i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
***
NGÔ NGỌC DUNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HOẠT
ĐỘNG TRỒNG TRỌT TẠI HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
GIAI ĐOẠN 2000 - 2013 VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
CHO GIAI ĐOẠN 2014 - 2030 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC Hà Nội - 2015
ii
iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Lưu Đức Hải, người đã tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND huyện Nghi Lộc – tỉnh Nghệ An đã
giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thực hiện tại địa phương.
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học tự
nhiên cùng các thầy, cô giáo đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi
trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những đồng nghiệp tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Vinh đã tạo điều kiện về thời gian cũng như tham khảo tài liệu để hoàn thành
luận văn này. Đồng thời cảm ơn đến gia đình đã động viên tinh thần trong quá trình
thực hiện luận văn này.
Hà Nội, ngày …. tháng 2 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Ngọc Dung
iv LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu
TÀI
NGHIÊN
CỨU 1
2.
MỤC
TIÊU
CỦA
ĐỀ
TÀI 2
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1.
ĐIỀU
KIỆN
TỰ
NHIÊN
CỦA
ĐỘNG
TRỒNG
TRỌT
11
1.2.1. Cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế huyện Nghi Lộc 11
1.2.2. Điều kiện xã hội 12
1.3.
BIẾN
ĐỔI
KHÍ
HẬU
VÀ
CÁC
BIỂU
HIỆN
CỦA
BIẾN
VÀ
TỔN
THƯƠNG
DO
BIẾN
ĐỔI
KHÍ
HẬU
ĐẾN
HOẠT
ĐỘNG
TRỒNG
TRỌT 29
1.5.1. Trên thế giới 30
1.5.2. Ở Việt Nam 31
vi
CHƯƠNG 2 34
PHÁP
NGHIÊN
CỨU 34
2.2.1. Phương pháp tiếp cận 34
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3 38
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1.
BIỂU
HIỆN
VÀ
DỰ
BÁO
BIẾN
ĐỔI
KHÍ
HẬU
HUYỆN
CẢM
VỚI
BIẾN
ĐỔI
KHÍ
HẬU
CỦA
HOẠT
ĐỘNG
TRỒNG
TRỌT
TẠI
HUYỆN
NGHI
LỘC,
TỔN
THƯƠNG
HOẠT
ĐỘNG
TRỒNG
TRỌT
TRÊN
ĐỊA
BÀN
HUYỆN
NGHI
LỘC
ĐẾN
NĂM
2030
50
HẬU
TRONG
LĨNH
VỰC
TRỒNG
TRỌT
HUYỆN
NGHI
LỘC 54
3.4.1. Giải pháp cho giai đoạn 2014-2020 54
3.4.2. Giải pháp cho giai đoạn 2020 - 3020 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
I.
KẾT
LUẬN 68
II.
KIẾN
NGHỊ 68
24
Bảng 1.5. Mức tăng nhiệt độ trung bình tỉnh Nghệ An so với thời kỳ 1980-1999 theo
kịch bản phát thải trung bình B2……………………… …… ……………….……25
Bảng
1.
6. Mức thay đổi (%) lương mưa trung bình tỉnh Nghệ An so với thời kỳ 1980-
1999 theo kịch bản phát thải trung bình B2…………………………………………
25
Bảng
1.
7. Nước biển dâng theo k
ịch thải thấp (cm)……………………… …….
2
6
Bảng
1.
8. Nước biển dâng theo k
ịch thải trung bình (cm)……………………
… 2
7
Bảng 1.9. Nước biển dâng theo kịch thải cao (cm)……… …………… ……….27
Bảng
1.
10. Diện tích có nguy cơ bị ngập theo các kịch bản nước biển dâng (% diện
tích)…………………………………………………………………… ………….…2
8
Bảng 3.6. Tổng hợp các phương hướng cải tiến mô hình canh tác ngô thích ứng với
biến đổi khí hậu………………………………………………………… ………… 65
ix DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1. Sơ đồ vị trí huyện Nghi Lộc 4
Hình 1.2. Bãi biển Nghi Lộc…………………………………………. 10
Hình 1.3. Khu du lịch Bãi Lữ………………………………………… 10
Hình 1.4. Hệ thống giao thông nội đồng của huyện Nghi Lộc……… 17
Hình 1.5. Hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuát lúa của huyện Nghi
Lộc
17
Hình 3.1. Cây lúa ở huyện Nghi Lộc 42
Hình 3.2. Cây ngô ở huyện Nghi Lộc 43
Hình 3.3. Cây lạc ở huyện Nghi Lộc 45
Hình 3.4. Cây vừng ở huyện Nghi Lộc 46
Hình 3.5. Trồng rau ở huyện Nghi Lộc 46
NN&PTNT Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
TN&MT Tài nguyên & Môi trường
UNCCD NAP Văn phòng Công ước chống sa mạc hóa
AEZ Phân vùng khí hậu
IRRI Viện nghiên cứu lúa Quốc tế
FAO Tổ chức nông lương thế giới
IPCC Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
UNDP Chương trình phát triển liên hợp Quốc
PRA PP điều tra nông thôn có sự tham gia của người dân
KHKTTV&MT Khoa học khí tượng Thủy văn & Môi trường
0
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiêt của Đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu đang chịu những ảnh hưởng to lớn của biến đổi khí
hậu, ngành nông nghiệp mỗi quốc gia phải đối mặt với nhiều thách thức và đòi hỏi
những giải pháp thích ứng nhằm đảm bảo tình hình sản xuất và an ninh lương thực
[15]. Việt Nam là một trong các quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu [3]. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong 50 năm
qua nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,7
o
C và mực nước biển đã dâng
khoảng 20 cm [3]. Sự gia tăng cường độ của thiên tai và tần suất các hiện tượng thời
tiết cực đoan trong những năm qua đã gây nên những tổn thất lớn về kinh tế, xã hội
[3]. Trước những thách thức từ biến đổi khí hậu, các mục tiêu thiên niên kỷ và sự
phát triển bền vững của quốc gia trong tương lai có khả năng sẽ không đạt được nếu
không có những giải pháp ứng phó kịp thời.
C. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1900 mm, lớn nhất
2.600 mm và nhỏ nhất 1.100 mm. Lượng mưa phân bố không đều và chủ yếu tập
trung vào khoảng cuối tháng 8 đến tháng 10, đây là thời điểm thường xảy ra lũ lụt
(Cổng thông tin điện tử huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Là địa phương nhạy cảm với
biển đổi khí hậu, Nghi Lộc có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thời tiết cực
đoan, xâm nhập mặn và suy thoái đất. Do đó, hoạt động hoạt động trồng trọt tại
Nghi Lộc cần phải được đánh giá và dự báo trước những tác động của biến đổi khí
hậu và đề xuất những giải pháp hiệu quả nhằm đảm bảo phát triển bền vững hoạt
động hoạt động trồng trọt. Nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đến hoạt động trồng trọt tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2013
và đề xuất giải pháp ứng phó cho giai đoạn 2014 - 2030” sẽ cung cấp những dẫn
liệu quan trọng về đánh giá tính nhạy cảm của hoạt động hoạt động trồng trọt và
góp phần đưa ra những giải pháp ứng phó phù hợp cho địa bàn cấp huyện điển hình
tại huyện Nghi Lộc, làm tiền đề cho việc nghiên cứu khả năng áp dụng tại một số
địa phương khác trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và tính tổn thương của hoạt động
trồng trọt tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An giai đoạn 2000 – 2013.
- Dự báo sự thay đổi của các yếu tố khí hậu và khả năng bị tổn thương của hoạt
động sản xuất trồng trọt giai đoạn 2014 – 2030.
- Đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cho sản xuất trồng trọt tại
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2030.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN NGHI LỘC
1.1.1. Vị trí địa lí
5
1.1.2. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng
1.1.2.1. Địa hình
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, địa hình đa dạng, có hướng thấp dần từ
Tây sang Đông và có thể chia thành 2 vùng lớn:
a. Vùng bán sơn địa
Vùng bán sơn địa nằm ở phía Tây và Tây Bắc của huyện có nhiều đồi núi
cao, địa hình chia cắt mạnh bởi những khe suối. Trong vùng tồn tại những vùng
đồng bằng phù sa xen kẽ tương đối rộng, một số hồ đập lớn được xây dựng; nên đây
đồng thời là vùng cung cấp lương thực cho huyện, với diện tích đất tự nhiên khoảng
18.083 ha, chiếm 52% so với tổng diện tích của cả huyện. Vùng bán sơn địa bao
gồm các xã Nghi Lâm, Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Mỹ, Nghi Văn, Nghi
Kiều, Nghi Phương, Nghi Hưng, Nghi Đồng. Vùng này có diện tích khá lớn nhưng
tập trung ít dân cư (khoảng 57.842 người), chiếm 31,4% tổng dân số của cả huyện.
b. Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng nằm ở trung tâm và phía Đông, Đông Nam của huyện, có địa
hình tương đối bằng phẳng, với số lượng nhỏ núi thấp xen kẽ, độc lập, độ cao chênh
lệch từ 0,6- 5,0 m. Tổng diện tích tự nhiên của vùng khoảng 16.686 ha, chiếm 48%
so với diện tích của cả huyện. Do đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng vùng đồng bằng
có thể phân thành 2 phụ vùng:
Phụ vùng đồng bằng thấp hoặc trũng: được cấu thành chủ yếu bằng đất phù sa
của hệ thống sông Cả, có độ cao địa hình từ 0,6- 3,5 m, nguồn nước khá dồi dào.
Đây là vùng trọng điểm lúa của huyện, gồm các xã Nghi Vạn, Nghi Diên, Nghi
Hoa, Nghi Thuận và một phần của Nghi Long, Nghi Tiến, Nghi Yên, Nghi Xá,
Nghi Trung.
Phụ vùng đồng bằng cao: được cấu thành chủ yếu là đất cát biển, có độ cao từ
1,5- 5,0 m, là vùng đất màu của huyện. Phụ vùng bao gồm các xã Nghi Trường,
có nguồn gốc là trầm tích sông, biển và sông biển hỗn hợp, thường được sử dụng để
trồng hoa màu như: lạc, đậu, vừng, khoai, sắn hoặc trồng cây lâm nghiệp.
d) Đất Feralit vàng đỏ vùng đồi:
7
Loại đất này có ở các xã vùng bán sơn địa như Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam,
Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Mỹ, Nghi Đồng với diện tích khoảng 3.852ha chiếm
11,08% tổng diện tích tự nhiên của huyện. Đây là loại đất quan trọng của huyện
dùng để làm vườn, trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp khá tốt.
e) Đất Feralit xói mòn:
Loại đất này phân bố ở các vùng núi cao, nhiều nhất là vùng bán sơn địa, có diện
tích khoảng 7.177,32 ha chiếm 20,64% tổng diện tích. Hiện tại phần lớn đã được
trồng rừng để bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.
f) Đất mặn:
Loại đất này phân bố ở vùng hạ lưu Sông Cấm thuộc các xã Nghi Phương, Nghi
Đồng, Nghi Thuận, Nghi Hoa, Nghi Long, Nghi Xá, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi
Quang và rải rác ở một số xã ven biển. Loại đất này thường bị ảnh hưởng của nước
mặn thuỷ triều với diện tích 977,59 ha chiếm 2,87% tổng diện tích tự nhiên của
huyện. Sau khi xây dựng đập Nghi Quang ngăn mặn giữ ngọt nên một số diện tích
đã cải tạo để trồng lúa và nuôi trồng thuỷ sản.
g) Đất phù sa không được bồi:
Loại đất này có ở các xã vùng Lúa dọc theo hai bên Sông nhà Lê, Sông Cấm diện
tích có khoảng 3.371,33ha chiếm 9,7% tổng diện tích.
(h) Đất cát cũ ven biển:
Loại đất này phân bố hầu hết ở các xã vùng màu, diện tích khoảng 5.911,24 ha
chiếm 17,0% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Đây là loại đất có diện tích lớn
nhất của huyện, đất có thành phần là cát pha, hàm lượng sét thấp, phù hợp cho các
loại rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
i) Đất cồn cát:
Loại đất này có ở tất cả các xã ven biển như Nghi Thịnh, Nghi Xá, Nghi Trường,
+ Gió Đông xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10.
Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn ảnh hưởng bởi luồng gió phơn Tây Nam (gió
Lào), mang đặc trưng của thời tiết đặc trưng vùng Bắc Trung Bộ. Gió phơn ở Nghi
Lộc thường xuất hiện vào tháng 6, 7, 8; gây ra khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng đến
sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân trên phạm vi toàn huyện.
- Những đặc trưng về khí hậu là: Biên độ nhiệt độ giữa các mùa trong năm lớn,
chế độ mưa tập trung vào mùa mưa bão (tháng 8- tháng 10), mùa nắng nóng có gió
Lào khô hanh.
1.1.3.2. Chế độ thủy văn
Nguồn nước mặt: Nghi Lộc có nguồn nước mặt khá dồi dào, bao gồm hệ thống sông
Cấm, sông Lam, Kênh nhà Lê và 11 hồ chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ
lượng
trên 21 triệu m
3
. Nguồn nước mặt đang được sử dụng để phục vụ sản xuất nông
9
nghiệp, thau chua rửa mặn và ngọt hoá cho vùng đất nhiễm mặn hai bên hạ lưu
sông Cấm.
Nguồn nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu địa chất thuỷ văn, nguồn nước ngầm
tồn tại ở 3 tầng nước chủ yếu, có ý nghĩa cho việc cấp nước sinh hoạt và phát triển
kinh tế của Nghi Lộc: tầng chứa nước lỗ hổng Holocene; tầng chứa nước lỗ hổng
Plestocene và các tầng chứa nước khe nứt và khe Karst.
Như vậy, hiện tại và trong tương lai tài nguyên nước có khả năng đáp ứng được cho
sản xuất và phục vụ đời sống sinh hoạt.
1.1.4. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
a) Về tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp của huyện có 9.265,52 ha, chiếm 26,6% diện tích đất tự nhiên
(trong đó rừng sản xuất 3.400,98 ha, rừng phòng hộ 5.864,54 ha). Rừng tập trung
chủ yếu ở các xã vùng bán sơn địa được trồng các loại cây thông, keo, phi lao, bạch
như: Bãi Lữ, Bãi Tiền Phong (Nghi Tiến), Cửa Hiền, Núi Rồng (Nghi Thiết) với
nước và cát sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp và có vị trí thuận
lợi về giao thông. Hiện tại, khu du lịch Bãi Lữ đã hoàn thành đưa vào khai thác và
bước đầu phát huy hiệu quả. Di tích lịch sử văn hoá như Đền thờ Quốc Công
Nguyễn Xí (Nghi Hợp), nhà thờ Phạm Nguyễn Du (Nghi Xuân) và các di tích văn
hoá quốc gia khác
Dọc theo sông Cấm và các xã vùng bán sơn địa như: Nghi Quang, Nghi Hưng, Nghi
Lâm, Nghi Mỹ có nhiều cảnh quan thiên nhiên phù hợp cho việc phát triển du lịch
sinh thái như: cảnh quan vùng nuôi trồng thủy sản kết hợp với các trang trại trồng
cây lâu năm, cảnh quan rừng đồi tự nhiên gắn với các làng nghề thủ công truyền
thống.
1.2. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TRỒNG TRỌT
1.2.1. Cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế huyện Nghi Lộc
- Tăng trưởng kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình hình
phát triển của nền kinh tế. Giai đoạn 2005 - 2012 mặc dù nền kinh tế chịu ảnh
hưởng của tình hình suy thoái kinh tế thế giới, lạm phát, giá cả hàng hoá, vật tư tăng
cao, tình hình mưa bão, rét đậm, rét hại thường xuyên xảy ra, nhưng nền kinh tế
của huyện vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao. Thống kê từ năm 2001 đến
nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện tăng khá nhanh, đạt 12,01%, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch đúng hướng, các ngành thuộc hầu hết các lĩnh vực đều có bước phát
triển.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển theo hướng tích cực, tỷ trọng
công nghiệp - xây dựng trong tổng giá trị gia tăng đã tăng mạnh từ 33,9% năm 2010
lên 42,4% năm 2013; Tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 26,7% năm 2010 lên
12
32,1% năm 2013 và tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư giảm từ 39,4% năm 2010
xuống 25,5% năm 2013.
- Đối với ngành nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2005 đạt 6,34%;
giai đoạn 2006 - 2008 đạt 5,25 %; giai đoạn 2006-2013 đạt 5,1%. Tỷ trọng ngành
+ Thực hiện tốt công tác giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao
động ở các xã phải thu hồi đất phục vụ đầu tư phát triển các dự án của trung ương
và địa phương. Giai đoạn 2001 - 2013, đã tạo việc làm trên 45.000 lao động, năm
2014 (tính đến thời điểm 11/11/2014) huyện đã tạo việc làm mới cho 14.000 lao
động có, trong đó xuất khẩu hơn 3.500 lao động.
- Nhận thức của người lao động sản xuất nông nghiệp về biến đổi khí hậu: trình độ
chuyên môn của lao động dường như chưa có sự thay đổi nào đáng kể nhằm ứng
phó với các tác động từ các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu khi nông nghiệp
(bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) đều chưa có sự gia tăng đáng kể nào về lượng
lao động tham gia đào tạo về chuyên môn để thích nghi với bối cảnh mới. Lao động
khu vực này cũng chưa nhận thức hết được về tác động của biến đổi khí hậu đối với
hoạt động sản xuất nông nghiệp vốn đang là sinh kế chính của khu vực hoặc họ cho
rằng không thể làm gì được hơn khi các rủi ro thiên tai, thời tiết… xảy ra nên chưa
thúc đẩy các hoạt động chuẩn bị trong đó có việc học hỏi, áp dụng các tiến bộ kĩ
thuật mới.
c. Y tế và chăm sóc sức khỏe
Các cơ sở y tế trong huyện được xây dựng mới và nâng cấp, đến nay (năm 2013)
30/30 số xã, thị trấn đã có trạm y tế kiên cố và bán kiên cố, 30/30 xã, thị trấn có bác
sỹ; có 28/30 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế chiếm 93%; số giường bệnh
không kể giường trạm y tế xã/vạn dân đạt 14,5 giường ( tỉnh 22,1 giường ); tỷ lệ bác
sĩ trên 1 vạn dân năm 2007 đạt 3,1 bác sĩ, năm 2013 là 4,8; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng giảm tương ứng từ 36% năm 2000 xuống 18,0% năm 2013; trẻ em
dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin phòng bệnh hàng năm đạt 100%.
Nhìn chung, về mặt y tế, huyện Nghi Lộc có nhiều cố gắng và đã đạt được nhiều
kết quả khả quan tuy nhiên do thiếu kinh phí đầu tư cộng với các tồn tại cố hữu