BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
TỈNH HÀ TĨNH
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
VÀ CÁC ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN TỈNH HÀ TĨNH
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 12)
T Ỉ N H H À T Ĩ N H
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU v
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ
TĨNH 6
1.1.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 6
1.1.1.Vị trí địa lý 6
1.1.1.Địa chất, địa hình 7
1.1.2.Đặc điểm khí hậu 8
1.1.3.Đặc điểm thủy văn 11
1.1.4.Đặc điểm thổ nhưỡng 12
1.2.ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 12
1.2.1.Dân số và lao động 12
1.2.2.Kinh tế - xã hội 13
1.2.3.Điều kiện xã hội 19
CHƯƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐIÊU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 23
4.2.2.Tác động của biến đổi khí hậu đến xây dựng 40
4.2.3.Tác động của biến đổi khí hậu đến giao thông vận tải 41
4.3.TỔN THƯƠNG TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG
DÂN SINH, CÁC QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI, ĐA DẠNG
SINH HỌC VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI 42
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
ii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Nhiệt độ không khí trung bình trên khu vực tỉnh Hà Tĩnh 8
Bảng 1.2. Nhiệt độ không khí bình quân năm 9
Bảng 1.3. Lượng mưa tại các trạm khí tượng thủy văn Hà Tĩnh 9
Bảng 1.4. Lượng mưa bình quân năm 9
Bảng 1.5. Độ ẩm không khí bình quân năm 10
Bảng 1.6. Lượng bốc hơi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 10
Bảng 1.7. Số giờ nắng bình quân các năm 10
Bảng 1.8. Cơ cấu các ngành kinh tế qua một số năm 14
Bảng 3.9. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch
bản phát thải thấp (B1) 28
Bảng 3.10. Mức tăng nhiệt độ trung bình (0C) so với thời kỳ 1980-1999 ở các vùng
khí hậu của Việt Nam theo các kịch bản phát thải thấp (B1) 28
Bảng 3.11. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch
bản phát thải trung bình (B2) 29
Bảng 3.12. Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực Bắc
Trung Bộ theo các kịch bản phát thải trung bình (B2) 29
Bảng 3.13. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch
bản phát thải cao (A2) 29
Bảng 3.14. Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực Bắc
Trung Bộ theo kịch bản phát thải cao (A2) 29
Bảng 3.15. Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản
trước đây vì vậy công tác phòng tránh và ứng phó càng trở nên rất khó khăn.
Là một tỉnh miền Trung, nhưng nếu so với các tỉnh, địa phương khác thì Hà
Tĩnh có điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt, và chịu tác động rất mạnh của biến đổi khí
hậu, một phần là do tỉnh có chiều rộng hẹp nhất cả nước nhưng chiều dài đường bờ
biển của tỉnh dài tới 137km. Ngoài ra chưa kể đến hạn hán, bão lũ tại đây rất khắc
nghiệt, và nằm trong khu vực có mực nước biển dâng cao nhất cả nước.
Để xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp cho
tỉnh Hà Tĩnh thì việc đánh giá tác động, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tỉnh Hà
Tĩnh trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay là một việc làm quan trọng và cần thiết.
Nghiên cứu đánh giá tác động và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tỉnh Hà
Tĩnh được trình bày qua 4 chương:
Chương 1: Đặc điểm điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh
Chương 2: Tác động của biến đổi khí hậu đến điều kiện tự nhiên và đời sống xã
hội
Chương 3: Kịch bản biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến tỉnh
Hà Tĩnh
Chương 4: Tổn thương tài nguyên môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
v
CHƯƠNG 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ
TĨNH
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, với diện tích tự nhiên 602649,96 ha, tọa độ
địa lý: 17054’ – 18038’ vĩ độ Bắc, 105011’ – 106036’ kinh độ Đông. Ranh giới phía
Bắc giáp với tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp với tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp với
tỉnh Boolikhamxay và KhămMuộn của Lào (với 170km biên giới Quốc gia) và phía
Đông giáp với biển Đông với chiều dài bờ biển hơn 137km.
theo các triền sông lớn của hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ. Các thung
lũng này cũng là vùng sinh sống của cư dân các dân tộc. Sản xuất của dân cư trong
vùng là hỗn hợp nông lâm nghiệp theo phương thức khai thác tận dụng tự nhiên do
vậy năng suất cây trồng và năng suất lao động thấp. Mức thu nhập của dân thấp do
chưa được đầu tư thích đáng, cơ sở vật chất nghèo nàn, hạ tầng cơ sở yếu kém. Vùng
này có tiềm năng phát triển cây công nghiệp ngắn, dài ngày, cây ăn quả, nghề rừng và
chăn nuôi gia súc.
1.1.1.2. Vùng trung du và bán sơn địa
Đây là vùng chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống vùng đồng bằng. Vùng này
chạy dọc phía Tây Nam đường Hồ Chí Minh bao gồm các xã vùng thấp của huyện
Hương Sơn, các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc ven Trà Sơn, của các huyện
Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh.
Địa hình tại đây có đặc điểm là các đồi trung bình và thấp xen lẫn với đất
ruộng. Đất đai không bằng phẳng, hệ thực vật chủ yếu là cây lùm bụi, cây công
nghiệp, rừng trồng và trảng cỏ. Sản xuất nông nghiệp chính là cây lúa nước, cây màu,
7
cây công nghiệp ngắn, dài ngày và chăn nuôi gia súc, trồng cây lâm nghiệp. Trong
vùng bước đầu đã có sự đầu tư trong sản xuất các loại cây như lạc, đỗ, chố, cây ăn quả.
Các sản phẩm chăn nuôi như trâu, bò, lợn, dê, hươu. Đây là vùng có tiềm năng đất đai
cho phép sản xuất nhiều sản phẩm nông sản hàng hóa tập trung có thể đầu tư xây dựng
các trang trại thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh.
1.1.1.3. Vùng đồng bằng
Vùng này chạy dọc giữa đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 1A theo chân núi Trà
Sơn và vùng ven biển bao gồm các xã vùng giữa của huyện Đức Thọ, Can Lộc, thị xã
Hồng Lĩnh, Thạch Hà, TP. Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh.
Địa hình toàn vùng tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các
sông phù sa biển trên các vỏ phong hoá Feranit hay trầm tích biển. Đây là vùng dân cư
đông đúc, sản xuất chủ yếu là cây lúa nước, lạc, đậu, đỗ, khoai lang, chăn nuôi gia súc,
gia cầm. Ngoài ra còn có các nghề phụ như dệt chiếu, dệt vải, đan lát, làm mộc.
1.1.1.4. Vùng ven biển
Hà Tĩnh
17.9
18.
8
20.9 24.7 27.9 30.0 29.8 28.9 27.1 24.7 21.8 18.7
Kỳ Anh
18.1
19.
0
21.6 24.8 28.0 30.1 30.1 29.0 27.1 24.8 22.0 18.9
Hương
Khê
18.0
19.
1
21.5 25.2 27.4 29.5 29.5 28.2 26.5 24.1 21.4 18.4
Hương
Sơn
17.7
18.
9
21.2 24.7 27.5 29.0 29.3 28.3 26.4 24.3 21.2 18.1
Nguồn:[Trung tâm khí tượng thủy văn Hà Tĩnh]
Bảng 1.2. Nhiệt độ không khí bình quân năm
Đơn vị:
0
C
Trạm Hương
Khê
2004 2005 2006 2007 2008 2009
2004 2005 2006 2007 2008 2009
Bình quân năm 1924.3 1724.1 1966.5 3092.5 2647.2 2159.8
Nguồn:[Cục Thống Kê tỉnh Hà Tĩnh - 2009]
1.1.2.3. Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 85%. Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các
tháng có gió Tây khô nóng - tháng VII và đạt 70%. Độ ẩm cao nhất xảy ra vào các
tháng cuối mùa đông, khi có mưa phùn hoặc các tháng mùa mưa và đạt 90 ÷ 92%.
Bảng 1.5. Độ ẩm không khí bình quân năm
Đơn vị: %
Trạm Hương
Khê
2004 2005 2006 2007 2008 2009
Bình quân năm 85.17 84 84 72 70 66
Nguồn:[Cục Thống Kê tỉnh Hà Tĩnh - 2009]
1.1.2.4. Bốc hơi
Bốc hơi Piche trung bình năm đạt 800mm. Lượng bốc hơi lớn xảy ra vào tháng
VII với lượng bốc hơi trung bình tháng đạt từ 180 ÷ 200mm. Tháng II có lượng bốc
hơi nhỏ nhất đạt từ 27 ÷ 34mm.
Bảng 1.6. Lượng bốc hơi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Đơn vị: mm
Tháng
Trạm
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Hà Tĩnh 33.9 27.6 37.9 55.1 94.4 127.7 137.1 100.8 66.9 55.1 52.6 44.9
Kỳ Anh 36.0 30.3 42.0 60.5 106.0 171.4 183.5 132.2 69.5 61.5 56.5 48.8
Hương
Khê
36.3 31.6 50.4 69.7 105.8 131.3 152.3 101.3 62.7 47.6 45.2 39.9
Hương
15 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9 m
3
/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã
phục vụ tưới được 47.737 ha/vụ. Tuy nhiên việc sử dụng nước phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ
lụt mùa mưa.
Nước ngầm ở Hà Tĩnh tuy chưa có số liệu điều tra toàn diện nhưng qua các số
liệu đã thu thập được cho thấy mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc địa hình và lượng
mưa trong mùa. Thông thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông,
miền trung du và miền núi nước ngầm thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, ảnh
hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Về chất lượng nước ở Hà
Tĩnh nhìn chung khá tốt, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng
như sinh hoạt. Riêng đối với vùng đồng bằng ven biển thường bị nhiễm mặn do thuỷ
triều, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân, vì vậy cần kiểm tra độ mặn
nước sông trước khi bơm tưới cho cây trồng.
Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khoáng ở Sơn Kim huyện Hương Sơn, vị trí
thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo rất có điều kiện để
phát triển thành một khu du lịch dưỡng bệnh.
11
1.1.4. c im th nhng
Kết quả nghiên cứu của viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã xác định đ-
ợc đất Hà Tĩnh có 9 nhóm (Major soil group), 15 đơn vị đất (soil units) và 63 đơn vị đất
phụ (Sub-Soil units).
Trong 9 nhóm: nhóm đất xám có diện tích lớn nhất: 361.980ha (59,77% diện
tích tự nhiên), nhóm phù sa có 94.934ha (15,68%), nhóm đất cát có 36.237ha (5,98%),
nhóm đất phèn có 10.733ha (1,77%), nhóm đất mặn có 5.593ha (0,92%), nhóm đất
glây có 13.446ha (2,22%), nhóm đất có tầng sét loang lổ có 2.775ha (0,46%), đất đá
tơi có 4.223ha (0,7%) và đất tầng mỏng có 29.393ha (4,85%).
Đất tỉnh Hà Tĩnh có độ dốc khá cao, diện tích đất <15
0
, cao hn trung bỡnh ton vựng Bc Trung b (203
ngi/km
2
), nhng thp hn trung bỡnh c nc (246 ngi / km
2
).
Dõn s gia tng ó lm cho nhu cu v t , t xõy dng, t canh tỏc cõy
lng thc, thc phm tng theo to nờn sc ộp rt mnh n ti nguyờn t vn ó
hn hp ca tnh. Dõn c phõn b khụng ng u: tp trung cao khu vc ng bng
phớa ụng Bc tnh, cũn dc ng H Chớ Minh dõn c tha tht. TP. H Tnh cú
mt dõn s 1389 ngi/ km
2
, trong khi huyn Hng Khờ mt dõn s ch cú 83
ngi trờn km
2
, V Quang 52 ngi trờn km
2
12
Lao động trong độ tuổi khoảng 702 nghìn người, chiếm 51,0% dân số. Lao
động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 511,5 ngàn người, trong đó nông - lâm
nghiệp chiếm gần 83%; công nghiệp - xây dựng 7%, còn lại khoảng 10,0% làm việc
trong khu vực dịch vụ. Năm 2005 tỷ lệ lao động thành thị không có việc làm 3,74%.
Năm 2004 tỷ lệ lao động qua đào tạo dưới mọi hình thức chỉ khoảng 20%, thấp hơn so
trong bình cả nước (25%).
Hình 1.2. Tỷ lệ dân số thành thị và nông thôn
1.2.2. Kinh tế - xã hội
1.2.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2000-2005, Hà Tĩnh đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức
nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
Tốc độ tăng GDP khá cao, nông nghiệp phát triển vững chắc. Cơ cấu kinh tế dịch
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Cơ cấu GDP % 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1. Nông lâm thủy sản %
51,31 49,89 49,1 48,02 47,02 43,13
2. Công nghiệp xây dựng %
13,45 14,05 15,46 18,05 19,84 22,45
3. Dịch vụ %
35,24 36,06 35,44 33,93 33,14 34,42
Khu vực thủy sản nông lâm có tỷ trọng giảm đều trong cơ cấu GDP của tỉnh từ
51,31% năm 2000 xuống còn 43,13% năm 2005. Ngược lại tỷ trọng của khu vực công
nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ trong GDP tăng dần, tương ứng tăng từ 13,45%
và 35,24% năm 2000 lên 22,45% và 34,42% năm 2005.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa và thay đổi đều ở cả ba khu vực theo hướng dần từng bước hình thành nên cơ cấu
Dịch vụ - Công nghiệp - Nông lâm thủy sản. Tuy nhiên mức độ chuyển dịch kinh tế
hiện nay diễn ra còn chậm, chưa có bước đột phá.
1.2.2.1. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a. Nông – lâm – ngư – diêm nghiệp
• Nông nghiệp
Trong những năm qua nông nghiệp là ngành sản xuất chính, góp phần ổn định
đời sống nhân dân trong tỉnh. Năm 2005, GDP nông nghiệp là 2032 tỷ đồng, chiếm
45,9% tổng GDP cả tỉnh, gấp 2,32 lần năm 1995, nhưng còn thấp hơn so với chỉ tiêu
này của cả nước (3,11 lần).
Tăng sản lượng một số cây trồng vật nuôi chính:
Trong giai đoạn 2001-2005, sản lượng lương thực tăng trên 10%, do tăng diện
Hà Tĩnh là tỉnh có ngư trường rộng với 137 km bờ biển, có điều kiện khá thuận
lợi cho phát triển thuỷ sản trong những năm gần đây. Nhưng có những hạn chế như
bão, lũ, nguồn lợi hải sản ven bờ cạn kiệt, suất đầu tư cho nuôi trồng và đánh bắt xa bờ
lớn.
Nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh phát triển khá cân đối từ nâng cấp cơ sở hạ tầng
nuôi trồng như hồ ao, đến phát triển các cơ sở cung cấp con giống.
Diện tích nuôi trồng năm 2004 là 5.400 ha, trong đó nước ngọt 2630 ha; nước
lợ 2.770 ha.
Hiện có 3 trại giống cá cấp 1 và nhiều trại giống cấp 2, 5 trại giống tôm. Năm
2005 chế biến xuất khẩu thuỷ sản đạt 3.600 tấn. Ngoài ra còn có các cơ sở chế biến
nước mắm phục vụ tiêu dùng nội địa.
15
• Lâm nghiệp
Hà Tĩnh là tỉnh có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, trên cơ sở tái trồng rừng ở
những nơi đã khai thác gỗ chỉ còn trảng cỏ và cây bụi. Trong những năm qua, các dự
án trồng rừng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến được thực hiện tốt, góp phần đưa
độ che phủ của rừng tăng nhanh từ 38% năm 2001 lên 43,5% năm 2005, nhưng đóng
góp của ngành vào tăng trưởng kinh tế còn thấp. Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2005
đạt 183,4 tỷ đồng, trong đó dịch vụ lâm nghiệp là 37,6 tỷ đồng, trồng và nuôi rừng:
29,7 tỷ đồng, khai thác gỗ và lâm sản đạt gần 15 tỷ đồng.
- Kinh tế trang trại nông lâm kết hợp. Hiện nay, đã có hơn 1.300 trang trại với
tổng diện tích 12.000 ha chủ yếu là trồng, khoanh nuôi rừng, trồng cây ăn quả và chăn
nuôi. Doanh thu từ trang trại chưa nhiều, đạt khoảng 9 - 10 tỷ đồng, thu hút được
8.700 lao động nhưng còn thấp so với tiềm năng. Số trang trại hoạt động có hiệu quả
còn ít. Hiện chỉ có 23 trang trại đạt tiêu chuẩn theo quy định của bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn.
- Chế biến lâm sản: Bao gồm khai thác chế biến nhựa thông và các cơ sở chế
biến lâm sản. Rừng thông cấp tuổi V và IV vào khoảng hơn 9.000 ha, hàng năm cho
hơn 4.000 tấn nhựa. Có khoảng 200 cơ sở chế biến lâm sản, chủ yếu là xẻ gỗ xây dựng
và đóng đồ mộc dân dụng. Các ngành này tăng trưởng chậm do thiếu nguyên liệu
xuất CN-TTCN trên địa bàn Hà Tĩnh, nhưng có xu hướng giảm. Công nghiệp khai
thác mới được phát triển, có tỷ trọng ngày càng tăng. Công nghiệp sản xuất và phân
phối điện nước chưa phát triển, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị sản xuất công
nghiệp tiểu thủ công nghiệp toàn tỉnh.
Năm 2005 giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến đạt 1081 tỷ đồng, trong
đó sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm 34,3%, sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản
chiếm 16,9%, sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại chiếm 16,4%, sản xuất đồ gia
dụng và bàn ghế chiếm 10,9%, các sản phẩm khác chiếm tỷ trọng nhỏ.
Về mạng lưới công nghiệp tiểu thủ công nghiệp của tỉnh bố trí khá hợp lý, đảm
bảo chi phí quy đổi thấp, trên cơ sở khai thác lợi thế về tài nguyên, gần nguồn nguyên
liệu, gần nơi tiêu thụ, và ở những nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, như nhà máy gạch
Tuynen đã bố trí ở khu mỏ đất sét. Tuy vậy bố trí không gian còn bộc lộ một số hạn
chế: Sản xuất tiểu thủ công nghiệp xen kẽ trong dân vừa gây ô nhiễm môi trường vừa
khó quản lý về chất lượng và tài chính. Vì vậy trong các năm tới, cần xem xét bố trí
nhà máy trong các khu công nghiệp đã được hình thành.
c. Thương mại và du lịch
• Thương mại
Thương mại đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, mặc dù sản
xuất hàng hoá chậm phát triển và sức mua của dân cư còn thấp, số cơ sở và lao động
tham gia làm dịch vụ ngày một tăng, nhưng chủ yếu ở thị xã, thị trấn và một số xã
vùng ven đô thị.
Các trung tâm thương mại của tỉnh đang trong quá trình hình thành, mạng lưới
chợ nông thôn khá phát triển, đảm bảo được nhu cầu trao đổi hàng hóa của người dân.
17
Năm 2000 có 16.548 lao động làm thương mại dịch vụ, bằng 2,86% tổng số lao động
toàn tỉnh. Năm 2005 có khoảng 31.542 lao động, bằng 5,56% tổng số lao động đang
làm việc trong các ngành kinh tế.
Năm 2005, trong tổng mức bán lẻ hàng hoá của các cơ sở nhà nước chiếm
11,8%, còn lại 88,2% là do thành phần kinh tế tập thể, tư nhân và cá thể thực hiện.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, lĩnh vực thương nghiệp còn bộc lộ một số
gấp 3 lần hiện nay. Điều kiện sống của người dân đô thị khá tốt. Bình quân đất ở đô thị
từ 150-250 m
2
/hộ. Tầng cao bình quân của các công trình kiến trúc là 2,2 tầng.
Về cơ sở hạ tầng: có 8/14 đô thị có công trình cấp nước công nghiệp, tổng công
suất 32.000 m
3
/ngày - đêm. Hệ thống giao thông chính có khoảng 36 km, trong đó
80% đã được nhựa hóa. Tất cả các đô thị đều được cấp điện cho sinh hoạt và sản xuất
tốt. Dịch vụ bưu chính viễn thông ở các đô thị thuận lợi.
Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn:
Cũng như các vùng nông thôn khác ở miền Bắc Việt Nam, dân cư nông thôn
tỉnh Hà Tĩnh đã được hình thành từ rất lâu đời, đến nay đã định hình thành khu quần
cư là các làng, bản, thôn xóm. Đơn vị quản lý của các thôn bản là các hộ gia định, mỗi
hộ đều có diện tích nhà ở, sân, công trình phụ, chuồng trại gia súc, giếng nước, vườn
cây, ao cá.
Bình quân đất ở nông thôn toàn tỉnh là 53,52 m
2
/người, 231,6 m
2
/hộ.
Đặc điểm phân bố của các khu dân cư nông thôn như sau:
- Ở vùng đồi núi khu dân cư thường phân bố ở địa hình ven chân đồi hoặc các
đồi thấp thoải có độ dốc dưới 15
0
.
- Ở vùng đồng bằng ven biển, dân cư được phân bố trên các dải cồn cát cao
nằm song song với bờ biển xen kẽ các khu vực sản xuất nông nghiệp, hoặc phân bố
dọc theo các trục đường giao thông chính và ven các con sông lớn của tỉnh.
Do đặc điểm sản xuất của vùng nông thôn nên việc phát triển mở rộng khu dân
Số học sinh trên 1 vạn dân tăng liên tiếp, năm sau cao hơn năm trước. Năm học
1994-1995, bình quân toàn tỉnh có 2.434 học sinh/vạn dân tăng lên 2.706 học sinh/vạn
dân năm học 2004-2005.
Ngành giáo dục đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Hà Tĩnh là tỉnh sớm
đạt tiêu chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ so với cả nước,
ngay từ năm 1999, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở năm 2003.
Về chất lượng giáo dục: Tỷ lệ học sinh đi học ở các cấp học đều cao hơn trung
bình cả nước. Tỷ lệ giáo viên trên lớp tính chung cho cả tỉnh năm học 2004-2005, ở
tiểu học là 1,28 (quy định là 1,15); ở trung học cơ sở là 1,94 (quy định là 1,85); ở
trung học phổ thông là 1,83 (quy định là 2,1). Học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học
đạt tỷ lệ cao.
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, giáo dục đào tạo vẫn
còn một số khó khăn như:
Chương trình và trang thiết bị đào tạo còn lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển kinh tế về lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Mạng lưới trường cần mở rộng để đáp ứng cho nhu cầu học tập ngày càng tăng.
Đối với địa hình các xã vùng núi, khoảng cách đến trường của học sinh còn xa,
cần xem xét lại quy mô, địa điểm trường lớp cho phù hợp.
1.2.3.4. Y tế
20
Mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe phát triển khá hoàn chỉnh, từ tỉnh xuống xã,
đáp ứng được nhu cầu chữa trị bệnh cho nhân dân trong tỉnh. Đội ngũ cán bộ y tế được
tăng cường, năm 2005 bình quân 4,29 bác sỹ/1 vạn dân. Hiện nay, 34,8% số xã có bác
sỹ, với trên 700 cán bộ y tế đang công tác tại các thôn bản.
Cơ sở vật chất ngành y tế được củng cố. Toàn tỉnh có 3.521 giường bệnh, trong
đó số giường bệnh viện là 1890 giường, bằng 53,6% tổng số giường. Bệnh viện đa
khoa tỉnh được xây dựng mới với 450 giường bệnh, có đầy đủ các khoa từ lâm sàng
đến cận lâm sàng, trang thiết bị ngày một đầy đủ và hiện đại hơn.
Công tác KHHGĐ được triển khai, thực hiện tốt. Bằng nhiều hình thức, biện
pháp giáo dục, tăng cường truyền thông, và dịch vụ phù hợp đã tạo nhiều chuyển biến
tăng cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Năm 2004 số máy điện thoại là 3,2
máy/100 dân, cao hơn 10 lần so với năm 1995. Số bưu cục bình quân km2 là 1,1 cao
hơn trung bình toàn vùng. Đây là sự phát triển tích cực, tuy nhiên, mật độ sử dụng điện
thoại trên toàn tỉnh vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn vùng Bắc Trung bộ và phân
bố không đồng đều.
Xây dựng cơ sở hạ tầng đã đạt được nhiều thành tựu, song còn bộc lộ một số
hạn chế chủ yếu như: Đầu tư xây dựng còn dàn trải. Huy động nội lực trong dân còn
hạn chế do thu nhập của nhân dân còn thấp. Với cơ chế đầu tư như hiện nay, tỉnh thiếu
chủ động. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn thấp. Các dự án đầu tư nhỏ, thiếu
các dự án đầu tư lớn có đủ khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
22
CHƯƠNG 2.
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐIÊU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề môi trường bức
xúc trên phạm vi toàn cầu, bao gồm: sự biến đổi khí hậu (BĐKH), suy thoái đa dạng
sinh học (ĐDSH), suy thoái tài nguyên nước ngọt, suy thoái tầng ôzôn, suy thoái đất
và hoang mạc hóa, ô nhiễm các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy
Những vấn đề này có mối tương tác lẫn nhau và đều ảnh hưởng trực tiếp tới
cuộc sống con người cũng như sự phát triển của xã hội. Trong đó, dù ở mức độ quốc
gia hay toàn cầu thì BĐKH luôn được xem là vấn đề môi trường nóng bỏng nhất và
hơn thế nữa còn được coi là một vấn đề quan trọng tác động tới tiến trình phát triển
bền vững hiện nay trên toàn thế giới.
Sau cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm, cho đến nay, các nhà khoa học đã có
sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển
kinh tế - xã hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công
nghiệp, giao thông, nông - lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí gây
hiệu ứng nhà kính (N
2
O, CH
hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn
thế giới ước tính khoảng 7.000 tỷ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt
hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5-20% GDP, còn nếu chúng ta có những ứng phó tích
cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng
1% GDP.
Tuy nhiên, BĐKH, ở những mức độ nhất định và những khu vực nhất định
cũng có những tác động tích cực đó là tạo cơ hội để thúc đẩy các nước đổi mới công
nghệ, phát triển các công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường và các hoạt
động R&D nói chung có liên quan; Phát triển trồng rừng để hấp thu CO2 giảm phát
thải khí nhà kính; Ở một số nước ôn đới, khi nhiệt độ tăng lên sẽ thuận lợi hơn để phát
triển nông nghiệp; Năng lượng để sưởi ấm cũng được tiết kiệm hơn.
2.1. ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN VIỆT NAM
2.1.1. Tác động của biến đổi khí hậu tới tài nguyên nước
Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước với tổng bình quân đầu
người cả nước mặt và nước ngầm trên phạm vi lãnh thổ là 4.400 m
3
/người/năm (so với
bình quân thế giới là 7.400 m
3
/người, năm). Trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước,
Việt Nam có nhiều yếu tố không bền vững.
Sự suy thoái tài nguyên nước ngày một tăng về cả số lượng và chất lượng do
nhu cầu về nước ngày một lớn, khai thác, sử dụng bừa bãi, thiếu quy hoạch và đặc biệt
là sự suy giảm đến mức báo động của rừng đầu nguồn.
Dưới tác động của BĐKH, khi nhiệt độ trung bình tăng, độ bất thường của thời
tiết, khí hậu và thiên tai gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước ngọt ở các
khía cạnh sau:
- Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông đều tăng. Bên cạnh đó, lượng bốc hơi
nước của các thủy vực (hồ ao, sông, suối ) cũng tăng. Hậu quả dẫn đến là sự suy thoái