Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực canh tác lúa tỉnh quảng ngãi - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC VÕ NGỌC DŨNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN LĨNH
VỰC CANH TÁC LÚA TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội – 2013
i

LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ với đề tài: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh
vực canh tác lúa tỉnh Quảng Ngãi” đã được hoàn thành. Để hoàn thành khóa luận
này, ngoài sự nỗ lực của bản nhân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ
quan, tổ chức và cá nhân.
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô PGS. TS. Huỳnh
Thị Lan Hương và thầy GS.TS. Trần Thục đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng chân thành cảm ơn tới các anh chị Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi
khí hậu thuộc Viện khoa học Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã hỗ trợ
chuyên môn, thu thập tài liệu liên quan để luận văn được hoàn thành.
Xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ Khoa Sau đại học - Đại học Quốc
Gia Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng dẫn tôi hoàn
thành chương trình học tập và thực hiện luận văn.
Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và
những người luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Trong khuôn khổ một luận văn, do thời gian và điều kiện hạn chế nên không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
quý báu của các thầy cô và các đồng nghiêp.
Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên: Võ Ngọc Dũng ii

3.1. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NHU CẦU TƯỚI CỦA
CÂY LÚA 35
3.1.1. Kết quả tính toán - Kịch bản nền 35
3.1.2. Kết quả tính toán – Cho các kịch bản biến đổi khí hậu 40
3.1.3. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến như cầu tưới 43
iii

3.2. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN DIỆN TÍCH
CANH TÁC LÚA 48
3.2.1. Phương pháp và mô hình toán sử dụng để đánh giá 48
3.2.2. Kết quả tính toán ngập lụt 56
3.2.3. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến diện tích canh tác lúa 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
iv

Danh mục các ký hiệu viết tắt
ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
BĐKH Biến đổi khí hậu
BĐNL Bản đồ ngập lụt
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IPCC Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
MIKE Bộ mô hình thuỷ lực và thuỷ văn của Viện Thuỷ lực Đan Mạch
MIKE - NAM Mô đun tính toán dòng chảy từ mưa trong bộ mô hình MIKE
MIKE 11 -GIS Mô hình tính toán ngập lụt
NBD Nước biển dâng
UBND Ủy ban nhân dân
v


Bảng 3.5. Bốc hơi tiềm năng tại trạm Ba Tơ và Quảng Ngãi theo kịch bản nền
(mm/ngày) 40
Bảng 3.6. Nhu cầu sử dụng nước của các vùng theo kịch bản nền (1980-1999) 40
Bảng 3.7. Bốc hơi tiềm năng các kịch bản tại trạm Ba Tơ (mm/ngày) 41
Bảng 3.8. Bốc hơi tiềm năng các kịch bản tại trạm Quảng Ngãi (mm/ngày) 41
vi

Bảng 3.9. Nhu cầu tưới của các vùng theo kịch bản B1 42
Bảng 3.10. Nhu cầu tưới của các vùng theo kịch bản B2 42
Bảng 3.11. Nhu cầu tưới của các vùng theo kịch bản A2 42
Bảng 3.12. Biến đổi bốc hơi tiềm năng so với kịch bản nền tại trạm Ba Tơ (mm/ngày)
43
Bảng 3.13. Biến đổi bốc hơi tiềm năng so với kịch bản nền tại trạm Ba Tơ (%) 43
Bảng 3.14. Biến đổi bốc hơi tiềm năng so với kịch bản nền tại trạm Quảng Ngãi
(mm/ngày) 43
Bảng 3.15. Biến đổi bốc hơi tiềm năng so với kịch bản nền tại trạm Quảng Ngãi (%) 44
Bảng 3.16 .Các trạm mưa được sử dụng để tính toán chuyển mưa thành dòng chảy
bằng mô hình NAM 48
Bảng 3.17. Kết quảhiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô hình mưa - dòng chảyMIKE NAM
49
Bảng 3.18. Sự khác nhau về đỉnh lũ trong hiệu chỉnh trạm Trà Khúc 53
Bảng 3.19. Sự khác nhau về đỉnh lũ trong kiểm định trạm Trà Khúc 54
Bảng 3.20. Diện tích ngập lớn nhất trận lũ tháng 12 năm 1999 56
Bảng 3.21. Diện tích đất lúa bị ngập lớn nhất theo kịch bản B1 57
Bảng 3.22. Diện tích đất lúa bị ngập lớn nhất theo kịch bản B2 57
Bảng 3.23. Diện tích đất lúa bị ngập lớn nhất theo kịch bản A2 58
Bảng 3.24. Tổng hợp diện tích đất canh tác lúa bị ngập lớn nhất theo các kịch bản 58
Bảng 3.25. Diện tích ngập thay đổi so với kịch bản nền 60
Bảng 3.26. Phần trăm diện tích ngập thay đổi so với kịch bản nền 61
vii

với kịch bản nền 62
ix

MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu chung
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân
loại trong thế kỷ 21. Những báo cáo gần đây của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi
khí hậu (IPCC) đã xác nhận rằng biến đổi khí hậu thực sự đang diễn ra và gây ra nhiều
tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường tại nhiều nước trên thế
giới, trong đó Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do
những tác động của BĐKH (IPCC, 2007). Lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của
BĐKH là nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản, lâm nghiệp, công nghiệp và an ninh lương
thực.
Nông nghiệp là một trong những ngành phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu
nên rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương do BĐKH. Theo báo cáo của Tổ chức Lương
thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), nhiệt độ Trái đất tăng do biến đổi khí
hậu sẽ khiến các vụ gieo trồng ở các vùng ôn đới bị kéo dài, nhưng lại làm cho các vụ
gieo trồng ở những khu vực khác bị rút ngắn. Cùng với quá trình bốc hơi nước bị đẩy
nhanh do nhiệt độ tăng, sự biến đổi mùa vụ này sẽ làm giảm sản lượng lương thực
cũng như lượng nước cung cấp cho cây trồng. Ngoài ra, mực nước biển dâng gây ngập
lụt, nhiễm mặn nguồn nước làm thu hẹp diện tích đất canh tác, ảnh hưởng đến nông
nghiệp.
Quảng Ngãi là một trong những tỉnh nằm trọn trong khu vực hứng chịu nhiều
thiên tai nhất của Việt Nam, nơi được nhận định là 01 trong 05 ổ bão lớn của khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương. Hàng năm, Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng của nhiều cơn
bão và đối mặt với nhiều loại hình thiên tai và những diễn biến bất thường khác của
thời tiết.
Trong những năm gần đây, lũ lụt, hạn hán xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
với tần suất và cường độ ngày càng cao. Từ năm 1999 đến năm 2010, bão và áp thấp
nhiệt đới (ATNĐ) ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp trên biển Đông đến Quảng Ngãi

+ Nội dung nghiên cứu: đánh giá sự thay đổi về nhu cầu tưới và diện tích đất
canh tác của các vùng trồng lúa trên cơ sở các Kịch bản biến đổi khí hậu và Nước biển
dâng.
4. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục trong 3
xi

chương:
 Chương 1: Tổng quan.
 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu.
 Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN
NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Một số thiệt hại trong lĩnh vực canh tác lúa tỉnh Quảng Ngãi liên quan đến
BĐKH
Hàng năm tỉnh Quảng Ngãi luôn bị ảnh hưởng của hạn hán, lũ lụt làm mất đất
sản xuất nông nghiệp. Theo số liệu thống kê thì trong giai đoạn 2001-2010 tổng diện
tích đất lúa bị mất đi trong toàn tỉnh do bị sạt lỡ, sa bồi, xâm nhập mặn khoảng 200 ha,
bình quân mỗi năm mất khoảng 20 ha. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới thì trong
những năm đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ làm cho lũ lụt, hạn hán ngày càng
gia tăng. Như vậy giai đoạn 2011-2020 khả năng mất đất lúa do ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu sẽ nhiều hơn giai đoạn trước và có tác động đến vấn đề sản xuất lương
thực của tỉnh.
Năm 2010, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, nền nhiệt độ trung bình cao
hơn 1-2
0
C so với năm trước, tình trạng khô hạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi diễn ra

suất, chất lượng bị giảm; diện tích thu hẹp, phạm vi ngập mặn, nước lợ gia tăng.
1.1.2. Một số nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu lên ngành nông nghiệp
1.1.2.1. Trên thế giới
BĐKH sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các vùng sinh thái.
Nhiều nghiên cứu đã bắt đầu từ các thành phần khí hậu và chủ yếu xuất phát từ sự ấm
lên của trái đất (IPCC, 2007, Stern, 2005). Các nghiên cứu này thể hiện ở các khía
cạnh sau:
 Khi nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát sinh, phát triển của cây
trồng, vật nuôi làm cho thay đổi về năng suất và sản lượng;
 Khi nhiệt độ tăng làm cho suy giảm tài nguyên nước, nhiều vùng không có
nước và không thể tiếp tục canh tác làm cho diện tích canh tác bị suy giảm;
 Khi nhiệt độ tăng làm cho băng tan, dẫn đến nhiều vùng đất bị xâm lấn và ngập
mặn và không tiếp tục canh tác các loại cây trồng hoặc làm giảm năng suất;
 Thay đổi về các điều kiện khí hậu sẽ làm suy giảm đa dạng sinh học, làm mất
cân bằng sinh thái, đặc biệt là thiên địch và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cây
trồng và phát sinh dịch bệnh;
 Các hiện tượng thời tiết cực đoan, không theo quy luật như bão sớm, muộn,
mưa không đúng mùa sẽ gây khó khăn cho bố trí cơ cấu mùa vụ và gây thiệt hại,
Từ các kết quả nghiên cứu được tổng hợp ở trên cho thấy, tác động của BĐKH
đến nông nghiệp là tương đối rõ ràng và đều xuất phát từ các thành phần khí hậu. Việc
giảm thiểu tác động trên sẽ khó khăn hơn nhiều so với việc thích ứng và lựa chọn, cải
tiến các công nghệ phù hợp nhằm thích ứng với BĐKH.
1.1.2.2. Tại Việt Nam
Cũng giống như các nước trên thế giới, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã tiến
3

Hình 1.1. Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ngãi
hành nghiên cứu và chỉ ra những tác động của BĐKH đối với nông nghiệp bao gồm:
(i) Vấn đề an ninh lương thực không được đảm bảo do suy giảm năng suất cây trồng
(Đ.X. Học, 2009); (ii) thay đổi nguồn nước do nhiều vùng bị cạn kiệt nhưng nhiều

- Phía Tây: Giáp tỉnh Kon Tum và
tỉnh Gia Lai.
- Phía Nam: Giáp tỉnh Bình Định.
- Phía Bắc: Giáp tỉnh Quảng Nam.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 515.295,46 ha (theo thống kê đất đai tỉnh Quảng
4

Ngãi ngày 01 tháng 01 năm 2011) chiếm 1,7% diện tích tự nhiên của cả nước.
Tỉnh Quảng Ngãi có 14 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 1 thành phố, 6
huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo, với 184 xã, phường, thị trấn.
Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có hệ thống
giao thông thuận lợi như đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 1A chạy qua tỉnh và tuyến
Quốc lộ 24 nối tỉnh Quảng Ngãi với Kon Tum, Tây nguyên, Lào và Đông Bắc Thái
Lan, cùng các tuyến giao thông quan trọng khác đã giúp lưu thông hàng hóa, phát triển
kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong nước và quốc tế.
Quảng Ngãi có bờ biển dài hơn 130 km có nhiều cửa biển lớn như Sa Kỳ, Cửa
Đại, Mỹ Á, Sa Huỳnh Vùng biển Quảng Ngãi là nơi tiếp giáp của hai dòng hải lưu
nóng và lạnh nên có lượng phù du phong phú, với diện tích ngư trường tương đối lớn,
nguồn hải sản đa dạng. Do có sự lồi lõm, gấp khúc, nhiều mũi đá cứng nhô ra biển,
chia cắt bờ thành những vũng, vịnh, đặc biệt có cảng nước sâu Dung Quất. Cách bờ
biển 25 km là đảo Lý Sơn với chiều dài 5,5 km, chiều ngang chỗ rộng nhất là 2,5 km,
diện tích trên đảo khoảng 10km
2
là nơi tập trung nhiều người dân làm nghề biển. Lý
Sơn là đảo tiền tiêu của Tổ quốc có vị trí hết sức quan trọng đối với quốc phòng.
Nhìn chung vị trí địa lý của tỉnh Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi cho việc khai
thác những thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, tiềm năng về biển, phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ, thu hút vốn đầu
tư, giao lưu thông thương với các tỉnh trong nước và Quốc tế, hoà nhập chung vào xu
thế phát triển kinh tế của đất nước.

Trung, Sơn Hải, phía Đông Nam huyện lỵ Sơn Hà và đoạn sông này người ta thường
gọi là sông Hải Giá. Từ Hải Giá sông chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc đến
Thạch Nham (giáp với 03 huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa) thì thoát khỏi núi non,
một đoạn nữa đến thôn Hưng Nhượng xã Tịnh Đông về sau thì hướng chảy cơ bản là
Tây- Đông, tuy nhiên vẫn có nhiều đoạn sông quanh gấp khúc (do vậy được gọi là
sông Trà Khúc).
Sông Trà Khúc ở các hợp lưu thượng nguồn sông đào lòng nước dữ dội qua các
thung lũng, đến hạ lưu nước vẫn chảy rất xiết cho đến khi đổ nước ra cửa Đại Cổ Lũy.
Sông Trà Khúc có độ dài khoảng 135km, trong đó có khoảng 1/3 chiều dài sông chảy
qua vùng núi và rừng rậm, có độ cao 200- 1.000m, phần còn lại chảy qua vùng đồng
bằng. Sông Trà Khúc có diện tích lưu vực khoảng 3.240 km
2
, bao gồm phần đất của
các huyện Sơn Hà, Tư Nghĩa, một phần huyện Ba Tơ, Minh Long, Sơn Tịnh, Trà Bồng
và Tây Trà, có một phần nguồn nhỏ thuộc địa phận tỉnh Kon Tum. Trên bề mặt lưu
vực sông có khoảng nửa diện tích kể từ nguồn là rừng già, còn lại là rừng thưa kiểu
cao nguyên và cây bụi rậm; vùng hạ lưu là đất canh tác và đồng bằng trồng lúa chiếm
6

diện tích khá lớn.
c. Sông Vệ: Bắt nguồn từ rừng núi phía Tây của huyện Ba Tơ. Sông chảy theo
hướng Tây Nam- Đông Bắc, giữa các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức đổ ra
biển Đông tại cửa Cổ Lũy và cửa Đức Lợi. Sông dài khoảng 90 km, trong đó 2/3 chiều
dài chảy trong vùng núi có độ cao 100 - 1.000m. Sông có 05 phụ lưu cấp I, 02 phụ lưu
cấp II. Sông Vệ có diện tích lưu vực 1.260km
2
, bao gồm địa hạt các huyện Ba Tơ,
Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành và một phần nhỏ diện tích của huyện Tư Nghĩa. Độ
cao trung bình lưu vực khoảng 170m, mật độ lưới sông 0,79 km/km
2

Chiều dài sông
(km)
Chiều dài
lưu vực (km)
Chiều rộng
lưu vực (km)
Diện tích
lưu vực (km
2
)
Trà Bồng 45 56 12,4 697
Trà Khúc 135 123 26,3 3.240
Sông Vệ 90 70 18,0 1.260
Trà Câu 32 19 14,0 442
1.2.1.3. Đặc điểm khí hậu
Khí hậu của Quảng Ngãi mang tính nhiệt đới điển hình, nền nhiệt độ cao và ít
biến động, chế độ ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, chế độ gió phong phú là những nhân tố
ảnh hưởng lớn đến các yếu tố khí hậu của tỉnh. Nhiệt độ trung bỉnh năm 25,8
0
C.
Lượng mưa trung bình năm trên 2.290mm, tập trung từ tháng 9 đến tháng Giêng năm
sau (chiếm 65-70% lượng mưa cả năm). Mưa lớn và tập trung trong thời gian ngắn gây
lũ lụt và phân bố lượng mưa không đều trong năm. Vùng mưa lớn nhất trong tỉnh
thuộc các huyện miền núi: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây và Tây Trà với tổng
lượng mưa trên 3.200 mm/năm. Vùng có lượng mưa ít nhất trong tỉnh là khu vực đồng
bằng thuộc các huyện Đức Phổ và Mộ Đức với tổng lượng mưa khoảng 1.400 mm.
Vùng có lượng mưa trung bình thuộc các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, thành phố
Quảng Ngãi, Sơn Tịnh và Bình Sơn với tổng lượng mưa từ 1.800 - 2.300 mm.
Quảng Ngãi nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có hai mùa gió chính (gió
mùa Đông và gió mùa Hè). Tốc độ gió trung bình năm tại đồng bằng ven biển khoảng

từ tháng V đến tháng XII; trong khoảng 5 năm gần đây, áp thấp nhiệt đới xuất hiện cả
trong tháng I, tháng II; bão cũng xuất hiện sớm hơn (trong tháng IV).
Bảng 1.2. Số cơn bão và ATNĐ ảnh hưởng trực triếp đến Quảng Ngãi
Năm Số cơn bão trên biển
Đông
Số cơn ATNĐ trên biển
đông
2006
10 5
2007
7 3
2008
10 7
2009
11 4
2010
6 4
Tổng
44 23
(Ghi chú: Năm 2009 là năm có nhiều bão nhất trên biển Đông, và là năm có bão đổ bộ
trực tiếp vào Quảng Ngãi trong vòng 10 năm trở lại đây)
Nguồn: Chi cục Thủy lợi và PCLB tỉnh Quảng Ngãi
Theo số liệu thống kê từ năm 1964 đến nay đã có 22 cơn bão đổ bộ vào Quảng
Ngãi (và Nghĩa Bình cũ), đặc biệt năm 2007: 5 cơn; năm 2008: 7 cơn; năm 2009 có 3
cơn. Cơn bão số 2 năm 1989, cơn bão số 1 (bão Chan Chu) năm 2006 và cơn bão số 9
năm 2009 là những cơn bão mạnh gây thiệt hại nặng nề nhất. Riêng cơn bão số 9 năm
2009 là cơn bão lịch sử trong vòng 80 năm qua và có nhiều diễn biến và gây tác hại
lớn trên địa bàn tỉnh.
9


Ngoài ra, sạt lở núi cũng là một loại hình thiên tai xảy ra hầu hết trên tất cả các
10

huyện miền núi của tỉnh.Hiện nay có 75 điểm có nguy cơ sạt lở núi, trong đó có 21
điểm có nguy cơ cao ở các huyện Ba Tơ, Trà Bồng, Tây Trà, Minh Long, Sơn Hà, Sơn
Tây.
 Gió mùa đông bắc (không khí lạnh): Gió mùa Đông Bắc thường ảnh hưởng
đến thời tiết tỉnh Quảng Ngãi từ tháng X năm trước đến tháng III năm sau.Trung bình
hàng năm có 14 đến 15 đợt gió mùa Đông Bắc gây ảnh hưởng đến địa bàn tỉnh.Những
đợt gió mùa Đông Bắc tràn về thường kết hợp với nhiễu động nhiệt đới ở phía Nam
Biển Đông như bão, áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới,…,gây ra mưa to, kéo dài
nhiều ngày hình thành những trận lũ lớn, gây ngập lụt nghiêm trọng. Trận lũ lịch sử
năm 1964, các trận lũ đặc biệt lớn năm 1999, 2003, 2007 là do mưa bởi các hình thế
thời tiết này. Trong thời kỳ từ tháng I đến tháng III, gió mùa Đông Bắc có cường độ
mạnh tràn về gây ra mưa lớn, rét lạnh trong đất liền làm ngập úng, hư hỏng lúa Đông
Xuân.Gió mạnh ở ngoài khơi, ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế biển.
 Dông, lốc, sét: Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh thường xảy ra
nhiều giông, lốc, sét mạnh, gây thiệt hại không nhỏ đến người, tài sản và hoạt động sản
xuất của nhân dân, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Ở Quảng Ngãi bình quân
hàng năm có 85 – 110 ngày có giông, ở vùng núi là nơi xảy ra dông nhiều nhất, ngược
lại vùng hải đảo chỉ có khoảng 35 ngày. Năm 2008, có 10 trận giông, lốc lớn, xuất
hiện cả gió xoáy mạnh xảy ra vào các tháng III, V, VI, VII, X và XI. Chỉ trong 6 tháng
đầu năm 2009 cũng đã xuất hiện 3 trận lốc mạnh kèm theo mưa lớn trong tháng III và
tháng IV.
c. Hạn hán, cháy rừng
Hạn hán là hiện tượng thời tiết khô không bình thường ở một khu vực do trong
một thời gian dài không có mưa hay mưa không đáng kể. Ở tỉnh Quảng Ngãi, có hai
thời kỳ hạn hán và cháy rừng xảy ra trong năm là tháng VII và tháng VIII. Hạn hán
không xảy ra thường xuyên hàng năm mà có chu kỳ lặp lại 2 đến 3 năm một lần. Do
chưa dự báo được hạn hán trên các hệ thống sông nên công tác phòng chống còn bị

các loài gây hại mới, hoặc làm thay đổi tần suất và mức độ thiệt hại gây ra bởi các loài
sâu bệnh đến khu rừng. Điều này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến các hoạt động trồng rừng
và nuôi rừng tại tỉnh Quảng Ngãi.
12

d. Xâm nhập mặn, nước biển dâng
 Xâm nhập mặn: Độ mặn trong nước sông vùng ven biển Quảng Ngãi là do độ
mặn từ nước biển xâm nhập vào qua các cửa sông khi triều lên. Mức độ nhiễm mặn
trên từng con sông phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Độ mặn của nước biển ven bờ (vùng
biển Quảng Ngãi có độ mặn lớn nhất trung bình vào khoảng 32‰); Chế độ triều vùng
cửa sông (theo số liệu khảo sát, vùng ven biển có chế độ nhật triều và bán nhật triều
không đều; Biên độ triều vùng cửa sông trong mùa khô trung bình từ 1,2 – 1,3 m, lớn
nhất không vượt quá 1,5m); Địa hình vùng đồng bằng ven biển và độ dốc lòng sông;
Lưu lượng dòng chảy thượng nguồn. Khu bị ảnh hưởng là vùng đồng bằng ven biển
các cửa sông chính như các khu vực: Đông huyện Bình Sơn (cửa Sa Cần), Khu Đông
huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức (cửa Đại, cửa Lở), Đông Nam huyện Đức Phổ
(của Mỹ Á, Sa Huỳnh).
 Nước biển dâng: Có một số nguyên nhân chính làm NBD như: Thủy triều,
băng tan (BĐKH), chấn động địa chất … làm mất nhiều diện tích đất ở, đất sản xuất,
gia tăng xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền, hạn chế thoát lũ,… .Các khu vực có
nguy cơ chịu tác động mạnh nhất là vùng đồng bằng ven các cửa sông chính trên địa
bàn tỉnh.
e. Các loại hình thiên tai khác
Nằm ở khu vực Trung Trung bộ nên Quảng Ngãi rất hiếm khi có rét đậm, rét hại,
tỉnh cũng ít khi chịu ảnh hưởng khi mưa đá xảy ra, nếu có thường xuất hiện ở các
huyện Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ.
Sương mù thường xuất hiện nhiều ở vùng núi tỉnh Quảng Ngãi, theo số liệu
thống kê trung bình nhiều năm số ngày có sương mù ở vùng núi là 49 ngày, vùng đồng
bằng 15 ngày và khu vực huyện đảo Lý Sơn chỉ có 4 ngày. Khi sương mù có cường độ
mạnh sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động giao thông trên đất liền, trên sông và trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status