CHƯƠNG 2. TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
2.1 Khái quát chung về tính dễ bị tổn thương
2.1.1 Khái niệm và định nghĩa
Tínhdễ bịtổn thương (Vulnerability)là một khái niệm khá trừu tượng, được đề cập
trong rất nhiều tài liệu và chưa c thống nhất. Tính dễ bị tổn thương (TDBTT) bao
hàm nhiều vấn đề, từ các biểu hiện vật lý (Mitchell, 1989; Schneider và Chen,
1980; Barth và Titus, 1984), kinh tế, xã hội và tài nguyên (Susman, O’Keefe, và
Wisner 1983; Timmerman, 1981; Cannon, 1994); mối quan hệ của nơi xảy ra tai
biến với hệ thống xã hội (Dow 1992; Cutter 1996, 2003),... Cụ thể, một số định
nghĩa về TDBTT điển hình như sau:
·
TDBTT là một đe dọa đến cộng đồng, bao gồm không chỉ cơ sở vật chất của
cộng đồng đó mà còn cả đặc tính sinh thái, khả năng ứng phó với các tác động của
cộng đồng vào mọi thời điểm (Gabor, 1979).
·
TDBTT là mức độ ứng phó với tai biến của một hệ thống (tự nhiên - xã hội,
môi trường...). Mức độ ứng phó của hệ thống đối với tai biến được coi là khả năng
phục hồi (Resilience) của hệ thống (Timmerman, 1981).
·
TDBTT là khả năng nguy hiểm hay hứng chịu những bất lợi của cá nhân hay
một nhóm người do tác động của tai biến. Tính tổn thương phụ thuộc vào độ rủi ro
và khả năng giảm thiểu tai biến của cộng đồng (Cutter, 1993).
·
TDBTT là sự mất an toàn của cá nhân hay cộng đồng khi phải đối mặt với
sự thay đổi của môi trường (Moser, 1996).
·
TDBTT là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất (do tai biến) và khả năng
chống chịu (Coping ability) và phục hồi (Clark, 1998).
·
TDBTT là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã
trúc bắt nguồn từ tình hình chính trị và TBDTT bắt nguồn từ các chính sách kinh tế.
Theo đó, TDBTT được coi là sự mất mát/tổn thất do các hiện tượng tự nhiên có
cường độ khác nhau.
·
Theo quan niệm của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (USEPA, 2006) trong
Chương trình đánh giá TDBTT vùng (Regional Vulnerability Assessment
Programme) thì TDBTT của một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ đó dưới tác
động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống. Ví dụ, suy thoái
chất lượng nước mặt và ô nhiễm môi trường khí là căn cứ để nhận biết TDBTT của
hệ môi trường.
·
Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương (The South Pacific
Applied Geo-science Commission - SOPAC, 1999) thì cho rằng tính tổn thương là
khả năng ứng phó và phục hồi của hệ thống đối với các tác động của tai biến.
Liên quan đến khía cạnh BĐKH, nghiên cứu và đánh giá TDBTT đã được đề cập,
thực hiện với nhiều công trình của các giả và tổ chức trên thế giới. Một số khái
niệm TDBTT do BĐKH điển hình có thể kể đến như:
·
TDBTT là khả năng tiềm tàng và sự ảnh hưởng của các tai biến trong từng
bối cảnh cụ thể của xã hội, môi trường sống, BĐKH (RonBenioff, 1996).
·
TDBTT là sự nhạy cảm của hệ thống tự nhiên hay xã hội do những thiệt
hại lâu dài từ BĐKH (IPCC, 1997).
·
TDBTT do BĐKH là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả
năng chống chịu trước những tác động bất lợi (IPCC, 2007).
Như vậy, theo các định nghĩa đã có trước, thì TDBTT gồm 2 yếu tố: 1) mức độ tổn
thất, suy thoái của (hệ thống) và 2) mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của đối
đến hệ thống và do đó làm cho hệ thống tồn tại mà không làm thay đổi về chất
trong cấu trúc hệ thống (Hooling, 1973); là khả năng thích nghi với các hoàn cảnh
đang thay đổi và do vậy đảm bảo tính an toàn của các phương thức sống (Luttrell,
2001); là khả năng của thực thể (con người, tài nguyên, các hệ sinh thái, đới ven
biển,...) để chống lại, phản ứng và phục hồi lại từ những tác động của tự nhiên
(SOPAC, 2004); là mặt đối lập của tổn thương, là khả năng của xã hội hoặc hệ sinh
thái để thích ứng trước những thay đổi lớn hoặc bất ngờ (Adger và cộng sự, 2005;
Allenby và Fink, 2005). Khả năng ứng phó/phục hồi được đánh giá qua các tiêu chí
như độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, giáo dục, mức độ giàu/nghèo của cồng
đồng bị tổn thương, mật độ cơ sở hạ tầng của vùng bị tổn thương, chính sách bảo
vệ, bảo tồn tài nguyên - môi trường,…
2.2 Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương
2.2.1 Cách tiếp cận
Môi trường tự nhiên là hệ thống hỗ trợ cuộc sống cho tất cả hoạt động của con
người, bởi vậy chính sách và hành động quản lý môi trường là nền tảng cho sự
thành công hay thất bại của các nền kinh tế và hệ thống xã hội. Quản lý môi trường
hiện nay có ở cấp cá nhân, trong các dự án và trên cả quy mô toàn cầu thông qua
các hiệp định quốc tế. Quản lý môi trường theo hướng hiện đại đang nỗ lực nâng
cao hành động sử dụng vào bảo vệ tài nguyên bằng cách hạn chế khai thác tự nhiên
và chống suy thoái và ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, ngay cả quốc gia có chính sách tốt về môi trường, cũng có thể dễ bị tổn
thương và thiệt hại do các mối đe dọa tiềm ẩn (điển hình là tác động của biến đổi
khí hậu với các tai biến liên quan như bão, lũ lụt, hạn hán, dâng cao mực nước biển.
Hiện nay, trên thế giới, TDBTT đang là cách tiếp cận để đánh giá một quốc gia phát
triển bền vững hay không.Phân tích TDBTT là công tác của nhiều tổ chức quốc tế
và chương trình nghiên cứu liên quan tới giảm đói nghèo và phát triển bền vững
của FAO; Hội chữ thập đỏ, UNDP, UNEP, WB,...
Ban đầu, TDBTT được tập trung đánh giá mức độ nguy hiểm từ các mối đe dọa tự
sự, 1994-1996), môi trường thay đổi (Adger, 1999). Sau đó, cách tiếp cận đi theo
hướng tổng hợp gồm cả tổn thương về tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội, con
người và môi trường do các tai biến có nguồn gốc từ cả tự nhiên và hoạt động của
con người. Cho đến nay, nghiên cứu TDBTT được chú trọng vào nhiệm vụ tăng
năng lực của cộng đồng, tăng khả năng phục hồi/chống chịu của các hệ sinh thái
qua các đánh giá hiện trạng, dự báo tổn thương của các nhóm cộng đồng, tài
nguyên - môi trường, các ngành kinh tế (Mai Trọng Nhuận và cộng sự, 2006-2010;
Lê Thị Thu Hiền, 2006; Nguyễn Thị Hồng Huế, 2009; Birkman, J. và cộng sự,
2010; Garschagen, M., 2011). Trên cơ sở đó, các giải pháp giảm thiểu thiệt hại tai
biến và ứng phó, thích ứng với các thay đổi môi trường, đặc biệt là BĐKH với các
mối đe dọa gia tăng từ bão, lũ lụt, dâng cao mực nước biển được đề xuất.
2.2.2 Phương pháp đánh giá
Do tính phức tạp, đa ngành và tổng hợp của TDBTT nên phương pháp đánh giá mà
các hướng tiếp cận thường áp dụng là sử dụng bộ chỉ số gồm có các chỉ thị về mức
độ nguy hiểm, tổn thất và khả năng ứng phó, phục hồi. TDBTT được định lượng
trên cơ sở tổng hợp từ nhiều chỉ thị bao gồm nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội,
môi trường, sinh thái,… và cả các vấn đề liên quan tới thể chế trong mối quan hệ
tác động qua lại.
Một số phương pháp đánh giá TDBTT tiêu biểu được biết đến như sau:
Đánh giá TDBTT kinh tế
Đánh giá TDBTT kinh tế được phát triển từ năm 1991, để phân loại sự phát triển
của mỗi quốc gia, UN căn cứ theo nhóm các chỉ tiêu gồm có: tổng sản phẩm quốc
nội (GDP); chỉ số tài sản con người (Human assets index - HAI) và chỉ số tổn
thương kinh tế (Ecomomic Vulnerability Index - EVI). Theo hướng tiếp cận kinh
tế, chỉ số EVI phản ánh mức độ rủi ro cho sự phát triển của một quốc gia bởi các
tác động ngoại sinh, mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào mức độ tác động và khả
năng phục hồi. Chỉ số tổn thương kinh tế (EVI) còn được áp dụng trong Khối thịnh
vượng chung, Ngân hàng phát triển Caribbean để phân tích tổn thương trong các
Nam Thái Bình Dương (SOPAC) và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc
(UNEP), áp dụng cho các quốc gia thuộc các vùng đảo nhỏ (SIDS) từ năm 1999.
Sau đó công trình này được mở rộng và phát triển thành chỉ số tổn thương môi
trường (Environmental Vulnerability Index - EVI). Chỉ số này cung cấp một
phương pháp đánh giá nhanh chóng và chuẩn hóa các đặc trưng tổn thương một
cách tổng thể và kết hợp cả ba khía cạnh “trụ cột” của phát triển là: môi trường,
kinh tế và xã hội. Bởi vậy, EVI ngày càng trở nên quan trọng để có thể định lượng
được TDBTT ở các khía cạnh khác nhau, kể cả mức độ thiệt hại và xây dựng khả
năng ứng phó, phục hồi. EVI là một trong những chỉ số đầu tiên của công cụ quản
lý môi trường theo hướng hiện đại. Quy mô phát triển của một quốc gia là phù hợp
nếu các điều kiện môi trường đi cùng các quyết định quan trọng về chính sách kinh
tế, xã hội và hành vi văn hóa, bởi môi trường là nền tảng của sự sống, hỗ trợ cho hệ
thống con người, đó là một phần đảm bảo sự thành công của phát triển.
Chỉ số EVI được lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học và phát triển bởi sự tham vấn từ
nhiều chuyên gia quốc tế, quốc gia, các nhóm cơ quan và người hưởng lợi. Các nhà
khoa học và quản lý đã lựa chọn được 50 chỉ số dùng để đo lường TDBTT môi
trường, các chỉ số này được tổ hợp vào các nhóm dưới đây:
1.
BĐKH (CC)
2.
Đa dạng sinh học (CBD)
3.
Nước (W)
ngàn người đang phải chịu áp lực căng thẳng về kinh tế và tổn thương xã hội. Chỉ
số tổn thương xã hội ở Tây Ban Nha được xây dựng hàng năm đối với cả người lớn
và trẻ nhỏ.
TDBTT xã hội hiện được phát triển và đánh giá theo hai nội dung cơ bản: 1) thiết
kế các mô hình để diễn tả tổn thương và nguyên nhân gây tổn thương; 2) phát triển
các chỉ thị và chỉ số để xây dựng bản đồ tổn thương mô tả theo thời gian và không
gian. Các khía cạnh về thời gian và không gian của tổn thương được kiểm nghiệm
bằng thực tế. Trong đó, các khía cạnh chủ yếu được đề cập trong đánh giá TDBTT
xã hội: 1) nguyên nhân và thảm họa được xác định ảnh hưởng tới cả quá trình và
cấu trúc xã hội; 2) các nhóm xã hội khác nhau nếu cùng phải hứng chịu một mối
nguy hiểm, nhưng tác động của hiểm họa đến các nhóm là khác nhau do năng lực
ứng xử trước các tác động khác nhau. Đến nay, tổn thương xã hội được tiếp theo
mô hình DPSIR (hình 2.1). Trong đó “con người” là tác nhân trung tâm, các đặc
điểm địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội của các động được xem xét trên phạm vi toàn
cầu, khu vực và quốc gia.Mối đe dọa từ tự nhiên gây ra tổn thương, đặc biệt là mối
nguy hiểm liên quan tới khí hậu (lũ lụt, bão, hạn hán, bệnh dịch,…) tác động đến hệ
thống xã hội (cung cấp lương thực, thực phẩm, cấp nước, y tế), tác động đến con
người (thu nhập và chỗ ở), có thể làm giảm khả năng ứng phó, phục hồi của xã hội
và hệ sinh thái.
Đánh giá TDBTT con người
Theo UNEP (2010), các yếu tố ảnh hưởng tới TDBTT con người và môi trường
gồm có: quy mô dân số và tuổi tác; đói nghèo; y tế; toàn cầu hóa, thương mại và
viện trợ; xung đột; thay đổi cấp độ quản trị và bối cảnh chính trị; khoa học và công
nghệ.
Một trong những chỉ số đánh giá TDBTT con người được xây dựng như: chỉ số an
ninh con người (Human Security Index - HSI) để biểu thị về cơ hội được nhận thức
tình hình kinh tế, môi trường và xã hội. Chỉ số HSI ở quy mô toàn cầu được xây
dựng và phát hành năm 2008 (Hastings, 2008 và 2009b).
đề; 3) là số liệu đầu vào cho các công cụ phân loại, xác định ngưỡng, phân tích
kinh tế và môi trường... để định lượng hóa tính tổn thương. Đánh giá tổn thương
đòi hỏi nguồn cơ sở dữ liệu thống kê từ đa ngành như: tự nhiên (địa lý, địa chất,
thủy văn, hải văn, khí hậu,…); kinh tế - xã hội và môi trường, sinh thái. Ví dụ, đánh
giá TDBTT xã hội yêu cầu thống kê các dữ liệu về dân số, thị trường, xuất nhập
khẩu, GDP và tỷ lệ sản phẩm, thống kê thiệt hại từ các mối đe dọa,…. Đánh giá tổn
thương môi trường (EVI) với 50 chỉ tiêu để định lượng tổn thương từ các số liệu về
BĐKH, đa dạng sinh học, tài nguồn nước, sản xuất nông nghiệp và thủy sản, sức
khỏe con người. Đánh giá chỉ số an ninh con người cần các số liệu thống kê về:
GDP, thuế, tài chính, vay vốn, y tế, giáo dục, truyền thông, phúc lợi xã hội,… Số
liệu kinh tế, xã hội và dân số có thể lấy từ nguồn niên giám thống kê và hoặc bằng
các phương pháp điều tra xã hội học. Số liệu liên quan tới tự nhiên như: khí tượng
thủy văn, BĐKH, tài nguyên, đa dạng sinh học... được đo đạc và quan trắc theo các
trạm khí tượng thủy văn và môi trường, từ các nguồn lưu trữ dữ liệu điều tra cơ bản
của quốc gia và các địa phương.
·
Công cụ phân tích kinh tế - xã hội và môi trường: công cụ này được phát
triển theo nhóm chuyên ngành. Trong phân tích và đánh giá TDBTT kinh tế thường
đánh giá sự bất ổn về sản xuất nông nghiệp, thủy sản, xuất khẩu, tài chính và vay
nợ. Đánh giá về khả năng chống chịu, phục hồi thường dùng các chỉ thị về sự bình
đẳng, chia sẻ tài nguyên, phúc lợi xã hội và trình độ nhận thức.
·
Công cụ phân tích không gian: hệ thông tin địa lý (GIS) đang được phát
triển để xây dựng bản đồ TDBTT. Phân tích không gian và thống kê trong GIS
cùng với kiến thức chuyên ngành có thể giúp cho hướng nghiên cứu TDBTT ngày
càng sâu rộng hơn về các hiện tượng khí tượng, thủy văn, địa vật lý, kinh tế - xã
hội, môi trường,…trong mối liên hệ và các tác động với con người. Ở Việt Nam,
các công cụ GIS đã và đang sử đểphân tích, xử lý, lưu trữ số liệu khi đánh giá
· Xếp thứ tự tai biến dựa vào mức độ nghiêm trọng của tai biến, ô nhiễm môi
trường (cường độ, quy mô, tần suất, mức độ gây hại).
Bước 2: Phân tích tai biến
·
Xác định vùng rủi ro của mỗi tai biến trên bản đồ tai biến.
·
Tính điểm cho các vùng rủi ro do tai biến.
Bước 3: Phân tích các cơ sở hạ tầng quan trọng
· Xác định và mô tả các đối tượng bị tổn thương: khu vực dân cư (nhà ở, trường
học, bệnh viện và trạm xá), cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông, hệ thống thông tin
liên lạc...) trên bản đồ tai biến và các thông tin liên lạc kèm theo (tên, loại, địa
chỉ...).
· Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương của mỗi cơ sở đó với tác động của các tai
biến khác nhau.
Bước 4: Phân tích xã hội
· Xác định những vùng (đối tượng) cần sự quan tâm đặc biệt khi tai biến, ô
nhiễm môi trường, sự cố tràn dầu xảy ra - vùng có khả năng ứng phó với tai biến
thấp.
· Xác định khu vực giao nhau giữa các vùng cần sự quan tâm đặc biệt với các
vùng rủi ro cao.
Bước 5: Phân tích kinh tế
·
Xác định các lĩnh vực kinh tế cơ bản và các trung tâm kinh tế.
·
Hình 2.2 Mô hình đánh giá TDBTT tổn thương (Turner, 2003)
Bảng 2.1 Dữ liệu và các hợp phần đánh giá chỉ số an ninh toàn cầu
Dữ liệu đầu vào / các trường chỉ thị
Hợp phần
Thu nhập:
Chỉ số kinh tế
1.
GDP
2.
Hệ số Gini
Bảo về tài chính trước các thảm họa:
3.
Dự trữ ngoại hối
4.
Nợ nước ngoài (% GDP)
5.
Số điện thoại di động / người
Giáo dục và
quyền thông tin:
Chỉ số xã hội
10. Số người dùng Internet/ số dân
Chỉ số tự do báo chí
Chỉ số khoảng cách giới (tỷ lệ; tôn giáo, dân tộc, độ tuổi)
Chỉ số hòa bình toàn cầu
Số lượng tù nhân
Đa sắc tộc:
Chỉ số xã hội
Hòa bình: Chỉ số
xã hội
Quy mô khủng bố
% số người suy dinh dưỡng
An ninh lương thực
Chỉ số đói nghèo
Thực phẩm nhập khẩu so với xuất khẩu và GDP
An ninh lương
thực: Chỉ số xã
hội
Vxiyj = f (aRxiyj, bPxiyj, cCxiyj)
Trong đó: a, b, c là các giá trị trọng số mức độ quan trọng; xi ,yj là vị trí địa lý của
mỗi pixel (ô lưới).
Rxiyj, Pxiyj, Cxiyj được xây dựng từ bộ chỉ thị và các phương pháp phân tích chuyên
ngành. Cụ thể:
Rxiyj: mức nguy hiểm do các yếu tố gây tổn thương được đánh giá từ các tai biến
có nguồn gốc tự nhiên và con người, được chia thành các nhóm:
·
Tai biến có nguồn gốc từ khí tượng thủy văn và các yếu tố có nguy cơ làm
cường hóa tai biến;
·
Tai biến địa động lực và các yếu tố có nguy cơ làm cường hóa tai biến;
·
Tai biến địa hóa và các yếu tố có nguy cơ làm cường hóa tai biến;
·
Tai biến liên quan đến BĐKH và nước biển dâng.
Pxiyj: mật độ đối tượng chịu tai biến được xác định theo nguy cơ chịu ảnh hưởng
từng loại tai biến và được nhóm thành:
·
Dân số: mật độ dân số, phân bố dân cư, độ tuổi;
·
Thu thập thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu.
·
Xử lý và phân loại thông tin theo ba hợp phần: các yếu tố gây tổn thương,
các đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó, phục hồi và thích ứng.
·
Xây dựng bộ chỉ tiêu, chỉ thị đánh giá TDBTT cho khu vực nghiên cứu.
·
Đánh giá mức độ nguy hiểm do các yếu tố gây tổn thương, mật độ đối tượng
bị tổn thương và khả năng ứng phó, phục hồi và thích ứng. Sử dụng các công cụ
phân tích kinh tế, xã hội, không gian để xây dựng các lớp thống tin chỉ tiêu của mỗi
nhóm. Sử dụng kiến thức chuyên gia hoặc các mô hình xác xuất thống kê để xác
định giá trị ngưỡng, giá trị trọng số ảnh hưởng của mỗi yếu tố theo mục tiêu.
·
Đánh giá tổng hợp mức độ dễ bị tổn thương
Hình 2.4 Quy trình tổng quát đánh giá tính dễ tổn thương ở Việt Nam (Mai Trọng
Nhuận và cộng sự, 2007)
2.4 Một số kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương
2.4.1 Trên thế giới
Với cách tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực, các nghiên cứu TDBTT trên thế giới đã và
đang có những đóng gópđáng kể trong quy hoạch,ứng phó khẩn cấp đối với các tai
biến, thiếu hụt lương thực, nạn đói, phát triển kinh tế, làm cơ sở cho đánh giá môi
trường chiến lược và quy hoạch cơ sở hạ tầng, hình thành các chương trình ưu tiên
và bảo tồn tài nguyên – môi trường biển, đô thị, hoạch định chính sách, định hướng
Đến năm 2003, trong nghiên cứu TDBTT, Cutter đã xây dựng được bộ chỉ số đánh
giá TDBTT tổn thương xã hội (SoVI - Social Vulnerability Index) cho một vùng
cụ thể. Bộ chỉ số SoVI gồm 42 tham số kinh tế xã hội, nhân khẩu và môi trường để
xác định mức khả năng phục hồi sau tai biến của các khu vực ở Hoa Kỳ (hình 2.5).
Chất lượng cuộc sống của con người (loại và kiến trúc nhà ở, cơ sở hạ tầng,…);
môi trường tác động cũng rất quan trọng để hiểu rõ tổn thương xã hội, đặc biệt là
những đặc điểm ảnh hưởng đến khả năng thiệt hại về kinh tế, thiệt hại về người do
tai biến thiên nhiên. Chính vì vậy, bộ chỉ tiêu được xây dựng có vai trò quan trọng
trong kiểm soát những biến đổi trong tổn thương xã hội về cả khía cạnh không gian
và thời gian.
Trong các nghiên cứu của SOPAC (2004), bộ chỉ số (gồm 50 chỉ số) về tổn thương
môi trường (EVI – Environmental Vulnerability Index). Đối với từng yếu tố gây
tổn thương cho môi trường đều được định lượng và đề xuất biện pháp giảm thiểu
tổn thương. Chỉ số tổn thương môi trường là cơ sở để đánh giá phúc lợi xã hội và
được thiết kế để đánh giá cả TDBTT kinh tế và xã hội, cung cấp cái nhìn sâu rộng
vào các quá trình tiêu cực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc
gia. Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa lớn cho các nước đang phát triển
thuộc nam Thái Bình Dương, đồng thời là dữ liệu quan trọng phục vụ phát triển
kinh tế bền vững tại khu vực, trong đó có Việt Nam (hình 2.6).
Trong nghiên cứu của Romieu (2010), TDBTT hệ thống xã hội - môi trường tại khu
vực Bắc Kinh (Trung Quốc) đã đánh giá bằng xây dựng các chỉ số thông qua việc
định lượng các yếu tố tai biến và khả năng phục hồi của hệ thống xã hội, sinh thái.
Kết quả nghiên cứu có ứng dụng quan trọng cho phát triển bền vững và bảo vệ, sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Trong các công trình nghiên cứu TDBTT liên quan đến BĐKH có thể kể đến: các
công trình nghiên cứu TDBTT cả đới ven bờ do dâng cao mực nước biển (Thieler,
E. Robert và cộng sự, 2001). Trong đó đã xây dựng được chỉ số tổn thương của đới
bờ (CVI – Coastal Vulnerability Index) gồm 6 chỉ số: địa mạo, tỉ lệ thay đổi đường
Trong phần lớn các kết quả nghiên cứu kể trên, phương pháp viễn thám và GIS có
vai trò rất quan trọng và đã được các nhà nghiên cứu TDBTT áp dụng để xây dựng
hệ thống cơ sở dữ liệu về các chỉ tiêu đánh giá TDBTT, phân tích không gian để
thành lập các loại bản đồ mức độ tổn thương.