ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN DỰ Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ QUANG HÁN –
HUYỆN TRÀ LĨNH - TỈNH CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : PTNT - K41
Khóa học : 2009 - 2013
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Trần Thị Ngọc
Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Trong thời gian thực tập tại xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh
Cao Bằng, tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định
của cơ quan.
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài: “Vai
trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa
bàn xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng" Là trung thực và
chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào. Tôi
xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Cao Bằng, ngày 27 tháng 4 năm 2014
Sinh viên Hoàng Văn Dự
LỜI CẢM ƠN
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính 34
giai đoạn 2011 - 2013 34
Bảng 4.3: Tình hình sản xuất chăn nuôi của xã Quang Hán
giai đoạn 2011 - 2013 35
Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động giai đoạn 2011 - 2013 36
Bảng 4.5: Số trường, lớp, học sinh đến trường năm 2013 37
Bảng 4.6: Tỷ lệ nữ dân tộc Mông tham gia hoạt động cộng đồng năm 2013 . 46
Bảng 4.7: Phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
năm 2013 50
Bảng 4.8: Phân công lao động trong các hoạt động khác 54
Bảng 4.9: Tình hình quản lý vốn vay của hộ 57
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ trình độ văn hóa của phụ nữ dân tộc Mông trong các
nhóm hộ 47
Hình 4.2: Biểu đồ đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 56
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ĐVT : Đơn vị tính
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
KHKT : Khoa học kỹ thuật
THCS : Trung học cơ sở
UBND : Uỷ ban nhân dân
CC
2.1.4. Nhu cầu, lợi ích và bình đẳng giới và phát triển giới 10
2.1.5. Khái niệm về dân tộc 12
2.1.6. Khái niệm hộ, kinh tế hộ 12
2.1.6.1. Khái niệm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình 12
2.1.6.2. Chức năng của hộ 13
2.1.6.3. Khái niệm và đặc điểm của hộ nông dân 14
2.1.7. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng
ta về bình đẳng giới 15
2.1.7.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới 15
2.1.7.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 17
2.1.7.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới 19
2.2. Cơ sở thực tiễn 22
2.2.1. Khái quát thực trạng vai trò của phụ nữ một số nước trên thế giới 22
2.2.2. Vai trò, vị trí dân tộc Mông trong phát triển kinh tế 24
2.2.3. Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế ở
nước ta hiện nay 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 28
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
3.3. Nội dung nghiên cứu 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 28
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 29
3.4.2.1. Số liệu thứ cấp 29
3.4.2.2. Số liệu sơ cấp 29
3.4.3. Phương pháp xử lí số liệu 29
Phần 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 30
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - Tỉnh
Cao Bằng 30
4.3.2.5. Sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể 62
4.3.2.6. Quan niệm bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại 62
4.3.2.7. Trình độ học vấn và chuyên môn của phụ nữ dân tộc Mông
còn thấp 63
4.3.2.8. Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ 64
4.3.2.9. Hệ thống luật và chính sách còn chưa thiết thực với phụ nữ 64
4.4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc
Mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình 67
4.4.1. Nâng cao kiến thức về mọi mặt cho phụ nữ 67
4.4.1.1. Hỗ trợ vốn cho phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình 68
4.4.1.2. Tuyên truyền vận động phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội 69
4.4.1.3. Làm tốt công tác KHHGĐ, chăm sóc sức khoẻ và đời sống cho phụ nữ 70
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1. Kết luận 71
5.2. Kiến nghị 72
5.2.1. Đối với Nhà nước 72
5.2.2. Đối với chính quyền, đoàn thể địa phương 72
5.2.3. Đối với người dân 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
I . Tài liệu tiếng Việt 74
II. Tài liệu từ website 74
III. Tình hình sản xuất của chủ hộ 76
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
Nhằm từng bước đẩy lùi bất bình đẳng giới, thay đổi nhận thức của người dân
về vai trò của người phụ nữ, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh
quốc phòng.
Xã Quang Hán là một xã thuộc huyện biên giới của Tỉnh Cao Bằng, có
địa phận giáp với Trung Quốc, và một số huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, Bắc
Kạn và Hà Giang là một xã vùng 2 có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, đặc
biệt là giao thông đường bộ gây khó khăn cho việc đi lại, giao lưu buôn bán
với các địa phương khác, là nơi sinh sống của 4 dân tộc anh em trong đó
người dân tộc Mông chiếm chỉ chiếm khoảng (5%). Trình độ dân trí của
người dân còn thấp, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Hiện nay
bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình cũng như tình trạng phụ nữ dân tộc
thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc Mông nói riêng trên địa bàn xã chưa
được tham gia vào quá trình ra quyết định và các nguồn thông tin mới về kỹ
thuật canh tác còn phổ biến. Mặc dù họ lại là người trực tiếp tham gia sản
xuất, do đó hiệu quả canh tác không cao, đời sống không được cải thiện. Xuất
phát từ những vấn đề đó nên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của
phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã
Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng".
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ dân tộc Mông trên địa bàn
xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng trong phát triển kinh tế nông
3
hộ. Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân
tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ dân tộc
Mông trong phát triển kinh tế nông hộ.
- Phân tích và đánh giá được thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc
học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau
về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới. Hay nói cách khác:
Giới Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới
tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể
thay đổi được.
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người
và di truyền nòi giống. Ví dụ như: sự khác nhau về hình dạng cơ thể bên
ngoài (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, ), khác nhau về
cấu tạo NST, hormone, khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của
giới tính (phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú; nam giới sản xuất ra tinh
trùng để thụ thai ). Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi
con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam
và nữ.
* Giới
Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới
và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và
nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng
và có thể thay đổi được.
Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ. Giới liên
hệ đến vai trò của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên.
5
Giới có thể khác nhau giữa nơi này với nơi khác, giữa nền văn hóa này so với
nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian.
Khái niệm giới xuất hiện ban đầu ở các nước nói tiếng Anh, vào
khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất
hiện vào khoảng thập kỷ 80.
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến
vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề
cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa
việc tạo ra của cải vật chất và các công việc xã hội. Chính điều này đã làm tăng
thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Hơn nữa do các tác động của định kiến xã hội, hệ tư tưởng, phong tục
tập quán đối với mỗi giới khác nhau nên phụ nữ thường ít có cơ hội tiếp cận
cái mới, trong học tập và tìm kiếm việc làm. Mặt khác, phụ nữ thường bị ràng
buộc bởi gia đình và con cái do đó họ ít có cơ hội tham gia các công việc xã
hội và cơ hội thăng tiến trong công việc. Sự khác biệt về giới tạo nên khoảng
cách giữa hai giới trong xã hội.
2.1.2. Vai trò của giới
Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người đảm bảo cho
việc tái sinh sản con người và tái sản xuất xã hội. Sự phân biệt về giới quy định
thiên chức của họ trong gia đình và trong cộng đồng. Do đó họ có tầm quan
trọng khác nhau và họ đảm nhận những khả năng xã hội cũng khác nhau.
Vai trò của giới khác với vai trò sinh học của nữ giới và nam giới. Vai
trò của giới được hình thành mang tính xã hội. Kết quả là nữ giới và nam giới
không có cùng nguồn lực, không có cùng một nhu cầu và mối quan tâm giống
nhau. Do đó họ cũng khác nhau trong quyền đưa ra quyết định. Để có thể đảm
7
bảo phát triển công bằng và có hiệu quả của các chính sách và kế hoạch phát
triển cần phải tìm hiểu sự khác nhau giữa nam và nữ. Giới trở thành một phần
trong phân tích về sự khác biệt xã hội. Đây là cơ sở nghiên cứu sự cân bằng
về giới và nâng cao địa vị của người phụ nữ trong xã hội.
Nam giới được coi là phái mạnh, được coi là trụ cột của sức lực, khả
năng bảo vệ và che chở. Họ có cuộc sống tình cảm cứng rắn hơn, mạnh mẽ
hơn và năng động hơn trong công việc. Chức năng của họ là người sản xuất
đồng thời là người quản lí, ít nhất là người quản lí gia đình, đặc trưng về giới
cho phép họ có khả năng dồn tâm lực, trí lực cho mọi công việc và mọi thời
gian như nhau.
Nữ giới được coi là phái yếu, phái đẹp. Họ không mạnh mẽ bằng nam
trả tiền và làm vào thời gian rỗi, thông thường do phụ nữ đảm nhận là chính.
+ Vai trò lãnh đạo cộng đồng: Các hoạt động quản lí cộng đồng thuộc
cấu trúc thể chế chính trị, những công việc này thường do nam giới thực hiện
và thường được trả công trực tiếp bằng tiền hoặc gián tiếp bằng tăng thêm địa
vị quyền lợi (Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng, 2008)[1].
2.1.3. Lồng ghép giới trong các chương trình, dự án
Lồng ghép là tập hợp những ý tưởng, các giá trị, các cách làm, các thể
chế và các tổ chức nổi trội có mối quan hệ tương tác lẫn nhau để quyết định
“ai được cái gì” trong xã hội. Các ý tưởng và thực tế trong việc lồng ghép
phản ánh và củng cố lẫn nhau, qua đó đưa ra luận chứng cho bất kỳ sự phân
bố các nguồn lực và cơ hội nào của xã hội
- Lồng ghép giới được hiểu là
Lồng ghép giới là một quá trình hay chiến lược hướng tới mục đích
bình đẳng giới. Đây là một quá trình diễn ra liên tục.
9
Nó là một phương pháp để quản trị nhằm làm cho các mối quan tâm và
kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới trở thành một bộ phận không thể thiếu
trong quá trình thiết kế, thực hiện kiểm tra và đánh giá các chính sách và
chương trình trong tất cả các lĩnh vực của xã hội.
Lồng ghép giới liên quan đến việc thay đổi các chính sách và thể chế
nhằm thúc đẩy bình đẳng giới một cách tích cực hơn. Đó là một quá trình
chuyển đổi lâu dài nhằm xem xét lại các giá trị văn hóa – xã hội và các mục
tiêu phát triển.
- Đối tượng để thực hiện lồng ghép giới
Dòng chảy chủ đạo là một tập hợp mang tính chi phối, bao gồm các ý
tưởng, giá trị, quan niệm, thái độ, mối quan hệ và cách thức tiến hành mọi
việc trong xã hội. Dòng chảy chủ dạo bao trùm các thể chế chính của xã hội
(gia đình, nhà trường, chính quyền, tổ chức xã hội…) quyết định ai được coi
trọng và cách thức phân bổ nguồn lực, quyết định ai được làm gì và ai nhận
+ Công bằng giới
Là sự đối xử công bằng với cả nam giới và phụ nữ. Để bảo đảm có sự công
bằng, luôn phải có nhiều biện pháp để điều chỉnh những khuyết thiếu của lịch sử
và xã hội mà đã cản trở phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội
dưới hình thức này hay hình thức khác. Công bằng sẽ dẫn tới sự bình đẳng.
+ Bình đẳng giới
Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch
về địa vị xã hội của họ. Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế
của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng.
11
Nhu cầu giới chiến lược được xác định để khắc phục tình trạng thấp
kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị
và văn hóa cụ thể. [2]
+ Bất bình đẳng giới
Là một trong những cản trở to lớn trong sự phát triển của tưng nước và
toàn cầu. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra đói nghèo, mù chữ. Nó
là hiện tượng không thể chấp nhận được trong thế giới văn minh, vì quyền và
hạnh phúc của con người.
Vì sự bất bình đẳng giới còn thể hiện trong các phong tục tập quán, lối
sống của người dân với những định kiến giới từ hàng ngàn năm để lại. Phụ nữ là
nhưng người coi là có số xấu, đêm lại không mây cho người khác như quan niệm
“Ra ngõ gặp gái”. Họ bị coi là ngu dốt, thiếu kiến thức, suy nghi nông cạn:” Và
họ được coi là những người có giá trị thấp: “một trăm con gái không bằng cái
con trai,” “Đan ông rồng miệng thì sang. Đàn bà rồng miệng thì tan hoang của
nhà.” Trong hoàn cảnh như vậy thì người phụ nữ sẽ không đủ tự tin và diều kiện
để vươn lên như nam giới và sự cam chịu của nhiều phụ nữ khác.
+ Giới và phát triển giới
Là xã hội loài người tồn tại và phát triển nhờ sự chiến đấu, lao động và
hợp tác hai giống người: nam và nữ. Từ thé hệ này sang thé hệ khác, phụ nữ
- "Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn
chung và có chung một ngân quỹ" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3].
- "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan tới sản xuất, tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3].
13
- "Hộ là một nhóm người chung một huyết tộc, hay không cùng chung
huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một
ngân quỹ" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3].
- "Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động"(Nguyễn Văn Hải,
2005)[3].
- "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động
thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3].
- “Hộ là những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với
nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và
cộng đồng" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3].
- “Kinh tế hộ gia đình là khả năng tài chính của một gia đình, được
hình thành từ các nguồn thu thập của gia đình”.
Như vậy có thể nêu một số điểm cần quan tâm khi nhận định hộ
- Một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc.
- Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà.
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung.
2.1.6.2. Chức năng của hộ
+ Chức năng kinh tế
Đây là chức năng nổi bật của hộ và bản thân hộ cần sản xuất, kinh
doanh để đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết, trước hết là cho hộ, sau đó là cho xã
hội. Thực hiên chức năng kinh tế, hộ phải hoạt động trong lĩnh vực sản xuất,
kinh doanh và đầu tư.
+ Chức năng tiêu dùng chức năng này liên quan chặt chẽ với chức năng
(không phải mục đích chính là sản xuất hàng hóa để bán).