ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ NGỌC QUÝ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU
CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Quyết
Hà Nội -2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên
cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Quyết. Toàn bộ số liệu và
thông tin được nêu ra đảm bảo tính xác thực, những phần kiến thức tham khảo đều
được trích nguồn một cách đầy đủ. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những
cam đoan trên đây.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Đào Thị Ngọc Quý
1
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
PHẦN I. MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 17
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 18
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 19
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 19
7. Phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu 20
8. Cấu trúc luận văn 25
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH 26
Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu 26
2.4.1. Chính quyền địa phương và tổ chức xã hội 70
2.4.2. Tác động từ phía gia đình 74
2.4.3. Hoạt động của cán bộ y tế và cá nhân phụ nữ tại xã Thanh Hà 76
2.4.4. Thế mạnh và rào cản từ phía cộng đồng đối với chăm sóc sức khỏe ban đầu
cho phụ nữ tại xã Thanh Hà 78
Tiểu kết chương 2 81
Chương 3: Đề xuất định hướng can thiệp nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho phụ nữ xã Thanh Hà dựa vào cộng đồng 83
3.1. Nội dung can thiệp dựa vào cộng đồng 83
3.1.1. Cải thiện các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu 83
3.1.2. Phát triển các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu 88
3.2. Cách thức triển khai 93
3.3. Vai trò của nhân viên công tác xã hội 105
Tiểu kết chương 3 110
KẾT LUẬN 112
3
HẠN CHẾ 114
KHUYẾN NGHỊ 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 122
4 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt
Nghĩa
CBYT
Cán bộ y tế
CSSK
6
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nằm trong chiến lược CSSK toàn dân, công tác CSSKBĐ được coi là nấc
thang quan trọng đối với việc đảm bảo cho người dân được đón nhận những thông
tin và dịch vụ CSSK thiết yếu một cách đầy đủ và công bằng với mức chi phí mà họ
có thể chấp nhận được. CSSKBĐ lần đầu tiên được khẳng định có vị trí quan trọng
đặc biệt đối với các nước đang và chưa phát triển tại hội nghị Alma – Ata. Sau khi
đón nhận tuyên ngôn Alma – Ata (ngày 12 tháng 9 năm 1978), Việt Nam bắt đầu
triển khai mạnh mẽ các nội dung có trong tuyên ngôn này, phát triển thành 10 nội
dung CSSKBĐ để phù hợp với tình hình thực tế của quốc gia. Với hệ thống mạng
lưới y tế cơ sở được mở rộng tới những vùng khó khăn đã tạo điều kiện cho người
dân được tiếp cận với hoạt động CSSKBĐ. Trong bối cảnh con người đang phải đối
mặt với ngày càng nhiều những vấn đề sức khỏe do tốc độ phát triển nhanh chóng
của xã hội công nghiệp thì việc thực hiện hiệu quả các chương trình CSSKBĐ cũng
sinh xã hội của đất nước. Với mục tiêu tương đồng đó, việc CTXH tham gia vào đội
ngũ hỗ trợ nhằm giúp hoạt động CSSKBĐ đến được với người dân là hoàn toàn phù
hợp. Thực tế, trong quá trình đào tạo chuyên môn, NVCTXH đã biết đến kiến thức
và vai trò của mình trong hệ thống CSSKBĐ tại các cơ sở y tế và cộng đồng. Nhưng
với nhiều khó khăn trong khả năng liên kết đa ngành nên việc tham gia vào mạng
lưới này của NVCTXH còn nhiều hạn chế.
Ngoài ra, sức khỏe là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới đời
sống của con người, do đó để có những cải thiện tích cực cho mỗi cá nhân cũng như
cộng đồng thì NVCTXH cần mang đến sự trợ giúp để con người đạt đến trạng thái
tốt nhất cả về thể chất và tinh thần. Tham gia vào thực hiện hoạt động CSSKBĐ,
NVCTXH đóng vai trò là giúp người dân được đón nhận những thông tin và dịch vụ
chăm sóc thiết yếu một cách công bằng và tự chủ.
Phụ nữ là nhóm đối tượng có nhiều nhu cầu trong việc CSSK xuất phát từ cả
đặc điểm sinh lý và xã hội. Ngày nay, người phụ nữ không chỉ giữ vai trò chăm sóc
gia đình mà còn tham gia hoạt động kinh tế xã hội nên họ thường phải chịu nhiều áp
lực dễ khiến cho sức khỏe giảm sút và đối mặt với bệnh tật. Đặc biệt, phụ nữ ở độ
8
tuổi 25 đến 40 thường có nhiều nhu cầu trong CSSK bởi đây là giai đoạn phụ nữ
thực hiện thiên chức làm mẹ. Một thực tế rằng phụ nữ ở các khu vực nông thôn,
vùng sâu vùng xa không có nhiều cơ hội tiếp cận với các thông tin truyền thông về
CSSK, kiến thức cơ bản để đảm bảo tình trạng sức khỏe ổn định.
CSSKBĐ là một hình thức mang tính chất cộng đồng do đó những nguyên
tắc hoạt động của nó luôn hướng đến quyền lợi của người dân ở mức tối đa. Từ đó
có thể thấy rằng CTXH có mối liên kết chặt chẽ với CSSKBĐ, cùng hướng tới mục
tiêu chung là đảm bảo sự công bằng và phát triển của xã hội, phát huy thế mạnh trợ
giúp từ phía cộng đồng. Có được cải thiện tích cực trong đời sống của PNNT thì
NVCTXH cần giúp họ đáp ứng nấc thang nhu cầu đầu tiên là sức khỏe, khả năng
chủ động đối phó với những rủi ro bênh tật. Mặc dù, các chương trình hay nghiên
cứu nhằm nâng cao việc CSSKBĐ nói chung và dành cho phụ nữ nói riêng được
Starfield và Temitope Erinosho vào năm 2009. Mục đích nghiên cứu là chỉ ra những
cách thức dẫn đến ảnh hưởng tích cực của CSSKBĐ và cung cấp gợi ý cho những
hoạt động trong tương lại. Kết quả điều tra cho thấy những bằng chứng về hiệu quả
CSSKBĐ tập trung vào sức khỏe của bà mẹ và trẻ em, tuy nhiên công tác này vẫn
thể hiện vai trò đối sức khỏe của mọi người. Hai yếu tố quyết định những thành
công đạt được trong CSSKBĐ là cách tiếp cận và thực hành. Về cách tiếp cận, sự
tích hợp giữa việc cung cấp những dịch vụ đáp ứng nhu cầu của hầu hết người cần
và những dịch vụ cho đối tượng được lựa chọn ưu tiên đã chạm đến được mong đợi
của từng cá nhân trong cộng đồng. Nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định một
hoạt động thực hành tốt, để có kết quả cao trong việc tiếp cận với cộng đồng nhiều
quốc gia trong nhóm nghiên cứu đã sử dụng cả nhân viên sức khỏe cộng đồng và y
tá cộng đồng.
Năm 2002, Trần Ngọc Hữu đã thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu đánh giá
hoạt động CSSKBĐ tại Tỉnh Long An và đề xuất một số biện pháp can thiệp” với
mục tiêu là tìm hiểu CSSKBĐ ở tuyến xã, phân tích nguồn nhân lực và yếu tố ảnh
hưởng tới hệ thống quản lý. Nghiên cứu làm sáng tỏ việc CSSKBĐ ở thế kỷ 21 sẽ
nhắm vào việc mở rộng vai trò y tế tuyến huyện, bảo đảm sự cam kết của các thành
viên trong xã hội, theo đuổi mục tiêu công bằng cho những người bị thiệt thòi trong
10
xã hội, nâng cao chất lượng và hiệu quả của dịch vụ y tế công và tư, xác định lại
cách chọn ưu tiên. Tác giả tập trung đánh giá hoạt động này ở tuyến xã với kết luận
rằng sự thu hút của trạm y tế là chưa cao bởi hạn chế về cơ sở vật chất và nhân viên
chăm sóc cộng đồng, theo điều tra chỉ có 19.4% bác sĩ có thể liệt kê được nội dung
của CSSKBĐ. Nghiên cứu cũng chỉ ra tại các trạm y tế tình hình sử dụng thuốc
không an toàn – hợp lý và kém hiệu quả đang trở thành thách thức lớn trong vấn đề
cung ứng thuốc cho nhân dân với 21% TYT có thuốc quá hạn. Hình thức can thiệp
bằng việc điều hành CSSKBĐ dựa vào cộng đồng hay phòng chống sốt xuất huyết
dựa vào cộng đồng đều phát huy vai trò của các cộng tác viên để tổ chức thảo luận
nhóm hay đến tư vấn kiến thức tại nhà, mô hình xây dựng hệ thống giáo dục dựa
các chương trình tồn tại và phát triển và cũng chính là điểm tựa vững chắc cho quá
trình cung cấp dịch vụ. Nhưng nghiên cứu mới chỉ chú trọng phản ánh sự hỗ trợ của
cộng đồng là các tổ chức phi chính phủ quan tâm đến lĩnh vực CSSK. Trong nghiên
cứu của mình tác giả tìm hiểu yếu tố tác động trực tiếp hơn chính là thành viên, tổ
chức thuộc vào mạng lưới bên trong cộng đồng.
2.3. Nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe ban đầu dựa vào cộng đồng
Một nghiên cứu về hoạt động CSSK dưới góc độ xã hội học do tác giả Trịnh
Hòa Bình (1996) thực hiện với tên đề tài “Vai trò của gia đình nông thôn đối với
việc CSSK trong thời kỳ đổi mới”. Qua nghiên cứu, tác giả cho thấy gia đình đóng
vai trò quan trọng và quyết định hoạt động CSSK của cá nhân và cộng đồng. Trước
hết, tác giả xác định các yếu tố xác lập nên vai trò CSSK của gia đình bao gồm tính
huyết thống, ảnh hưởng của Nho giáo Việt Nam và điều kiện của đời sống tiểu nông
thôn khép kín. Nghiên cứu đã giải thích rất chi tiết về vai trò CSSK của gia đình.
Thứ nhất, kiến thức của bà mẹ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của các thành viên
trong gia đình đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi. Do đó, việc giáo dục, huấn luyện và tuyên
truyền về những nội dung cơ bản trong CSSK (phòng bệnh, phát hiện dấu hiệu và
xử lý tình huống) là yếu tố quan trọng. Thứ hai, xét về yếu tố hoàn cảnh kinh tế gia
đình thì qua điều tra của nghiên cứu cho thấy hậu quả trực tiếp của điều kiện kinh tế
thiếu thốn là tình trạng suy dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em. Các yếu tố còn lại gồm
điều kiện tổ chức và sinh hoạt gia đình, quy mô và tình trạng hôn nhân gia đình,
12
điều kiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt và vệ sinh, điều kiện hạ tầng và mô trường. Từ
kết quả nghiên cứu, tác giả đánh giá về hệ thống y tế cộng đồng nhìn chung là đáp
ứng được nhu cầu, năng lực chăm lo cho sức khỏe của gia đình trong mối liên hệ
với đời sống cộng đồng nông thôn. Bên cạnh đó, thực tế thái độ văn hóa y tế của gia
đình chưa cao nên gia đình có thể khắc phục khả năng bằng cách tích cực dựa vào
mối quan hệ với cộng đồng và nhà nước. Tóm lại, vai trò của gia đình được thể hiện
bằng việc mỗi nhà tự chăm lo sức khỏe cho gia đình mình và gia đình sử dụng các
dịch vụ y tế cộng đồng.
đồng trong suốt tiến trình chăm sóc. Thêm vào đó, nhân viên chuyên nghiệp biết lên
kế hoạch dựa vào khả năng xác định các thành phần văn hóa, giới tính, đặc điểm cá
nhân, gia đình và cộng đồng để có can thiệp phù hợp. Hai tác giả cũng chỉ ra để đối
mặt với thách thức NVCTXH sẽ thực hành giống như là đang làm việc trong tổ
chức y tế, nghĩa là tham gia như một thành viên trong nhóm liên ngành để biện hộ
trường hợp. Bên cạnh đó, xây dựng mối quan hệ đối tác với các tổ chức cộng đồng
thể hiện cách làm việc hiệu quả trong hệ thống rộng của NVCTXH.
Nhóm nghiên cứu của hiệp hội CTXH Ai-len (2011) đã tiến hành nghiên cứu
“Vai trò của CTXH trong CSSKBĐ” dựa trên các mô hình thực hành đã được triển
khai tại đất nước này. Trong nghiên cứu đã giới thiệu mô hình chăm sóc ban đầu là
hoạt động của một nhóm chuyên gia dựa trên cách tiếp cận tới việc phân phối dịch
vụ nhằm giúp người dân có được sự chăm sóc tốt hơn và thậm chí là phát huy việc
tự chăm sóc bằng cách trao quyền cho người bệnh từ đó tăng năng lực phòng ngừa
bênh tật. Mô hình CSSKBĐ tại Ai-len mang tính xã hội cao bằng việc nhấn mạnh
đến sự công bằng trong việc hưởng các dịch vụ xã hội, cải thiện sự tham gia và trao
quyền cho người sử dụng, giảm khoảng cách về tình trạng sức khỏe giữa các nhóm
xã hội.
Với mô hình này, CTXH với CSSKBĐ là dựa trên nền tảng về quyền “sức
khỏe cho tất cả mọi người”. Qua nghiên cứu, nhóm tác giả đã cho thấy rõ vai trò
của CTXH bao gồm hỗ trợ phân phối dịch vụ sức khỏe và xã hội tới thân chủ, đưa
dịch vụ tới cá nhân một cách thự nguyện và toàn diện, duy trì cách tiếp cận con
người ở trong môi trường để tạo ra kết nối cần thiết trong xã hội. Ngoài ra, nhóm
14
tác giả cũng đề cập đến chức năng hiện tại của nhân viên CTXH là đánh giá nhu cầu
tổng thể, tham vấn với những người cung cấp dịch vụ sức khỏe khác, giáo dục và
đào tạo trong CSSK và chức năng xã hội, phát triển cộng đồng và xây dựng nguồn
lực, cung cấp dịch vụ cụ thể. Các chức năng này được NVCTXH tại Ai-len phát
huy mạnh mẽ trong việc tham gia vào tiến trình đánh giá nhu cầu cộng đồng và thúc
đẩy sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên vai trò của NVCTXH bị ảnh hưởng rất
tình trạng kinh tế xã hội thấp và vai trò của phụ nữ trong việc sinh sản, sự phức tạp
của việc mang thai và sinh con, quyền lực không công bằng giữa nam và nữ trong
mối quan hệ tình dục, việc thiếu các chất dinh dưỡng, bạo lực gia đình, vấn đề về
làm dụng tình dục, sự giới hạn trong tiếp cận với các dịch vụ y tế tạo ra do khoảng
cách giàu nghèo, chất lượng của sự chăm sóc, chính phủ chưa đưa ra những cam kết
mạnh mẽ và bền vững thông qua chính sách và chiến lược có mục tiêu cụ thể. Với
một dãy những vấn đề đang dạng thì đòi hỏi các can thiệp ở nhiều cấp độ và hình
thức, nhưng tất cả đều xuất phát từ việc tìm hiểu nhu cầu thực chất của phụ nữ để
xây dựng các hoạt động. Nghiên cứu cung cấp một số gợi ý cải thiện sức khỏe phụ
nữ bằng việc thực hiện nội dung có định hướng tới sự tham gia của nam giới, phát
huy vai trò từ phía chính phủ và các nhà đầu tư.
Ban Giới, phụ nữ và sức khỏe của WHO (2010) đã thực hiện cuốn sách
“Giới, phụ nữ và đổi mới CSSKBĐ”, đây được coi như là một tài liệu thảo luận về
tác động của vấn đề giới tới các hoạt động CSSKBĐ và một chương trình hành
động bình đẳng giới trong hệ các hệ thống CSSK. Sự khác biệt trong cách xã hội
đánh giá và chấp nhận những dạng hành vi của nam và nữ ảnh hưởng tới nguy cơ
phát triển các vấn đề sức khỏe đặc biệt cũng như những hiệu quả của việc CSSK.
Tại nhiều xã hội truyền thống, những hình thức văn hóa xã hội đã cản trở sự chủ
động và quyền đưa ra quyết định của phụ nữ đối với vấn đề sức khỏe của chính họ.
Phát triển cách tiếp cận CSSKBĐ là một sự tiến bộ đáng kể để liên kết sức khỏe với
sự phát triển và ưu tiên bình đẳng thông qua các chính sách và chương trình liên
quan đến cộng đồng và nhu cầu thực sự của con người. Các quốc gia đã nhiều cách
thức để đạt được thành công khi kết hợp sự tôn trọng giới với hình thức chăm sóc
và phân phối dịch vụ. Trung Quốc, Thái Lan, Brazil và Bolivia đã đạt được hiệu
16
quả từ việc thực hiện mối quan hệ đối tác giữa tư và công tạo ra gói dịch vụ và bảo
hiểm y tế với giá cả và chất lượng hợp lý. Những nghiên cứu tại Bangladesh và Việt
Nam lại cho thấy kết quả tốt nằm ở tổ chức hệ thống dịch vụ với địa điểm và thời
gian phù hợp. Về mặt chính sách công và hình thức lãnh đạo, những quan điểm về
những nghiên cứu ở Việt Nam thì chủ yếu mang tính chất của ngành y tế hoặc y tế
cộng đồng. Những nghiên cứu về CSSK phụ nữ thường chỉ tập trung vào vấn đề
bênh tật cụ thể. Trong ngành CTXH, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp dường như
thiếu cơ hội tham gia vào lĩnh vực CSSKBĐ, do đó các nghiên cứu liên quan đến
CSSKBĐ còn rất ít ỏi. Nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khoẻ ban đầu
cho phụ nữ nông thôn dựa vào cộng đồng (Nghiên cứu tại xã Thanh Hà, huyện
Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam)” góp phần giảm đi sự thiếu hụt về tư liệu khoa học trong
lĩnh vực này của ngành CTXH, đưa ra cách nhìn và gợi ý can thiệp mới dựa vào ba
yếu tố quan trọng là nhu cầu CSSK của phụ nữ, hệ thống thiết chế và sự tham gia
của cộng đồng.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết nhu cầu, cấu trúc chức năng và kiến thức huy
động sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động xã hội để phân tích việc thực hiện
CSSKBĐ cho PNNT.
Nghiên cứu áp dụng kiến thức về phát triển cộng đồng dựa trên kết quả điều
tra đánh giá để đưa ra được kế hoạch để cải thiện hiệu qủa CSSKBĐ đồng thời thúc
đẩy vai trò của CTXH với CSSKBĐ.
Kết quả nghiên cứu đóng góp tài liệu và góc nhìn mới đối với lĩnh vực
CSSKBĐ cũng như hoạt động của ngành CTXH.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần đưa ra cái nhìn thực tiễn về hoạt động
CSSKBĐ nhằm thúc đẩy việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho PNNT.
Nghiên cứu cho thấy giá trị của cộng đồng và vai trò, chức năng CTXH với
hoạt động CSSKBĐ cho PNNT.
18
Những phân tích được thực hiện giúp cho các chuyên gia và nhà hoạch định
có cái nhìn sâu sắc với vấn đề CSSKBĐ và dựa vào đó xây dựng những kế hoạch
khắc phục hạn chế đang tồn tại.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu tình hình CSSKBĐ cho PNNT và các nguồn lực, tiềm năng sẵn có
của cộng đồng tham gia nâng cao hiệu quả các chương trình CSSKBĐ, phân tích
một số yếu tố tác động của các bên liên quan tới công tác này tại cộng đồng. Từ đó,
đề xuất hình thức can thiệp dựa vào cộng đồng theo hướng CTXH nhằm nâng cao
hiệu quả, tạo ra ảnh hưởng tích cực của các chương trình CSSKBĐ dành cho phụ nữ
ở khu vực nông thôn.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát và hệ thống lý thuyết CTXH ứng dụng trong lĩnh vực CSSKBĐ.
Tìm hiểu nội dung các công tác CSSKBĐ đã được triển khai cho PNNT.
Phân tích hệ thống thiết chế của địa phương đối với việc chăm sóc sức khỏa
ban đầu bao gồm hệ thống cơ sở, y bác sĩ và chủ chương của chính quyền địa
phương và ngành y tế.
Phân tích nguồn lực cộng đồng tác động tới việc CSSKBĐ cho PNNT.
Xây dựng định hướng can thiệp dựa vào hệ thống lý thuyết, cách tiếp cận
trong phát triển cộng đồng và tình hình thực tế.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
Tình hình CSSKBĐ cho PNNT hiện nay tại xã Thanh Hà diễn ra như thế nào?
Tác động của các tiểu hệ thống xã hội, những thế mạnh và rào cản trong cộng
đồng ảnh hưởng như thế nào đến công tác CSSKBĐ cho PNNT tại xã Thanh Hà?
Những nguồn lực và thế mạnh được khai thác như thế nào để nâng cao hiệu
quả CSSKBĐ cho phụ nữ xã Thanh Hà?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, xã Thanh Hà đã và đang thực hiện các chương trình CSSKBĐ tuy
nhiên phụ nữ tại xã vẫn chưa tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dịch vụ. Về mặt xã
20
hội, hiệu quả của các chương trình CSSKBĐ bị hạn chế bởi cách thức tuyên truyền
bắt được thông tin cơ sở cho việc phân tích hoạt động CSSKBĐ. Hệ thống tài liệu
chính thu thập là các nghiên cứu và bài viết chứa nội dung về lĩnh vực CTXH đối
với CSSK đặc biệt là CSSKBĐ. Hơn nữa, tác giả tìm hiểu nghiên cứu trong lĩnh
vực CSSKBĐ tại Việt Nam và trên thế giới, điều này giúp tác giả nhìn nhận cơ
bản về tình hình thực tế chung và khái quát vấn đề đã diễn ra từ trước đến nay.
Những thông tin thu thập cũng giúp tác giả phát huy những điểm mới và nổi bật
trong luận văn.
Bên cạnh đó, tác giả tiến hành thu thập các thông tin từ các quy định chính
sách, báo cáo thường kỳ của xã Thanh Hà về hoạt động CSSKBĐ cho phụ nữ tại địa
phương. Những dự liệu này cung cấp cái nhìn khái quát về sự quan tâm và hướng
phát triển của địa phương dành cho vấn đề sức khỏe của phụ nữ. Thu thập dữ liệu từ
hệ thống tài liệu về CSSKBĐ do các tổ chức chính thức cung cấp và tài liệu được
triển khai xuống các cơ sở y tế địa phương, các kế hoạch liên quan tới CTXH nhằm
hỗ trợ phát triển hoạt động CSSKBĐ. Thông qua kho dữ liệu này tác giả có được cơ
sở để đưa ra so sánh các hoạt động tại địa phương với những mục tiêu chính trong
CSSKBĐ.
Đối với mọi thông tin thu thập dưới hình thức khác nhau đều được ghi chép
và lưu trữ đầy đủ, tiến hành gỡ băng với các phỏng vấn thực hiện bằng cách ghi âm.
Các dữ liệu phân chia dựa theo từng nội dụng chính và nhóm đối tượng phỏng vấn,
sau đó thông tin được sắp xếp để đánh giá điểm chung và điểm khác biệt của mỗi
vấn đề nghiên cứu.
7.3. Phƣơng pháp quan sát
Phương pháp này là cách thức hiệu quả để cung cấp cho tác giả cái nhìn thực
tế tuy nhiên cũng đòi hỏi người thực hiện nó có khả năng bao quát và cụ thể hóa vấn
đề. Đối với nghiên cứu này, tác giả tiến hành quan sát nhằm tìm hiểu xem ai là
người triển khai việc CSSKBĐ và nó được diễn ra như thế nào? Phụ nữ được cung
cấp các dịch vụ CSSKBĐ như thế nào?, đây là cơ sở đánh giá tình hình chăm lo sức
khỏe và sự hỗ trợ từ gia đình của PNNT. Từ những mong muốn đó, tác giả lựa chọn
22