VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VẰN VÀ MÔI TRƯỜNG
T RUN G T Â M T ư VÂN KHÍ TƯỢN G THỦ Y VÀN VẢ M ÔI TRƯỜ NG
____________
1032
_
_
_
______
_
__
____
BÁO CÁO TÓM TẮT DỤ ÁN
Nghiên cứu về Đánh giá tính dễ bị tổn thương
và tác động của Biến đổi khí hậu tại thành phố
Đà Nắng và Quy Nhơn
Trong khuôn khổ chưong trình
“Mạng lưới các thành phố ở Châu Á có khả năng chống chịu với
Biến đổi khí hậu”, Hợp phần Việt Nam
Hà Nội, 12-2009
1033
MỤC LỤC
I. TÔNG QUAN VỀ D ự Á N 4
I. ] GIỚI THIỆU VỀ QUỸ ROCKEFELLER 4
1.2 MỤC TIÊU CỬA D ự Á N
4
1.3 NỘI DUNG CỦA D ự ÁN 5
II. TỐNG QUAN VÙNG NGHIÊN c ứ u
5
II. 1 THÀNH PHỐ ĐÀ NĂNG 5
II. 1.1 Đặc điểm tự nhiên 5
/. / G ĩở ì THIỆU VỀ QUỸ ROCKEFELLER
Quỹ Rockefeller, được thành lập năm 1913, nhằm hỗ trợ các hoạt động trên
khắp thế giới mở rộng các cơ hội cho người nghèo hay những người dễ bị tổn thương
và hỗ trợ để đảm bảo rằng các lợi ích của toàn cầu hoá được chia sẻ một cách rộng rãi
hơn. Trong vòng 4 năm tới, Quỹ Rockefeller sẽ hỗ trợ một nhóm các thành phố cỡ
trung bình ớ Châu Á xây dựng các công cụ và biện pháp thực tế để ứng phó với biến
đổi khí hậu, giảm nghèo và quản lý sự đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng. Chương
trình sẽ được thực hiện tại các thành phố ở Án độ, Việt nam, ĩn-ctô-nê-xia và Thái lan
để giúp các thành phố này chuẩn bị các kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ba thành phổ ở Việt nam đã được lựa chọn cho giai đoạn hiện tại của chương
trình ACCCRN, đó là Đà Nằng, cần Thơ và Quy Nhơn. Tại mỗi thành phố, chính
quyền địa phương là cơ quan chỉ đạo các hoạt động cùa dự án với sự hỗ trợ của các đối
tác quốc gia và quốc tế. Các đối tác này sẽ tiến hành các nghiên cứu dựa trên các tri
thức khoa học sẵn có tốt nhất về biến đổi khí hậu ờ Việt nam và dự báo các tác động
dối với địa phương do những thay đổi trong tương lai. Tại mỗi thành phố, dự án sẽ làm
việc với các tổ chức địa phương tham gia tích cực vào việc ứng phó với tính dễ bị thổn
thương do khí hậu. Dự án sẽ nâng cao nhận thức về các tác động của khí hậu trong
tương lai và về năng lực và các giải pháp của các cơ quan địa phương. Dự án cũng sẽ
thử nghiộm một chiến lược có tính đổi mới của địa phương về thích ứng tại mỗi thành
phố. Một số nghiên cứu bổ xung cần thiết sẽ được hiện với mục đích cung cấp các tri
thức đặc thù, mới cho chính quyền địa phương. Dự án sẽ làm việc với các sở chuyên
môn của mỗi thành phổ để hỗ trợ trong việc lồng ghép các bài học vào công tác lập kế
hoạch của họ.
1.2 MỤC TIÊU CỦA D ự Ả N
Dự án sẽ xây dựng các kế hoạch phối hợp hành động thích ứng với biến đổi khí
hậu phục vụ cho những cư dân nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất của ba thành phố ở
Việt Nam: Đà Nang, cần Thơ và Quy Nhơn. Các kế hoạch này sẽ được xây dựng dựa
trcn tri thức của địa phương, các kết quả nghiên cứu ứng dụng và kết quả của các dự
án thí điểm do dự án hỗ trợ. Các kế hoạch sẽ tạo cơ sở để tiến tới xây dựng các đề xuất
dự án kêu gọi tài trợ. Dự án sẽ tăng cường năng lực cho chính quyền các thành phổ và
108°20 00 kinh tuyến Đông, là một trong những thành phố cảng biển lớn nhất miền
Trung. Phía Bắc thành phố giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam và Tây giáp tỉnh
Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông.
Nằm ở trung độ của đất nước, cách Hà Nội 765km về phía Bắc và cách thành
phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, nối vùng Tây Nguyên qua Quốc lộ 14B và là
cửa ngõ ra biển cùa Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến
các nước Đông Bắc Á qua tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây. Đà Nang còn là điểm
nối các tuyển giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, đường sắt liên vận quốc tế Trung
Quốc - ASEAN và có hệ thống cảng biển, sân bay quốc tế tạo ưu thế về vị trí địa lý
kinh tế trong tổng thể kinh tế của cả nước, xứng đáng là thành phố hạt nhân của vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung.
II. 1.2 Đặc điểm xã hội
Dân số trung bình năm 2007 là 806.700 người và đạt tốc độ tăng dân số bình
quân 1,9%/năm (giai đoạn 2001-2005 là 1,7%/năm), cao hon mức tăng của 'cả nước
(1,3%). Do tốc độ đô thị hoá nhanh nên tỷ lệ tăng dân số cao và mật độ dân số cũng
tăng theo, từ 535 người/km2/1997 lên 631 người/km2/2006 (mật độ dân sổ toàn miền
Trune đạt 203 người/km2 và cả nước là 256 người/km2).
Năm 1997, tỷ trọng cơ cấu kinh tế trong GDP như sau: nông, lâm, thủy sản -
công nghiệp và xây dựng - dịch vụ lần lượt đạt: 9,7% - 35,2% - 55,1%. Năm 2007, tỷ
5
1 "36
lệ này dạt: 4,1% 46,9% - 49,1%. Theo như dự kiến, đến 2010, sẽ đạt: 3,4% - 47,5%
- 49,1%. Theo định hướng phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 tỷ lệ này đạt: 1,6% -
42,7% - 55,7%. Như vậy, thành phố Dà Nằng đang và sẽ phát triển thành thành phố
công nghiệp và dịch vụ.
I I.1.3 Diễn b iến c ủ a các yếu tố k hí tư ọ n g trong các năm gần đây
/././. Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí là yếu tố khí hậu thể hiện rõ nhất ảnh hưởng của vị trí địa
lý, hoàn lưu 'khống chế, chế độ nắng v.v Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu,
Đà Nang có một nền nhiệt độ cao và ít biến động trong năm. Biến trình năm của nhiệt
biến đổi khác biệt.
6
I.1.3. Thòi tiết nguy hiểm
Các số liệu thống kê về bão trong thời gian 1960-2000 cho thấy: trung bình
hàng năm có 1 cơn bão hoạt động hoặc ảnh hưởng trực tiếp tới khu vực Đà Nang, năm
nhiều nhất (1972) có đến 4 cơn. Bão có thể xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 11, tuy
nhiên tập trung cao độ nhất là vào tháng 9 và tháng 10.
Từ các số liệu về bão thu thập được trong khoảng 40 năm và kết quả tính toán
dự báo nước dâng do bão và gió mùa có thể rút ra các kết luận sau:
- Trung bình hàng năm có 1-2 cơn bão đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến khu
vực Đà Nang và thường xuất hiện vào tháng IX và tháng X.
- Nước dâng đo bão trong khu vực Đà Nằng ở mức trung bình so với các vùng
ven biển khác của Việt Nam. Mực nước cao nhất có thể xảy ra đạt 200cm, bão có
cường độ trung bình có thể gây nước dâng cỡ 120cm.
- Do đặc điểm đường bờ của khu vực, các cơn bão hoạt động trong khu vực có
thể gây nước dâng lớn trên phạm vi khầ rộng. Nơi xảy ra nước dâng cực đại thường
cách điểm bão đổ bộ vài chục km về phía bắc.
- Trước khi đổ bộ, bão có thể gây ra dòng chảy rất mạnh từ Bắc xuống Nam ở dải
ven bờ.
- Nước dâng do bão trong vịnh Đà Năng có thể cao hơn (tới 30cm) so với vùng
ngoài cửa Vịnh.
- Nước dâng do gió mùa trong khu vực biển Đà Nang có thể đạt tới 30cm, do các
hướng gió đông bắc và bắc gây nên. Các hướng gió đông và đông nam gây nước dâng
không đáng kể.
II.1.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến thành phố Đà Nắng
Trong những năm qua, thành phổ Đà Nằng chịu ảnh hưởng nhiều bởi biến đổi
khí hậu, đặc biệt là tình trạng lũ lụt, mưa bão và các hiện tượng thời tiết bất thường.
Biến đổi khí hậu có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên nước hoặc làm thay đổi chất
lượng nước; đồng thời làm biến đổi hệ sinh thái; nhiều ngành nghề bị ảnh hường mạnh
như: nông lâm ngư nghiệp, giao thông vận tải, du lịch-dịch vụ tác động mạnh đến
hành chính củ a Q uy N hơ n, có đến 13 phường/xã có cơ cấu nông lâm ngư: >10.000 ha đất
trồng lúa, 1.000 ha hoa màu và >10.000 ha đất trống - đất lâm nghiêp. Hiện tại, xu hướng đô
thị hoá - công nghiệp hoá đang diễn ra tại thành phố phù hợp với tình hình chung trong cả
nước: tỷ trọng kinh tế nông lâm ngư giảm dần từ 1995 cho đến nay.
11.2.3 Thay đổi của các yếu tố khí tượng trong những năm gần đây
Qua sự phân tích số liệu thu thập từ nhiều năm qua, các yếu tổ khí tượng tại TP Quy
Nhơn thay đổi n hư sau:
Nhiêt độ: nhiệt độ tối thấp có xu hướng giảm rồi lại tăng và tăng mạnh ở các
thập kỷ cuối. Nhiệt độ trung bình và nhiệt độ tối cao có xu hướng tăng ở tất cả các
thập kỷ. Trung bình trong một thập kỷ nhiệt độ trung bình tăng 0,1 °c, tối thấp tăng
0,13°c và tối cao tăng 0,15°c.
1039
Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình biến đổi từ tháng này qua tháng khác
chỉ chcnh lệch 1 - 2%, riêng tháng kếl thúc mùa khô bắt đầu mùa mưa độ ẩm không
khí chênh lệch 7 - 8%. Biên độ năm của độ ẩm tương đối trung bình 11-13% . Độ ẩm
tương đối thấp nhất ở tất cả các tháng trong năm đều dưới 50%, trong đó thấp nhất đo
được vào tháng V là 31%. số ngày xảy ra độ ẩm thấp nhất dưới 50% trung bình từ 1 7 -
26 ngày ở ven biển, chủ yếu xuất hiện từ tháng III đến tháng X.
Mưa: 10 năm đầu là thời kỳ có lượng mưa tăng (1957-1964), 20 năm giữa là
thời kỳ có lượng mưa giảm (1965-1984) và 20 năm cuối lượng mưa tăng (1985-2004),
lượng mưa năm 2005 -2006 giảm, sau đó tăng trở lại (2007 - 2008).
Bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi khả năng tương đối ổn định, hàng năm tổng
lượng bốc hơi khả năng đạt từ 1005- 1081mm, phân bố không đều trong các tháng. Từ
tháng IX đến tháng V năm sau, tổng lượng bốc hơi hàng tháng trung bình từ 60-
90mm; từ tháng VI đến tháng VIII trung bình hàng tháng đạt 100- 150mm.
Số giờ nắng: số giờ nắng của tháng ít nắng nhất chi xấp xỉ bằng một nửa số
giờ nắng của tháng cực đại. Sự chênh lệch số giờ nắng này cũng phản ánh rõ nét sự
tương phản giữa hai mùa: mùa khô và mùa mưa.
Gió: chế độ gió ở Quy Nhom thể hiện hai mùa rõ rệt. Mùa đông thịnh hành
hướng Bắc. Mùa hạ là thời kỳ thịnh hành hướng Đông Nam và Tây.
làm cơ sở đánh giá tác động của BĐKH. Cụ thể, đến năm 2050:
- Nhiệt độ trung bình tháng sẽ tăng lên khoảng từ 1,1 đến 1,3°C;
- Lượng mưa mùa mưa tăng (2,3 đến 5%) và lượng mưa mùa khô giảm (1 đến
2,2%), tuy nhiên, lượng mưa mùa mưa tăng nhanh và mạnh ncn tính Irung bình cả năm
th: lượng mưa vẫn tăng.
- Mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 12, 17, 23 và 30cm vào các năm 2020,
2030, 2040 và 2050 so với thời kỳ 1980 - 1999. Diện tích ngập lụt lần lượt tăng lên
khoảng 2,4; 2,5; 2,8; và 3,2 km2 (chiếm 0,3-0,6% tổng diện tích thành phổ). Vùng bị
ảm hưởng ngập do nước biển dâng thuộc quận Hải Châu, Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn.
3. Đối với các kịch bản thủy văn:
- Kết quả tính toán thủy văn thủy lực cho Thành phố Đà Nang ở điều kiện hiện
trạig cho thấy, lũ do mưa lớn kéo dài trong điều kiện địa hình dốc làm nước tập trung
nhinh, bên cạnh đó, khả năng tiêu thoát hạn chế đã gây ra tình trạng ngập lụt ở các
vùig dồng bằng và lũ quét ờ thượng nguồn. Tuy nhiên cũng do địa hình dốc, nước lũ
tiêu thoát nhanh nên thời gian ngập ngắn, lũ lên và lũ rút cũng nhanh, thiệt hại có thể
giản nếu có sự cảnh báo sớm và chuẩn bị ứng phó.
- Thời đoạn ngập nông gia tăng ở một số diện tích nhỏ cho thấy diễn biển ngập
khóng chỉ xảy ra khi có lũ lớn ở thượng lưu mà còn xảy ra ngay trong điều kiện lũ
vừí. kết hợp với nước biển dâng.
- l)o hạn chế về thời gian và số liệu thu thập, đặc biệt là số liệu về khí
tưẹng thủy văn, địa hình lòng sông, những kết quả tính toán này được xem là kết
quc ban đầu dự báo ảnh hường cùa BĐKH-NBD đến ngập lụt ờ toàn Tp Đà Nang.
- Với các kết quả đánh giá ban đầu này có thể nhận định rằng các vùng ngập
hiệi hữu ở Đà Nằng sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn (mức độ ngập sâu
hơr và kéo dài hơn) do tác động của biển đổi khí hậu - nước biển dâng nếu
nhi không có giải pháp bảo vệ.
- Trong quá trình khai thác kết quả tính toán tại các vị trí cụ thể, cần kiểm tra
lại ;ao độ địa hình tại các vị trí để có đánh giá sát thực hơn, đồng thời cần tiếp tục
đầu tư nghiên cứu cũng như cập nhập thông tin để có thể đánh giá chính xác hơn.
• Cần đầu tư nghiên cứu đầy đù ảnh hưởng của nước biển dâng với các tần
Liên Chiểu (khu du lịch Suối Lương) bị ảnh hường bởi lũ quét nặng nề nhất;
• Các vùng hạ du sông Hàn, sông Cu Đê cầu Đỏ, Vĩnh Điện (quận Hải Châu,
Ngũ Hành Sơn, cẩm Lệ, Liên Chiểu) và cục bộ tại một sổ vùng giáp sông
thuộc huyện Hòa Vang là những nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất do lũ lụt và
xâm nhập mặn gây ra;
• Các vùng sản xuất nông nghiệp, tại huyện Hòa Vang và Ngũ Hành Sơn là
những nơi có thể sẽ bị tác động nhiều do hạn hán;
• Các quận huyện có rừng, nguy cơ sẽ bị cháy rừng do hạn hán kéo dài và nhiệt
độ tăng cao, bao gồm: Hòa Vang, Sơn Trà, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, cẩm
Lệ.
- Đối tượng dễ bị tổn thương là các hộ nghèo gồm: nông dân, ngư dân, các hộ
dân tộc thiểu số, các hộ dân ven biển và ven sông, các hộ nuôi trồng thủy sản, chế biến
thủy sản, hộ dân có đất rừng và đặc biệt là nhóm người già, trẻ em, người tàn tật, di
1042
dân tự do, nhập cư không hợp pháp từ nông thôn ra thành phố làm thuê hoặc sinh sống
bang các dịch vụ du lịch;
- Các ngành dễ bị tác động nhất do BĐKH gồm: nông nghiệp, ngư nghiệp (cả
nuôi trồng và dánh bắt), lâm nghiệp, giao thông, thủy lợi, du lịch, điện. Nguyên nhân
và những vấn đề cần giải quyết để ứng phó và thích ứng dược đề xuất như sau:
• Nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp: nhóm người nghèo tập tham gia chủ
yếu vào các hoạt động sàn xuất phụ thuộc rất nhiều vào thiên tai, bao gồm
nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp. Việc sản xuất của nhóm người này
chỉ nhằm để duy trì cuộc sống và hầu như không có tích lũy nên không có
điều kiện trang bị cho mình những điều kiện tốt đe ứng phó với thiên tai như:
nhà cửa, các thiết bị, phương tiện, vốn sản xuất Thêm vào đó là sự nhận
thức kém, tập tục lạc hậu, tính cộng đồng chưa cao làm tăng tính dễ bị tổn
thương khi thiên tai xảy ra. Đe khắc phục các vấn đề này, một số các hoạt
động cần thiết phải thực hiện gồm: (i) nâng cao nhận thức về BĐKH và các
hiểm họa gây ra cho người dân; (ii) Quy hoạch phát triển lại sản xuất dựa vào
các nghiên cứu về BĐKH để lồng ghép vào các hoạt động; (iii) Có chính sách
quy hoạch, tái định cư, lập kế hoạch, xây dựng các biện pháp thích ứng. ứng
phó với tác động của thiên tai và BĐKH;
• Tăng cường các hoạt động nghiên cứu chuyên môn để trên cơ sờ đó tìm ra
các giải pháp quy hoạch, xây dựng kế hoạch nhằm thích ứng với điều kiện
BĐKH.
II 1.2 THÀNH PHÔ QUY NHƠN
1. Là một thành phổ trực thuộc 1 trong 5 tinh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Quy
Nhơn đã và đang giữ một vai trò quan trọng về phát triển kinh tế-xã hội của vùng. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, thành phố Quy Nhơn chịu ảnh hưởng nhiều bởi các tác
động của biến đổi khí hậu, đặc biệt ià tình trạng lũ lụt, mưa bão và các hiện tượng thời tiết
bất thiròmg. Những khu vực chịu tác động chính cùa các hiện tirợng thời tiết bất thiròmg
phần lớn là khu vực tập trung người dân có thu nhập thấp, các vùng canh tác, sàn xuất của
nông dân và ngư dân dẫn đến những khó khăn về vấn đề kinh tế và xã hội. Bên cạnh đó,
hiện tượng của nước biển dâng - nước biển xâm thực - làm đất đai bạc màu, đa dạng sinh
học giảm, diện tích đất bị xâm nhập mặn, đất bị khô hạn ngày càng tăng.
2. Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho thành phố Quy Nhơn ứng với các kịch
bản phát thải khác nhau (từ cao đến thấp) đã được xây dựng. Tuy nhiên, do tính phức tạp
cùa BĐKH cũng như sự hiểu biết còn hạn hẹp đối với vấn đề này, nhóm nghiên cứu đề
xuẩt kịch bản trung bình B2 - là kịch bản hài hoà nhất - để các Sở, Ban, Ngành cùa Thành
phố dùng làm cơ sờ đánh giá tác động của BĐKH. Cụ thể, đến năm 2050:
Nhiệt độ trung bình tháng sẽ tăng lên khoảng từ 0,6 đến 1,5°C;
Lượng mưa mùa mưa tăng (2,3 đến 5%) và lượng mưa mùa khô giảm (1 đến
2,2%), tuy nhiên, lượng mưa mùa mưa tăng nhanh và mạnh nên tính trung bình cả năm
thì lượng mưa vẫn tăng.
Mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 12, 17, 23 và 30cm vào các năm
2020, 2030, 2040 và 2050 so với thời kỳ 1980 - 1999. Diện tích ngập lụt lần lượt tăng
lên từ 1,4 đến 1,47 km2 (chiếm 0,7-0,8% tổng diện tích thành phố). Vùng bị ảnh hưởng
ngập là vùng có địa hình trũng thuộc xã Nhơn Lý và Nhơn Hội.
3. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, một số hiện tượng thời tiết khắc nghiệt ngày càng cỏ
diễn biến phức tạp và có xu hướng ngày một xấu hơn. Đặc biệt là bão; theo đó, bão sẽ xảy
địa hình dốc, ảnh hưởng của nước biển 4âng là không đáng kể. Điều này rất quan trọng
trcng việc quy hoạch, xây dựng các khu dân cư, đô thị, các công trình ven bờ.
5. Trong tương lai, khi thành phố Quy Nhơn trờ thành thành phố cấp I và dưới tác động cùa
BĐKH theo như kịch bản đã tính toán, tính dễ bị tổn thương cùa TP Quy Nhơn đo BĐKH
và NBD gây ra nhận định nhw sau:
Các thiên tai chính sau đây sẽ trở thành mối hiểm họa cho thành phổ:
• Bão gây ra các tác động thứ cấp gồm: xói lở bờ biển; gió kết hợp mưa lớn
gây ngập lụt, lũ quét; và ô nhiễm môi trường sau bão.
• Mưa lớn gây các tác động thứ cấp gồm: xói, sạt lở bờ biển; ngập lụt.
• Triều cường gây ngập lụt;
• Xâm nhập mặn;
• Nhiệt độ tăng, kéo dài; và
• Hạn hán.
- • Hầu hết các vùng trong thành phố sê bị ảnh hưởng bởi một hoặc nhiều trong
số các dạng thiên tai trên. Tuy nhiên, một số vùng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng/dễ bị
tổn thương nhất, bao gồm:
• Các xã, phường ven đầm Thị Nại chủ yếu bị ngập lụt, hạn hán, xâm nhập
mặn, bao gồm: 4 xã phía đông huyện Tuy Phước dự kiến sẽ sáp nhập vào
14
1045
thành phố (Phước Thắng, Phước Hòa, Phươc Sơn, Phước Thuận) các xã,
phường thành phố Quy Nhơn hiện nay (Nhơn Bình, Trần Phú, Đống Đa,
Hải Cảng, Nhơn Hội);
• Các xã, phường ven biển chủ yếu sẽ bị ảnh hưởng bởi xói lở bờ biển,
nhiễm mặn, ngập lụt do triều cường, bao gồm: Nhơn Lý, Nhơn Hải, Nhon
Châu, Nhơn Hội, Trần Phú, Hải Cảng, Ghềnh Ráng.
• Các xã, phường có ngư dân đánh bắt cá ngoài khơi bị ảnh hưởng của bão
gồm: Nhơn Bình, Nhơn Lý, Nhơn Hội và một số phường thuộc trung tâm
thành phố hiện nay.
• Các xã, phường có rừng, nguy cơ sẽ bị cháy rừng do hạn hán kéo dài và
ngành này đều thực hiện từ trước, khi mà chưa được lồng ghép với các yêu
15
1046
tố BĐKII, vì vậy, khi có tác động BĐKH, các quy hoạch này không phù
hợp, cần phải xác định, điều chỉnh lại để đảm bảo từng bước nâng cắp
nhằm thích ứng (có thể chống chọi được/giảm thiểu tác động xấu nhất) với
điều kiện BĐK.H. Tuy nhiên, việc điều chỉnh này cần phải dựa vào các
nghiên cứu chuyên ngành.
• Du lịch: tỷ trọng doanh thu từ du lịch tại thành phố Quy Nhơn sẽ rất cao
trong tương lai. Cơ sở hạ tầng du lịch hầu hết giáp biển, nơi chịu tác động
rất iớn bởi thiên tai, xói lở bờ biển. Bên cạnh đó, lượng khách du lịch phụ
thuộc rất nhiều vào thời tiết. Mưa bão nhiều, nắng nóng kéo dài sẽ giảm
hẳn lượng khách du lịch. Hơn nữa, khu Du lịch Nhơn hội được quy hoạch
vào vùng sẽ chịu tác động lớn do nước biển dâng, kèm theo đó là hiện
tượng xói lở bờ biển diễn ra mạnh. Như vậy, cần phải có các nghiên cứu
chuyên sâu về ổn định đường bờ dưới tác động nước biển dâng để quy
hoạch lại các khu du lịch ven biển, và cần phải có các chính sách hỗ trợ,
bảo hiểm đối với ngành này.
Hiện nay, thành phố đã có được cơ cấu tổ chức, trang thiết bị cho việc
phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng
được với nhu cầu hiện tại. Trong tương lai, khi các các thảm họa do BĐKH gây ra với
cường độ lớn hon, tần suất cao hơn, thành phố Quy Nhơn cần:
• Đầu tư xây dựng các hệ thổng cảnh báo, dự báo, hệ thống thông tin, các
trang thiết bị ứng phó, cứu nạn ;
• Tập huấn, tuyên truyền nâng cao năng lực, nhận thức về BĐKH và tác
động của nó để đưa ra các biện pháp thích ứng phù hợp không những cho
các cán bộ chuyên ngành mà cho toàn thể các tổ chức chính quyền, đoàn
thể và từng người dân;
• Tăng cường sự tham gia của người dân, đặc biệt là phụ nữ vào các hoạt
động quy hoạch, tái định cư, lập kế hoạch, xây dựng các biện pháp thích