LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chƣơng 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN , KINH TẾ XÃ HỘI LƢU VỰC
SÔNG BẾN HẢI – THẠCH HÃN 3
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 3
1.2. ĐỊA HÌNH ĐỊA MẠO 4
1.3. ĐỊA CHẤT THỔ NHƢỠNG 5
1.4. THẢM PHỦ THỰC VẬT 6
1.5. KHÍ HẬU 6
1.5.1. Mƣa 6
1.5.2. Nhiệt độ không khí 7
1.5.3. Độ ẩm tƣơng đối 7
1.5.4. Bốc hơi 7
1.5.5. Số giờ nắng 7
1.5.6. Gió và bão 7
1.6. THỦY VĂN 8
1.7. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI 10
1.7.1. Dân số 10
1.7.2. Cơ cấu kinh tế của tỉnh 11
1.7.3. Cơ sở hạ tầng
11
1.8. LŨ LỤT VÀ NHỮNG TỔN THƢƠNG TRÊN LƢU VỰC SÔNG BẾN HẢI
- THẠCH HÃN 12
Chƣơng 2. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƢƠNG DO
LŨ 15
2.1. TỔNG QUAN 15
2.1.1. Khái niệm chung về tính dễ tổn thƣơng 15
2.1.2. Tổn thƣơng do lũ lụt 17
2.1.3. Sự cần thiết để đánh gía tính tổn thƣơng lũ 17
2.1.4. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 19
Hình 3.4 Bản đồ nguy cơ lũ với tần suất 1% 30
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiên nhóm đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng 31
Hình 3.6 Biểu đồ biểu diến phần trăm số hộ dân cƣ có nguy cơ lũ 32
Hình 3.7 Biểu đồ gia tăng thiệt hại của các yếu tố vật lý 32
Hình 3.8 Biểu đồ phần trăm yếu tố gây ra thiệt hại 33
Hình 3.9 Biểu đồ nhận thức của ngƣời dân về phòng lũ 33
Hình 3.10 Bản đồ thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng 36
Hình 3.11 Bản đồ sự phơi nhiễm của các đối tƣợng trƣớc nguy cơ lũ 40
Hình 3.12 Bản đồ tổn thƣơng do lũ lƣu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn 42
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mƣa bình quân nhiều năm (mm) 6
Bảng 1.2 Nhiệt độ bình quân tháng tại các trạm (
0
C) 7
Bảng 1.3 Các đặc trƣng hình thái các lƣu vực sông Quảng Trị 9
Bảng 1.4 Phân bố dân số vùng nông thôn theo huyện ở Quảng Trị 10
Bảng 3.1 Trọng số của các yếu tố tạo lên nguy cơ lũ 29
Bảng 3.2 Định lƣợng hóa các phƣơng án trả lời của phiếu điều tra 35
Bảng 3.3 Tính dễ tổn thƣơng của nhóm sử dụng đất 38
Bảng 3.4 Ma trận tính toán sự lộ diện các đối tƣợng trƣớc lũ 39
Bảng 3.5 Ma trận tính toán mức độ tổn thƣơng do lũ 41 United Nations Emducation, Scientific
and Cultural Organization (Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên
Hiệp Quốc) 1
MỞ ĐẦU
Lũ lụt là một trong những tai biến tự nhiên, thƣờng xuyên đe dọa cuộc sống
của ngƣời dân và sự phát triển kinh tế xã hội ở nƣớc ta. Nó đã để lại hậu quả hết sức
nặng nề cả về ngƣời và của. Hằng năm có hàng ngàn hộ dân bị ngập lụt, công trình
bị tàn phá, các hoạt động kinh tế - xã hội bị gián đoạn. Đặc biệt quá trình đô thị hoá
mạnh cùng với sự tác động của Biến đổi khí hậu và tình hình mƣa lớn gây ra ngập
úng với tần suất lớn dần.
cũng là lý do dẫn đến sự hình thành luận văn „„Đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do lũ
đến kinh tế xã hội lƣu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn trong bối cảnh biến đổi khí
hậu”. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà
hoạch định chính sách đƣa ra những quyết định, chiến lƣợc phát triển bền vững.
Bố cục luận văn bao
gồm:
Mở đầu 2
Chƣơng 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội lƣu vực sông Bến Hải –
Thạch Hãn
Chƣơng 2: Cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt
Chƣơng 3: Đánh giá tính dễ tổn thƣơng do lũ lƣu vực sông Bến Hải – Thạch
Hãn tỉnh Quảng Trị.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Luận văn đã đƣợc hoàn thành tại Khoa Khí tƣợng Thủy văn và Hải dƣơng
học Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội. Để hoàn thành
luận văn này tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa, gia
đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ trong suốt thời gian vừa qua. Đặc biệt, xin bày tỏ
sự cảm ơn chân thành nhất đến thầy PGS. TS. Nguyễn Thanh Sơn, ngƣời đã tận tình
chỉ bảo, đóng góp cho tác giả rất nhiều ý kiến để hoàn thành tốt luận văn này.
0
18 đến 17
0
11 vĩ độ Bắc, 106
0
32 đến 107
0
24 kinh độ Đông, phía Bắc giáp
tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp lƣu vực sông Ô Lâu và tỉnh Thừa Thiên - Huế,
phía Tây giáp lƣu vực sông Sê Păng Hiêng và Sê Pôn và lãnh thổ Lào, gồm 8
huyện, 1 thành phố và 1 thị xã [8].
Giới hạn vùng nghiên cứu:
Hình 1.1.Bản đồ khu vực nghiên cứu 4
1.2. ĐỊA HÌNH ĐỊA MẠO
Vùng nghiên cứu có thế dốc chung từ dãy Trƣờng Sơn đổ ra biển. Do sự
phát triển của các bình nguyên đồi thấp nên địa hình ở vùng này rất phức tạp.
Theo chiều Bắc Nam, phần đồng bằng địa hình có dạng đèo thấp, thung lũng sông
- đèo thấp. Theo chiều Tây - đông, địa hình ở đây có dạng núi cao, đồi thấp,
nhiều nơi theo dạng bình nguyên - đồi, đồng bằng, đồi thấp ven biển. Có thể
phân chia địa hình ở đây theo các dạng đặc trƣng sau [3]:
Vùng cát ven biển: dải cát này chạy dọc từ cửa Tùng đến bãi biển Mỹ
Thuỷ theo dạng cồn cát. Chiều rộng cồn cát nơi rộng nhất tới 3km -4 km, dài đến
35 km. Dốc về 2 phía: đồng bằng và biển, cao độ bình quân của các cồn cát từ
4m, dải đồng bằng này hẹp chạy theo
hƣớng Tây - Đông, kẹp 2 bên là các dãy
đồi thấp.
Địa hình đồng bằng phù sa phân bố ven sông nằm kẹp giữa vùng gò đồi
phía Tây và vùng cát ven biển, các cánh đồng nhỏ hẹp, có độ cao không đều là
thành tạo của các quá trình bồi đắp phù sa của các hệ thống sông và các dải đất
dốc tụ đƣợc khai phá từ lâu phân bố dọc theo quốc lộ 1A.
Một dạng địa hình nữa trong vùng nghiên cứu là các thung lũng hẹp độc
lập diện tích khoảng 5 - 50 ha cũng đã đƣợc khai thác để trồng lúa nƣớc.
Vùng núi thấp và đồi: địa hình vùng đồi ở đây có dạng đồi bát úp liên
tục, có
những khu nhỏ dạng bình nguyên nhƣ khu đồi Hồ Xá (Vĩnh Linh) và
khu Cùa (Cam Lộ).
Độ dốc vùng núi bình quân từ 15
-
18
0
. Địa hình này rất
thuận lợi cho việc phát triển cây
trồng cạn, cây công nghiệp và cây ăn quả; cao
độ của dạng địa hình này là 200 – 1000 m, có nhiều thung lũng lớn.
Vùng núi cao: Do chiều ngang tỉnh Quảng Trị hẹp, từ dải Trƣờng Sơn ra
đến biển khoảng 100km, núi cao nên địa hình này dốc, hiểm trở; các triền núi cao
đủ sắc thái khí hậu các tỉnh miền Trung Việt Nam. Trong năm có hai mùa rõ rệt,
mùa khô và mùa mƣa. Mùa khô từ tháng XII tới tháng VIII năm sau, mùa mƣa từ
tháng IX tới tháng XI. Từ tháng III đến tháng VIII chịu ảnh hƣởng của gió Tây
Nam khô và nóng. Từ tháng IX đến tháng II năm sau chịu ảnh hƣởng của gió
Đông Bắc đi liền với mƣa phùn và rét đậm [7].
1.5.1. Mƣa
Bảng 1.1 Mƣa bình quân nhiều năm (mm)
Trạm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
2614.1
Gia Vòng
60.1
47.9
35.4
64.1
143.6
101.4
78.7
155.0
509.7
695.9
456.4
188.0
2536.3
84.3
60.7
48.9
63.0
135.0
105.7
82.9
135.3
476.4
710.6
438.6
240.7
2627.3
Cửa Việt
57.6
47.8
97.8
191.5
171.7
148.9
219.1
585.8
778.0
227.7
95.7
2779.9
Khe Sanh
16.7
19.2
29.7
156.6
156.8
74.2
173.1
473.4
762.0
411.8
227.8
2794.3
Mƣa trong vùng phụ thuộc vào yếu tố địa hình trên từng lƣu vực. Lƣợng mƣa
hàng năm nằm trong khoảng 2.000 - 2.700 mm, cao hơn mức trung bình của cả
nƣớc. Lƣợng mƣa 3 tháng mùa mƣa chiếm tới 68 - 70% lƣợng mƣa năm. Tổng 7
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Đông Hà
19.2
19.3
22.5
25.6
28.2
29.3
27.1
25.1
23.2
20.8
Khe Sanh
17.6
18.4
21.8
24.4
25.6
25.6
25.3
24.6
24.0
22.8
trong tỉnh Quảng Trị. Bão và xoáy thuận nhiệt đới là những biến động thời tiết
trong mùa hạ, hoạt động rất mạnh mẽ và thất thƣờng. Bão theo hƣớng chính Tây
chiếm khoảng 30%. Bình quân mỗi năm có 2
-
3 cơn bão đổ bộ vào Quảng Trị.
Vùng ven biển Quảng Trị bão và áp thấp nhiệt đới thƣờng gặp nhau tới 78%,
do vậy khi có bão thƣờng gặp mƣa lớn sinh lũ trên các triền sông. Trong thời
gian có bão thƣờng đi kèm mƣa lớn và có thể gây ra hiện tƣợng lũ quét gây thiệt
hại lớn về ngƣời và tài sản đây cũng là một trong các yếu tố tự nhiên cản trở tới
tiến trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Trị [3].
1.6. THỦY VĂN
Hình 1.2 Sơ đồ mạng lƣới sông ngòi khu vực nghiên cứu 9
Tỉnh Quảng Trị có ba hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn
và sông Ô Lâu. Đặc điểm chung của các hệ thống sông là ngắn, hƣớng
chảy chính
là Tây - Đông, độ dốc trung bình khoảng 13 – 25 m/km. Ở phần thƣợng
nguồn các
sông phân nhánh thành các chi lƣu, lòng sông thu hẹp, nhiều
ghềnh thác [1].
Hệ thống sông Thạch Hãn có 37 con sông gồm 17 sông nhánh cấp I với
(km
2
)
Đặc trƣng trung bình
lƣu vực
Hệ
số
uốn
khúc
Độ
cao
(m)
Độ
dốc
(%)
Độ
rộng
(km)
Mật độ
lƣới sông
(km/km
2
)
1
Bến Hải
500
64,5
51,5
809
115
45
32
293
85
9,4
9,2
1,37
1,60
5
Cam Lộ (Hiếu)
1400
66
58
539
238
20,1
9,3
1,12
1,08
6
Thác Mã
900
40
30
230
345
27,6
7,7
0,58
1,43
Hiêng thuộc Tây Trƣờng Sơn và một số suối nhỏ vùng cồn cát đổ thẳng ra biển.
1.7. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
1.7.1. Dân số
Theo Niên giám thống kê năm 2012 của Cục thống kê Quảng Trị, dân số
trung bình của tỉnh là: 600462 ngƣời, số dân sống ở thành thị chiếm 28.4%
còn lại hầu hết dân số sống ở nông thôn (71.6%). Dân số phân bố không đều đặc
biệt có sự
khác biệt lớn giữa đồng bằng và miền núi.
Bảng 1.4 Phân bố dân số vùng nông thôn theo huyện ở Quảng Trị
Huyện
Dân số
Nữ
Nam
LĐ trong độ tuổi
Vĩnh Linh
64499
32349
32150
32679
Hƣớng Hoá
52666
26734
25932
26379
Gio Linh
41042
22087
ngƣời/km
2
trong đó thị xã Đông Hà 1140
ngƣời/km
2
, thị xã Quảng Trị 313
ngƣời/km
2
, huyện miền núi Đakrông 30
ngƣời/km
2
, Hƣớng Hoá có mật độ dân là 66
ngƣời/km
2
. Dân cƣ trong vùng chủ
yếu là ngƣời Kinh, sống tập trung ở dải đồng
bằng ven biển, các thị trấn vùng núi.
Tỷ lệ ngƣời Kinh chiếm 84%, ngƣời Vân Kiều,
Pacô chiếm 10% còn lại là các dân
tộc ít ngƣời khác. Cơ cấu dân số vùng nhƣ sau:
Nam: 296693 ngƣời
Nữ: 303769 ngƣời
Dân số vùng nông thôn trong độ tuổi lao động: 214492 ngƣời, xấp xỉ 50%.
Tốc độ tăng dân số trong vùng còn cao.
thành tuyến đƣờng Trƣờng Sơn công nghiệp. Đƣờng thuỷ có trục đƣờng theo
sông Bến Hải, Sông Hiếu, sông Thạch Hãn từ biển vào sâu đất liền, tuy nhiên
tuyến đƣờng thuỷ này cũng chỉ cho phép thuyền trọng tải 10 tấn đi lại. Tuyến
đƣờng sắt chạy theo hƣớng Bắc Nam có ga chính Đông Hà là nơi trung chuyển 12
hàng hoá ra Bắc và vào Nam. Ngành dịch vụ thƣơng mại, du lịch: Ngành dịch vụ
ở đây phát triển đã lâu.
Dịch vụ chủ yếu là buôn bán hàng hoá qua Lào, Thái Lan theo trục đƣờng
9 và phục vụ sản xuất nông nghiệp nhƣ sửa chữa công cụ lao động, cung cấp vật
tƣ và bao tiêu sản phẩm cho sản xuất nông nghiệp. Khu thƣơng mại quốc tế Lao
Bảo đƣợc hình thành và đóng vai trò lớn trong hành lang kinh tế Đông – Tây.
Dịch vụ của tƣ nhân hiện tại phần nào đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu
dùng nhƣng chỉ tập trung ở vùng đồng bằng nơi dân cƣ đông đúc
Về du lịch, trong vùng có bãi tắm cửa Tùng, bãi biển Cửa Việt, Mỹ Thuỷ
khá đẹp, nhƣng chủ yếu mới chỉ thu hút đƣợc khách địa phƣơng đến trong mùa
hè. Các cơ sở vui chơi giải trí, ăn nghỉ chƣa đƣợc xây dựng nên cũng chƣa thu hút
đƣợc nhiều khách.
1.8. LŨ LỤT VÀ NHỮNG TỔN THƢƠNG TRÊN LƢU VỰC SÔNG BẾN HẢI -
THẠCH HÃN
Quảng Trị là một trong các tỉnh duyên hải Miền Trung có đặc điểm về khí
hậu và địa hình phức tạp. Là nơi chịu ảnh hƣởng của hầu hết các loại thiên tai
thƣờng xảy ra ở Việt Nam nhƣng với tần suất cao hơn, mức độ ác liệt hơn nhƣ bão
lũ, ngập lụt. Mùa lũ ở đây đựơc chia làm 3 thời kỳ trong năm [3].
Lũ tiểu mãn xảy ra vào tháng V, VI hàng năm. Tính chất lũ này nhỏ, tập
trung nhanh, xảy ra trong thời gian ngắn, đỉnh lũ nhọn, lên xuống nhanh, thƣờng
14
ngƣời dân không thể khống chế hay làm giảm lũ lụt mà chỉ có thể tránh và chủ động
làm giảm mức thiệt hại do lũ gây ra. Do đó các biện pháp phi công trình nhƣ: cảnh
báo lũ sớm, chủ động thu hoạch hoa màu khi có lũ, lập các phƣơng án ứng cứu khẩn
cấp, nâng cao nhận thức của ngƣời dân về lũ vv…đóng vai trò chủ đạo trong công
tác phòng chống lũ lụt trong tỉnh cũng nhƣ trên các lƣu vực sông [3].
trình bày trong nhiều tài liệu khoa học với các khái niệm bao
gồm: tính dễ bị tổn
thương tự nhiên, tính dễ tổn thương xã hội và những tổn thương
kinh tế.
Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua.
Đã có nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để
đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến
tính dễ bị tổn thƣơng giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi
trong các cộng đồng, các hƣớng nghiên cứu khoa học khác nhau.
Trong ngành khoa học kinh tế - xã hội: Với cách tiếp cận của Ramade (1989)
[3]
thì tính dễ bị tổn thƣơng bao gồm cả con ngƣời và kinh tế - xã hội, liên quan
đến khuynh hƣớng hàng hóa, con ngƣời, cơ sở hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại,
sức đề kháng của cộng đồng, khi đƣợc giới thiệu trong một số nghiên cứu địa lý
vào những năm 1980. Nhƣng nghiên cứu đó lại không đề cập đến mặt tự nhiên, mức
độ, tần suất xuất hiện của các hiện tƣợng thiên tai. Trong nghiên cứu gần đây [4]
lĩnh vực này đã giải thích tính dễ bị tổn thƣơng của một hệ thống địa lý, vùng lãnh
về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội.
Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn
thƣơng, họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thƣơng mà
ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống.
Trong lĩnh vực vật lý, ngành khoa học tự nhiên đã giải thích tính dễ bị tổn
thƣơng do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu. Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu
(IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thƣơng qua nhiều năm. Năm
1992, họ xác định tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ mức độ không có khả năng đối phó với
những hậu quả của biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng.
Năm 1996, SAR [3] đã xác định tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ mức độ mà biến
đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ
nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với
điều kiện khí hậu mới. Đƣợc xem nhƣ những tác động còn lại của biến đổi khí hậu
sau khi các biện pháp thích ứng đƣợc thực hiện (Downing, 2005)[3]. Định nghĩa
này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các
mối nguy hiểm do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu. IPCC TAR (2001)[4] đã giải
thích khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ
nghĩa đƣợc đƣa ra cho những hiện tƣợng thiên tai nhất định nhƣ: biến đổi khí hậu,
(IPCC, 1992, 1996, 2001) [3] hay các hiểm họa môi trƣờng (ISDR, 2004) [3],
nhƣng nghiên cứu này đi sâu vào hƣớng nghiên cứu tính dễ tổn thƣơng do lũ lụt.
Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc sử dụng dựa trên khái niệm của
UNESCO - IHE [3] “ Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định
trong
những những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả
năng phục
hồi”.
Để tăng cƣờng tính ứng dụng của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt là
trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do lũ thì Janet Edwards (2007) [3]
đã đƣa ra một khái niệm là bản đồ tính dễ bị tổn thƣơng do lũ “là bản đồ cho
biết
vị trí các vùng nơi mà con người, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do
các
thảm hoạ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về người,
gây
ô nhiễm môi trường”.
Khi định lƣợng đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng của một vùng nào đó thì nó sẽ
cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại
công trình vv…. bị tổn thƣơng một cách biến động không chỉ theo không gian, thời
gian mà còn phụ thuộc vào khả năng chống chịu của ngƣời dân tại đó. Ví dụ, các
cộng đồng phải thƣờng xuyên đối mặt với lũ lụt, họ sẽ phát triển các chiến lƣợc đối
phó với các hiện tƣợng đó. Còn các cộng đồng không phải đối mặt với các trận lũ
lụt thƣờng bỏ qua việc thích nghi với các nguy cơ lũ, vì thế họ sẽ bị tổn thƣơng lớn
hơn khi phải đối diện với lũ. Do đó, những đánh giá về tổn thƣơng lũ đóng vai trò
quan trọng trong bài toán xác định phƣơng án giảm rủi ro thích hợp, nhƣ phát triển
các kế hoạch khẩn cấp và thực hiện các bài tập trong tình huống khẩn cấp.
Bản đồ hóa tổn thương lũ: Bản đồ tổn thƣơng lũ là một phần quan trọng
trong quản lý rủi ro lũ, cung cấp những thông tin về đối tƣợng, thể hiện một cách
trực quan về những rủi ro tiềm tàng trong vùng có nguy cơ lũ.
Quyết định tối ưu cho các phương án giảm nhẹ lũ: An toàn lũ và giảm thiểu
tổn thƣơng lũ là mục đích của bài toán, do vậy việc lựa chọn các phƣơng án giảm
thiểu tổn thƣơng lũ phải đƣợc xác định, và những lợi ích, chi phí cho các lựa chọn
khác phải đƣợc định lƣợng và so sánh. Những bƣớc này nhằm sử dụng chi phí quản
lý rủi ro một cách hiệu quả, do vậy những đánh giá thiệt hại, tổn thƣơng lũ là một