i
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN III
LỜI CAM ĐOAN IV
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT V
MỤC LỤC BẢNG VI
MỤC LỤC HÌNH VII
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu. 2
3. Phƣơng pháp nghiên cứu. 2
4. Nội dung nghiên cứu. 2
5. Cấu trúc luận văn 3
CHƢƠNG 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI VIỆT NAM. 5
1.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu 5
1.1.1. Biến động khí hậu trong thời đại địa chất 6
1.1.2. Biến đổi khí hậu trong thời đại ngày nay. 7
1.1.3. Các kịch bản BĐKH và NBD trên thế giới trong thế kỷ XX. 10
1.2. Biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng ở Việt Nam. 14
1.2.1. Các kịch bản biến đổi khí hậu 14
1.2.2. Kịch bản nước biển dâng 19
1.3. Tác động của biến đổi khí hậu 19
1.3.1. Dâng cao mực nước biển 19
1.3.2. Tác động đến sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực 21
1.3.3. Tác động đến đa dạng sinh học và các hệ sinh thái 22
1.3.4. Tác động đến mực nước biển và các vùng ven biển 23
1.3.5. Tác động đến tài nguyên nước 24
1.3.6. Quản lý nước 25
1.3.7. Tác động đến thiên tai 26
2.5.2. Phương pháp sử dụng tại Đà Nẵng và Quy Nhơn 58
2.5.3. Phương pháp sử dụng tại Nam Định 60
2.5.4. Phương pháp luận đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sử dụng
phương pháp đánh giá MASSCOTE (FAO) 60
CHƢƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH
TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƢƠNG DO TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐỐI VỚI TÀI
NGUYÊN NƢỚC VÀ MÔI TRƢỜNG 63
3.1. Điểm giống và khác nhau của đánh giá khi có và không đề cập tới
biến đổi khí hậu. 63
3.2. Đánh giá ƣu nhƣợc điểm của các phƣơng pháp đánh giá TTDBTT 65
3.2.1. Phương pháp đánh giá rủi ro, hiểm họa và TTDBTT của Hội chữ
thập đỏ. 65
3.2.2. Phương pháp của Trung tâm nghiên cứu ven biển NOAA, Mỹ. 67
3.2.3. Phương pháp của Viện Môi trường Stockholm, Thụy Điển 68
3.2.4. Phương pháp luận được đế xuất bởi Viện Nước, Tưới tiêu và Môi
trường cùng với Viện ISET, Hoa Kỳ. 70
3.2.5. Phương pháp luận của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường. 71
3.2.6. Phương pháp luận đánh giá TTDBTT sử dụng phương pháp
MASSCOTE. 72
3.2.7. Kết luận chung về các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương
73
3.3. Đề xuất phƣơng pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thƣơng trong lĩnh
vực quản lý, sử dụng tài nguyên nƣớc và môi trƣờng. 74
3.3.1. Mục tiêu của phương pháp 74
3.3.2. Cách tiếp cận của phương pháp đề xuất 74
3.3.3. Các tác động tiềm tàng và khả năng ứng phó 75
3.3.4. Sự cần thiết của các kịch bản khí hậu 76
3.3.5. Tính không chắc chắn của dự báo khí hậu 76
3.3.6. Các biện pháp ứng phó và các chương trình giảm nguy cơ thảm họa
(DRR) 77
o
C) so với thời kỳ 1980-1999 15
theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 15
Bảng 1.4: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (
o
C) so với thời kỳ 1980-1999 16
theo kịch bản phát thải cao (A2) 16
Bảng 1.5: Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 17
theo kịch bản phát thải thấp (B1) 17
Bảng 1.6: Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 17
theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 17
Bảng 1.7: Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 18
theo kịch bản phát thải cao (A2) 18
Bảng 1.8: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999 19
Bảng 2.1: Bảng ma trận đánh giá tính DBTT do BĐKH trong hiện tại. 59
Bảng 2.2: Bảng ma trận đánh giá tính DBTT do BĐKH trong tương lai 59 vii
MỤC LỤC HÌNH
Hình. 1.1: Hình trái: Nhiệt độ thay đổi theo từng kịch bản của SRES. Hình
phải: Dự báo nhiệt độ thay đổi vào đầu và cuối thế kỷ 21. 10
(Nguồn IPCC-AR4, 2007) 10
Hình 1.2: Diễn biến của mực nước biển trung bình toàn cầu. 11
Nguồn: IPCC/2007 11
Hình 1.3: Sơ đồ biểu thị 4 kịch bản gốc về phát thải khí nhà kính. 12
Nguồn: IPCC 12
Hình 1.4: Lượng phát thải CO2 tương đương trong thế 14
kỷ 21 của các kịch bản. Nguồn: IPCC. 14
Các nghiên cứu của Việt Nam về vấn đề biến đổi khí hậu đến nay mới tập trung
vào công tác dự báo với các kịch bản có thế xảy ra trong tương lai. Các nghiên cứu
cũng đã xác định được những nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu và đã đưa ra
được các nguyên tắc, giải pháp chung để thích ứng, giảm thiểu và các mối nguy hại
có thể xảy ra đối với các kịch bản này. Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng
bất lợi đến hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế và xã hội Việt Nam, vì vậy, mỗi
lĩnh vực cần phải có những nghiên cứu riêng của mình để chủ động thích ứng, giảm
thiểu các tác động gây ra do quá trình biến đổi khí hậu. 2
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Hệ thống và hình thành được phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương
do tác động của biến đổi khí hậu tới lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường.
Mục tiêu cụ thể của đề tài
Tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu nói chung, tài nguyên nước và môi
trường nói riêng.
Tìm hiểu phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của
biến đổi khí hậu tới lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường
Kiến nghị được về mặt lý thuyết phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn
thương trong lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phân tích, tổng hợp và kế thừa tài liệu: Tổng hợp và phân tích các tài liệu về khu
vực nghiên cứu, tài liệu của các đề tài, dự án có liên quan,
Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, đặc biệt là kết quả nghiên cứu của thế giới
cũng như kết quả các đề tài, dự án đã triển khai trong khu vực nghiên cứu.
Lấy ý kiến chuyên gia: áp dụng trong xây dựng kế hoạch triển khai nghiên cứu,
trong đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp, trong đánh giá kết quả và hoàn thiện
phương pháp.
động của BĐKH.
- Tìm hiểu các phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và thích ứng
biến đổi khí hậu ở ngoài nước.
- Tìm hiểu các phương pháp và kết quả đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và
thích ứng biến đổi khí hậu đã được thực hiện ở trong nước.
- Phân tích đánh giá các phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và
thích ứng biến đổi khí hậu
Chƣơng 3: Nghiên cứu kiến nghị Phƣơng pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn
thƣơng do tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nƣớc và môi trƣờng
4
- Nghiên cứu thiết lập yêu cầu đối với phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn
thương ứng dụng trong điều kiện Việt Nam.
- Đề xuất phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trong lĩnh vực quản
lý, sử dụng tài nguyên nước và môi trường.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
5
CHƢƠNG 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐỐI VỚI VIỆT NAM.
1.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu
Hiện nay chúng ta đang phải sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về khí
hậu: nhiệt độ trái đất đang nóng lên, mực nước biển đang dâng lên, dân số tăng
nhanh, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các sinh cảnh đang bị
thu hẹp lại và phân cách nhau, sức ép của công nghiệp hoá và thương mại toàn cầu
hóa ngày càng lớn, trao đổi thông tin ngày càng rộng rãi. Tất cả những thay đổi đó
đang ảnh hưởng lớn đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế giới, trong
đó có việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường.
Hội nghị Khí hậu quốc tế lần thứ nhất là hội nghị quốc tế đầu tiên nhận thức được
mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu là Hội nghị năm 1979. Hội nghị này, tập
hợp đông đảo các nhà khoa học về khí tượng, khí hậu của thế giới, đã thảo luận về
triển, đe doạ cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái.
Đồng thời với sự nóng lên toàn cầu, nước biển dâng, sự thay đổi về mưa và sự
bốc hơi là sự suy thoái của tầng ozôn bình lưu làm tăng bức xạ cực tím mặt trời trên
trái đất, gây ra những ảnh hưởng lớn cho loài người, hệ thống tự nhiên, tác hại trực
tiếp đến cả nền kinh tế - xã hội. Ngược lại, bản thân sự tồn tại và phát triển của các
ngành kinh tế - xã hội cũng làm biến đổi môi trường xung quanh, tác động đến hệ
thống khí hậu.
1.1.1. Biến động khí hậu trong thời đại địa chất
Khí hậu trái đất đã trải qua nhiều lần biến đổi. Khoảng 45 triệu năm về trước, một
thiên thạch khổng lồ va vào trái đất làm bề mặt trái đất bị bao phủ một lượng khói
bụi dày đặc, và trái đất bị chìm trong bóng tối một thời gian dài do không có ánh
sáng mặt trời. Trái đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt.
Khoảng 2 triệu năm trước công nguyên, trái đất cũng trải qua nhiều lần băng hà
lạnh lẽo và gian băng ấm áp, với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm. Chênh lệch
7
nhiệt độ trung bình giữa kỳ băng hà và gian băng khoảng 5 - 7
0
C, riêng ở vùng cực
khoảng 10 - 15
0
C.
Thời kỳ gian băng khoảng 125 nghìn đến 130 nghìn năm trước công nguyên,
nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp (1750)
khoảng 2
0
C và mực nước biển trung bình cao hơn trong thế kỷ 20 từ 4 đến 6m.
Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10 -15 nghìn năm. Sau thời
kỳ này, trái đất ấm dần lên, các sinh vật mới dần dần phát triển. Sa mạc Sahara trong
khoảng 12 nghìn đến 4 nghìn năm trước công nguyên có cây cỏ và chim muông.
(151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro cacbon
(CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần
khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ô zôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do
con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển.
Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu
hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng v.v đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng
nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản
xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là các hoạt động khác (chôn
rác thải v.v ).
Từ năm 1840 đến năm 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu
chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh,
trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và
48 lần ở Ấn Độ.
Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn (lấy tròn), bằng
khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải
lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên Bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn,
Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc
Anh 580 triệu tấn. Các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2,
chiếm 42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng
phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá
nhanh trong khoảng 15 năm qua. Một số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các
nước đang phát triển cũng phải cam kết giảm phát thải như là điều kiện để họ thực
hiện các cam kết của mình theo Công ước khí hậu.
9
Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2 (không kể các khí nhà kính
khác). Năm 2004, phát thải 98,6 triệu tấn CO2, tăng gần 5 lần, bình quân đầu người
1,2 tấn một năm (trung bình của thế giới là 4,5 tấn/năm, Xingapo 12,4 tấn, Malaixia
7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn, Trung Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn,
Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn). Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng
Dựa trên sự thay đổi động lực
dòng chảy băng tuyết.
Năm 2000
0,6
0,3-0,9
NA
Kịch bản B1
Kịch bản A1T
Kịch bản B2
1,8
2,4
2,4
1,1-2,9
1,4-3,8
1,4-3,8
0,18-0,38
0,20-0,45
0,20-0,43
10
Kịch bản A1B
Kịch bản A2
Kịch bản A1F1
2,8
3,4
4,0
1,7-4,4
2,0-5,4
2,4-6,4
0,21-0,48
0,23-0,51
nước biển dâng. Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và
dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành
động.
Tuy kịch bản mực nước biển dâng còn chưa chắc chắn, vì có nhiều điều không
biết rõ về sự đóng góp của băng Greenland và Nam cực. Nhưng thực tế, các nghiên
cứu gần đây đưa ra tốc độ tăng mực nước biển cao hơn, là từ 0,5 đến 1,4m vào cuối
thế kỷ 21.
Hình 1.2: Diễn biến của mực nước biển trung bình toàn cầu.
Nguồn: IPCC/2007
Tình hình trên đây có thể coi là bất khả kháng, ít nhất trong thế kỷ 21, cho dù
hàm lượng các khí nhà kính được giữ ổn định ở mức năm 2000, thì nhiệt độ trung
bình toàn cầu vẫn tăng và mực nước biển trung bình toàn cầu vẫn dâng cao hơn,
tương ứng 2
o
C và 0,1-0,25m/thế kỷ.
12
Biến đổi khí hậu hiện nay cũng như trong thế kỷ 21 phụ thuộc chủ yếu vào mức
độ phát thải khí nhà kính, tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy,
các kịch bản biến đổi khí hậu được xây dựng dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế
- xã hội toàn cầu.
Con người đã phát thải quá mức khí nhà kính vào khí quyển từ các hoạt động
khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, phá rừng,… Do đó, cơ
sở để xác định các kịch bản phát thải khí nhà kính là: (1) Sự phát triển kinh tế ở quy
mô toàn cầu; (2) Dân số thế giới và mức độ tiêu dùng; (3) Chuẩn mực cuộc sống và
lối sống; (4) Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng; (5) Chuyển giao công
nghệ; (6) Thay đổi sử dụng đất;…
Trong Báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải khí nhà kính năm 2000, IPCC
đã đưa ra 40 kịch bản, phản ánh khá đa dạng khả năng phát thải khí nhà kính trong
manh mún hơn so với B1 và A1 (kịch bản phát thải trung bình, được xếp cùng nhóm
với A1B).
Như vậy, IPCC khuyến cáo sử dụng các kịch bản phát thải được sắp xếp từ thấp
đến cao (Hình 8) là B1, A1T (kịch bản thấp), B2, A1B (kịch bản trung bình), A2,
A1FI (kịch bản cao). Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhu cầu thực tiễn và khả năng tính
toán của từng nước, IPCC cũng khuyến cáo lựa chọn các kịch bản phát thải phù hợp
trong số đó để xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu.
14
Hình 1.4: Lượng phát thải CO2 tương đương trong thế
kỷ 21 của các kịch bản. Nguồn: IPCC.
1.2. Biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng ở Việt Nam.
1.2.1. Các kịch bản biến đổi khí hậu
Các kịch bản phát thải khí nhà kính được chọn để tính toán xây dựng kịch bản
biến đổi khí hậu cho Việt Nam là kịch bản phát thải thấp (kịch bản B1), kịch bản
phát thải trung bình của nhóm các kịch bản phát thải trung bình (kịch bản B2) và
kịch bản phát thải trung bình của nhóm các kịch bản phát thải cao (kịch bản A2).
Các kịch bản biến đổi khí hậu đối với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho
bảy vùng khí hậu của Việt Nam: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng Bằng Bắc Bộ, Bắc
Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Thời kỳ dùng làm cơ sở để so
sánh là 1980-1999 (cũng là thời kỳ được chọn trong Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của
IPCC).
Các kịch bản biến đổi khí hậu cho các vùng khí hậu của Việt Nam trong thế kỷ
có thể được tóm tắt như sau:
a) Về nhiệt độ
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình
năm ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980-1999
15
khoảng từ 1,6 đến 1,9
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở
các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 khoảng
16
3,1 đến 3,6
o
C, trong đó Tây Bắc là 3,3
o
C, Đông Bắc là 3,2
o
C, Đồng bằng Bắc Bộ là
3,1
o
C và Bắc Trung Bộ là 3,6
o
C. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm của các vùng
khí hậu phía Nam là 2,4
o
C ở N am Trung Bộ, 2,1
o
C ở Tây N guyên và 2,6
o
C ở Nam
Bộ (Bảng 1.4).
Bảng 1.4: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (
o
C) so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải cao (A2)
15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam
Bộ chỉ tăng trên dưới 1%.
Bảng 1.6: Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
18 - Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể
tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999, khoảng 9 - 10% ở Tây Bắc, Đông Bắc,
10% ở Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, 4 - 5% ở Nam Trung Bộ và khoảng 2% ở
Tây Nguyên, Nam Bộ (Bảng 1.7). Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ
giảm từ 6-9% ở Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 13% ở Bắc
Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ có
thể giảm tới 13-22% so với thời kỳ 1980-1999.
Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 12 đến 19% ở cả bốn
vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nuyên và Nam Bộ chỉ vào
khoảng 1-2%.
Bảng 1.7: Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải cao (A2) 19
1.2.2. Kịch bản nước biển dâng
Báo cáo lần thứ tư của IPCC ước tính mực nước biển dâng khoảng 26-59cm vào
năm 2100, tuy nhiên không loại trừ khả năng tốc độ cao hơn. Nhiều nhà khoa học đã
đánh giá rằng các tính toán của IPCC về thay đổi nhiệt độ toàn cầu là tương đối phù
hợp với số liệu nhiệt độ thực đo. Tuy nhiên, tính toán của IPCC về nước biển dâng
là thiên thấp so với số liệu thực đo tại các trạm và bằng vệ tinh. N guyên nhân chính
dẫn đến sự thiên thấp này là do các mô hình tính toán mà IPCC sử dụng để phân tích
đã chưa đánh giá đầy đủ các quá trình tan băng. Một số nghiên cứu gần đây cho
sẽ biến mất vĩnh viễn.
Theo IUCN, với bờ biển dài 3260km và có hai trong số những đồng bằng lớn
nhất thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới dễ bị ảnh hưởng
nhất bởi biến đổi khí hậu. Chỉ cần mực nước biển dâng cao 1m sẽ có khả năng ảnh
hưởng tới đời sống của 10,8% dân số Việt Nam, nhất là ở đồng bằng. Nếu mực
nước biển dâng cao 5m thì Việt Nam sẽ bị mất tới 16% diện tích đất đai; khoảng
35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốc nội sẽ bị de doạ.
Các tác động của biến đổi khí hậu ban đầu có thể nhận thấy được thông qua
những thay đổi về khí hậu theo mùa ở các vùng miền khác nhau. Bên cạnh đó, biến
đổi khí hậu cũng gây tổn hại nhiều hơn đối với các khu vực đất ngập nước, rạn san
hô, các hệ sinh thái quan trọng khác. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất lại là khi mực
nước biển dâng lên, đầu tiên là sự gia tăng tình trạng ngập lụt trong mùa mưa bão do
nước biển dâng lên phá vỡ hệ thống đê biển, hồ chứa nước và nhấn chìm những
cánh đồng lúa ở vùng đồng bằng ven biển
Theo bà, Julia Marton – Lefèvre, Tổng giám đốc IUCN, trong vòng 50 năm tới
mực nước biển sẽ dâng cao thêm 0, 56m và sẽ có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động