khí hậu 23
2.2.3. Khung sinh kế bền vững 25
2.2.4. Phương pháp khảo sát và điều tra thực địa 27
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Khái quát đánh giá các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 37
3.1.3. Các sinh kế chính người dân khu vực vùng đệm vườn Quốc gia Cát Bà 39
3.2. Tác động biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu 44
3.3. Năng lực thích ứng của cộng đồng ven biển khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia
Cát Bà 62
3.3.1. Nguồn lực con người 63
3.3.2. Nguồn lực xã hội 65
3.3.3. Nguồn lực tự nhiên 66
3.3.4. Nguồn lực tài chính 68
3.3.5. Nguồn lực về vật chất – hạ tầng 70
3.3.6. Các hoạt động tự thích ứng 71
3.3.7. Phân tích các chính sách thích ứng 72
3.4. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với sinh kế người dân và
các giải pháp giảm thiểu 74
3.4.1. Tình trạng dễ bị tổn thương của sinh kế do biến đổi khí hậu 75
3.4.2. Các giải pháp giảm thiểu tính dễ bị tổn thương 77
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 iii
Danh mục hình
Hình 1.1. Sự gia tăng phát thải khí nhà kính trong thời gian gần đây 4
Hình 1.2. Diễn biến nhiệt độ ở quy mô toàn cầu và khu vực 5
Hình 1.3. Xu thế biến động mực nước biển trung bình toàn cầu từ số liệu vệ tinh 6
Hình 1.4. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (
o
C) trong 50 năm qua 11
Hình 1.5. Diễn biến của số cơn XTNĐ hoạt động ở Biển Đông, ảnh hưởng và đổ bộ
vào đất liền Việt Nam trong 50 năm qua 12
Hình 1.6. Diễn biến mực nước biển theo số liệu các trạm thực đo 133
Hình 1.7. Khung Sinh kế bền vững của DFID (2001) 17
Hình 2.1. Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương do 24
AUSAID :
Cơ quan hỗ trợ phát triển Úc
BĐKH :
Biến đổi khí hậu
DANIDA :
Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Đan Mạch
DFID :
Cơ quan phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh
DTSQ : Dữ trữ sinh quyển
HST :
Hệ sinh thái
IPCC : Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
KDTSQ : Khu dự trữ sinh quyển
KTTS : Khai thác thủy sản
KT-XH :
Kinh tế và xã h
ội
MONRE :
Bộ Tài nguyên và Môi trường
NOAA : Cơ quan Đại dương và Khí quyển Quốc gia, Hoa Kỳ
NTTS :
Nuôi trồng thủy sản
UBND :
Uỷ ban nhân dân
UN :
Liên hợp quốc
UNDP :
Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc
UNEP
t định số 79/CT của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký ngày 31/3/1986 với diện tích là
15.200 ha (đất núi 9.800 ha và đất mặt nước là 5.400 ha) và vùng đệm có diện tích
là 14.831 ha. Vườn có hệ sinh thái đa dạng với thảm thực vật và rừng, núi đá vôi và
hang động các hệ sinh thái ven biển như rừng ngập mặn (25 loài), san hô (193 loài)
và cỏ biển [2]. Vùng đệm VQG Cát Bà gồm 06 xã và 01 thị trấn với tổng dân số
16.340 người, trong đó khoảng 66% dân số
tập trung ở khu vực thị trấn Cát Bà.
Sinh kế chủ yếu của người dân là nông-lâm nghiệp, thủy sản và dịch vụ du lịch
[25].
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn đối với toàn cầu
và Việt Nam đặc biệt với các vùng ven biển. Theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới
năm 2007, Việt Nam là một trong 05 quốc gia chịu tác động lớn nhất do biến đổi
khí hậu và nước bi
ển dâng. Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm
2011 do bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, trong khoảng 50 năm qua nhiệt độ
năm trung bình cả nước tăng 0,5
o
C và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía bắc và
tăng ở phía nam. Từ năm 1993 đến 2010 xu hướng mực nước biển tăng trên toàn
dải ven biển Việt Nam trung bình 2,9mm/năm [6].
Ảnh hưởng của nước biển dâng đã làm gia tăng xói lở đường bờ biển, bão
lụt, nhiễm mặn gây ra thiệt hại và rủi ro đến đời sống kinh tế xã hội và nguồn lợi
vùng ven biển. Xói lở đã làm ảnh h
ưởng 16,1 km trên tổng số 125 km bờ biển tại
Hải phòng, và xói sạt diễn biến phức tạp tại khu vực đảo Cát Bà (xã Phù long) và
Cát Hải. Các hiện tượng thời tiết cực đoan (mưa lớn kéo dài, bão, v.v.) và tai biến
thiên nhiên xảy ra phức tạp đã ảnh hưởng tiêu cực tới các hoạt động sản xuất và
sinh kế của cộng đồng địa phương và nguồn lợi ven biển.
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHÊN CỨU
1.1. Biến đổi khí hậu và các tác động của biến đổi khí hậu
1.1.1. Biến đổi khí hậu
Trong lịch sử phát triển của Trái đất, khí hậu đã có nhiều lần thay đổi do tự
nhiên. Những thời kỳ băng hà xen lẫn các thời kỳ ấm lên của Trái đất đã xảy ra từ
cách đây rất lâu (hàng vài triệu năm) cho tới khoả
ng 18.000 năm trước Công
nguyên. Thời kỳ tiểu băng hà gần nhất xảy ra ở châu Âu trong giai đoạn giữa hai thế
kỷ XVI-XIX. Biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay bắt đầu xảy ra từ giữa thế kỷ XIX.
Nhiệt độ trung bình của Trái đất hiện nay đã tăng 0,74
o
C so với năm 1850. Thập kỷ
1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua. Do nóng lên, băng tuyết ở
các Cực của Trái đất, các đỉnh núi cao tan ra cùng với nước trong các đại dương nở
ra, làm mực cho nước biển toàn cầu dâng lên trung bình 0,17 m trong thế kỷ XX.
Theo đó, thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, lũ lụt, hạn hán, lũ quét,
lốc, nắng nóng, rét hại…) xảy ra nhiều hơn, dị thường hơn và ác liệ
t hơn. Hiện
tượng El Nino xảy ra thường xuyên hơn, kéo dài hơn và mạnh hơn… [11]
trong khí quyển sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân của vấn đề biến
đổi khí hậu là do trái đất không thể hấp thụ được hết lượng khí CO2 và các khí gây
hiệu ứng nhà kính khác đang dư thừa trong bầu khí quyển (UNDP, 2008).
Biến đổi khí hậu đến nay là vấn
đề toàn cầu, nó tác động đến mọi mặt đời
sống, kinh tế, xã hội và môi trường. Sự gia tăng khí nhà kính trong những năm gần
đây không chỉ là sự gia tăng hiện tại mà là tổng hòa sự đóng góp phát thải khí nhà
kính của hiện nay và cả thời kỳ bắt đầu từ cách mạng công nghiệp. Không riêng
quốc gia nào mà là sự đóng góp khí thải toàn cầu vào bầu không khí đã gây nên hậu
quả là khí hậu trái đất đang biế
n đổi.
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 5
1.1.2. Biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu
Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của sự tăng nhiệt độ
không khí và đại dương, sự tan băng diện rộng và qua đó là mức tăng mực nước
biển trung bình toàn cầu.
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở
các vĩ độ cực B
ắc. Trong 100 năm qua (1906 – 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu
đã tăng khoảng 0,74
O
C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi
so với 50 năm trước đó (Hình 1.2).
Theo báo cáo gần đây của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), 2010 là năm
nóng nhất trong lịch sử, với mức độ tương tự như các năm 1998 và 2005. Ngoài ra,
Dị thường nhiệt độ (
o
C)
Hình 1.2. Diễn biến nhiệt độ ở quy mô toàn cầu và khu vực
(
N
g
uồn: IPCC AR4 WG-I Re
p
ort
,
2007
)
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 6
Hình 1.3. Xu thế biến động mực
nước biển trung bình toàn cầu từ số
li
ệ
u v
ệ
tinh
(
N
g
uồn: AVISO
Biến đổi khí hậu tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm cả
các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khoẻ con người trên
phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ tác động của biến đổi khí hậu có khác nhau:
nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các
nước nhiệt đới, nhất là các nước đang phát triển công nghiệ
p nhanh ở Châu Á.
Trong đó, những người nghèo, những người ít góp phần gây ra biến đổi khí hậu
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 7
nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển
con người do biến đổi khí hậu gây ra (Hardy, 2003; Crutzen, 2005; Nguyễn Đức
Ngữ, 2008). Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng
trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp
của sự tan băng ở Bắc và Nam Cực. Trong s
ố 33 thành phố có quy mô dân số 8
triệu người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn
chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất
trũng sẽ bị mất nhà cửa và ngập lụt [11].
Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng theo thứ tự là
Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Inđônêsia, Nhật B
ản, Ai Cập, Hoa Kỳ,
Thái Lan và Philippin. Nước biển dâng lên còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn
vào sâu hơn trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản
xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt. Tài nguyên nước và sản xuất nông
nghiệp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm
khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hi
ếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ
Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã bắt đầu nhận thấy mầm mống của
biến đổi khí hậu, tuy nhiên tại thời điểm đó người ta chưa nhận thức được hậu quả
của nó ngày nay. Năm 1896, nhà hóa học người Thụy Điển, Svante Arrherius đưa ra
kết luận rằng việc đốt than trong công nghiệp sẽ đẩy mạ
nh hiệu ứng nhà kính. Kết
luận của ông về mức độ ảnh hưởng của khí nhà kính nhân tạo gần như trùng khớp
với mô hình khí hậu ngày nay, nghĩa là nếu lượng khí nhà kính tăng gấp đôi thì
nhiệt độ trung bình của toàn cầu sẽ tăng vài độ C. Năm 1938, sử dụng số liệu của
147 trạm khí tượng trên thế giới, kỹ sư người Anh, Guy Callendar chỉ ra nhiệt độ đã
tă
ng lên trong suốt thế kỷ qua. Ông cũng chỉ ra rằng nồng độ CO
2
cũng tăng lên
trong khoảng thời gian đó và đây có thể chính là nguyên nhân của sự ấm lên. Nhưng
“hiệu ứng Callendar” đã bị đông đảo các nhà khí tượng học thời đó không công
nhận. Từ năm 1955 đến trước 1975, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu tỉ mỉ hơn
về C02, mức độ tập trung C02 và các bằng chứng về mức độ hấp thụ tia hồng ngoại
của C02 và mộ
t số khí nhà kính khác.
Đến năm 1975, khái niệm “nóng lên toàn cầu” lần đầu tiên được công chúng
biết tới khi nhà khoa học Mỹ, Wallace Broecker sử dụng thuật ngữ này làm tiêu đề
cho một bài báo khoa học của mình. Năm 1987, Nghị định thư Montreal được thỏa
thuận, quy định giới hạn của các hóa chất gây hại đến tầng ozone. Mặc dù không đề
cập tới vấn đề biến đổi khí hậu, song nghị định thư Montreal vẫn có t
ầm ảnh hưởng
lớn hơn nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí nhà kính [34].
Đại hội đồng Liên hợp Quốc lần đầu tiên đặt sự quan tâm vào vấn đề biến
đổi khí hậu do con người gây ra vào năm 1988 khi có các bằng chứng khoa học về
một mùa hè nóng bất thường ở Hoa Kỳ cũng như nhận thấy sự gia tăng nhận thức
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012
thể thấy rõ các tác động không nhỏ của loài người đến hệ thống khí hậu. Đây được
xem là lời khẳng định đầu tiên về
trách nhiệm của con người đối với sự biến đổi khí
hậu. Cùng với đó, năm 1997 nghị định thư Kyoto được thông qua, (sau đó đến năm
2005 nghị định này có hiệu lực) và các nước phát triển cam kết giảm 5% lượng phát
thải trong khoảng thời gian từ 2008 – 2012. Năm 2001, IPCC công bố báo cáo lần
thứ ba cho thấy các bằng chứng mới và mạnh mẽ hơn về cấc khí nhà kính do con
người thải ra là nguyên nhân chính dẫ
n đến hiện tượng nóng lên diễn ra trong suốt
nửa sau của thế kỷ 20.
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 10
Đến nay, IPCC đã xuât bản báo cáo lần thứ 4 vào năm 2007 đây là một trong
các tài liệu quan trọng nhất về biến đổi khí hậu. Theo IPCC (2007), sự ấm lên của
khí hậu là điều chắc chắn. Hàm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọng nhất
trong bầu khí quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000
năm qua, nhưng đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150 năm qua, chủ yếu là
do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nh
ỏ hơn là từ hoạt động sản xuất
nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng đất.
Trong khuôn khổ các nghiên cứu của IPCC (2007) các kịch bản về biến đổi
khí hậu được xây dựng dựa trên các dự báo về sự phát thải khí nhà kính từ thấp đến
cao và dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế-xã hội toàn cầu. IPCC đã đưa ra một
nhóm 6 kịch bản (dựa trên 4 kịch bản gốc A1, A2, B1, B2, v
ới các ký hiệu A: chú
trọng phát triển kinh tế; B: chú trọng bảo vệ môi trường; 1: chú trọng tính toàn cầu,
và 2: chú trọng tính khu vực) xác định những lộ trình phát thải có thể xảy ra cho thế
C trên phạm vi cả nước và lượng
mưa có xu hướng giảm ở nửa phần
phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ.
Nhiệt độ trung bình năm tăng
0,5 – 0,6
o
C/50 năm ở Tây Bắc, Đông
Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc
Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
còn mức tăng nhiệt độ trung bình
năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ
vào khoảng 0,3
o
C/50 năm (Hình 1.4).
Lượng mưa mùa khô (tháng
XI-IV) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và
tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua. Lượng mưa mùa
mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và
tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua. Xu thế
diễn biến của lượng mưa năm hoàn toàn tương tự như lượng mưa mùa m
ưa, tăng ở
các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam
Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so
với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua.
Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong
những năm gần đây. Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứ
ng, nhiều
biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung. Tồn tại mối tương quan khá rõ giữa
sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông xích đạo Thái Bình
dương với xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía Nam.
μ
o
Q
§
.
T
r
−
ên
gS
a
-2°C
-1°C
-0.5°C
0°C
0.5°C
Nam Trung Bộ
0,6 0,5 0,3 20 20 20
Tây Nguyên
0,9 0,4 0,6 19 9 11
Nam Bộ
0,8 0,4 0,6 27 6 9
Về xoáy thuận nhiệt đới, trung bình hàng năm có khoảng 12 cơn bão và áp
thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông, trong đó khoảng 45% số cơn nảy sinh
ngay trên Biển Đông và 55% số cơn từ Thái Bình Dương di chuyển vào. Số lượng
xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên khu vực Biển Đông có xu hướng tăng nhẹ,
trong khi đó số cơn ảnh hưởng hoặc đổ bộ vào đấ
t liền Việt Nam không có xu
hướng biến đổi rõ ràng (Hình 1.5).
Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhưng với mức
độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí hậu. Hiện
tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả nước, đặc biệt là
ở Trung Bộ và Nam Bộ.
Hình 1.5. Diễn biến của số cơn XTNĐ hoạt động ở Bi
ển Đông, ảnh
hưởng và đổ bộ vào đất liền Việt Nam trong 50 năm qua
(
N
g
uồn: IMHEN/2010
)
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 13
Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình
tăng 2 - 3
o
C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực Đông Bắc, Bắc Trung
Bộ và Tây Nguyên có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác.
Xu thế mực nước biển trung bình năm trạm Bãi Cháy
-20.0
-15.0
-10.0
-5.0
0.0
5.0
10.0
1962 1966 1970 1974 1978 1982 1986 1990 1994 1998 2002 2006
Năm
Mực nước (cm)
Xu thế mực nước biển trung bình năm trạm Hòn Dáu
-10
-5
0
5
10
15
20
19661970197419781982198619901994199820022006
Năm
Mực nước (cm)
Xu thế mực nước biển trung bình năm trạm Cồn Cỏ
-10
-8
-10
-5
0
5
10
1978 1982 1986 1990 1994 1998 2002 2006
Năm
Mực nước (cm)
Xu thế mực nước b iển trung bình năm trạm Quy Nhơn
-20
-15
-10
-5
0
5
10
15
20
1993 1996 1999 2002 2005 2008
Năm
Mực nướ c (cm)
Xu thế mực nước biển trung bình năm trạm Phú QUýháy
-20
-15
-10
-5
0
5
10
15
Xu thế mực nước biển trung bình năm trạm Vũng Tàu
-20
-15
-10
-5
0
5
10
15
20
1978 1982 1986 1990 1994 1998 2002 2006
Năm
Mực nước (cm)
Hình 1.6. Diễn biến mực nước
biển theo số liệu các trạm thực đo
(
N
g
uồn: IMHEN/2010
)
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 14
Nhiệt độ cao nhất tăng nhanh hơn so với nhiệt độ thấp nhất ở Tây Bắc Bộ, Đông
Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, các khu vực khác
có xu thế ngược lại. Nhiệt độ cao nhất có thể cao hơn so với kỷ lục hiện nay từ 4 -
5
o
động tương ứng khoảng 30% và hơn 10% so với toàn bộ hệ thống giao thông ven
biển [4].
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 15
1.2.2. Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới và Việt Nam
1.2.2.1. Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới
Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi các cách tiếp cận đối với
phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi
của con người và tính bền vững hơn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Được khởi
nguồn từ tư tưởng phát triể
n bền vững trong Báo cáo Bruntland (1987) và Báo cáo
Phát triển Con người (1990), khái niệm sinh kế bền vững sau đó đã được các nhà
nghiên cứu và các tổ chức phi chính phủ quốc tế phát triển và áp dụng vào các dự
án phát triển quốc tế về xóa đói giảm nghèo. Cách tiếp cận này cũng ngày càng
nhận được sự đồng thuận của các nhà hoạch định chính sách bởi cách tiếp cận
hướng vào con người với mong muốn tạo ra một kỷ nguyên mớ
i của các hoạt động
phát triển (Solesbury, 2003).
Sinh kế bền vững về cơ bản được dựa trên nền tảng của khái niệm phát triển
bền vững. Sinh kế theo cách hiểu đơn giản nhất, là phương tiện để kiếm sống. Một
định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là: “sinh kế bao gồm
khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm ph
ương tiện sống của con
người”. Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng
phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và
nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi
ích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cấ
tính bền vững của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống
nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi
trường và thể chế.
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như
nhau và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện. Cùng trên quan
điể
m đó, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước
những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên
ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác.
Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra
khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) để xác định và thiết
kế các hoạt động hỗ trợ của mình. Theo khung này, các hộ gia đình đều có phương
thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại
nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương.
Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và
các tác động mang tính thời v
ụ. Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia
đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các
nhóm yếu tố này.
Luận văn thạc sĩ Khoa Môi trường – năm 2012Nguyễn Văn Công – K18 17
Trên cơ sở khung sinh kế bền vững nêu trên, năm 2004, IMM đã sửa đổi lại
để áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung sinh kế bền vững vùng
ven biển” (MARD, 2008). Trong khung phân tích này, sinh kế của các hộ gia đình
ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố. Các yếu tố thuộc nhóm thứ nhất bao gồm
đầu cho việc hỗ trợ sinh kế. Trên thế giới, từ đầu những năm 1990, các tổ chức tài
trợ quốc tế như CARE International, DANIDA, Oxfam, DFID, UNDP…. đã áp
dụng khung sinh kế bề
n vững để thiết kế các dự án và chương trình xóa đói giảm
nghèo và quản lý tài nguyên ở vùng nông thôn và ven biển ở châu Á và châu Phi
theo cách tiếp cận hướng vào người nghèo và có sự tham gia. Cũng có một số
nghiên cứu áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững để phân tích các cơ hội và
thách thức về sinh kế của người dân ở khu vực nông thôn và ven biển, từ đó đề xuất
những hình thức hỗ trợ sinh kế phù hợp nhằ
m đạt được mục tiêu phát triển bền
vững.
Theo Chambers và Conway (1992), các sinh kế bền vững là các sinh kế có
thể đối phó và phục hồi từ các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản
trong khi không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khi xem xét các
tác động hiện tại và tương lai của biến đổi khí hậu, có thể nhận thấy rằng, biến đổi
khí hậu là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng b
ị tổn thương của sinh kế.
Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (ví dụ như mực nước biển dâng và các điều
kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn lực tự nhiên (như đất, nước, thủy sản) và
các nguồn lực vật chất (như đường sá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng
kể. Trong bố
i cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và
tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền
vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còn dựa vào
việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ biến đổi khí hậu hoặc thích ứng với biến đổi
khí hậu hay không [5]. Chính vì vậy, gắn kết khung sinh kế bền vững vớ
i yếu tố
biến đổi khí hậu sẽ giúp xây dựng các sinh kế bền vững và thích ứng trong bối cảnh
biến đổi khí hậu. Đây là một nhu cầu cấp bách hiện nay trong bối cảnh khí hậu ngày