phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát - Pdf 24

MỞ ĐẦU
Chương 1
PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU SỐ - NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ LUẬN
CHUNG
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG Hồ Chí Minh VÀ QUAN ĐIỂM
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG Phát triển kinh
tế - Xã hội VÀ VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của phụ nữ trong Phát
triển kinh tế - Xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ
1.1.2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò của phụ nữ trong Phát
triển kinh tế- Xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ
1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU
SỐ TRONG QUÁ TRÌNH Phát triển kinh tế - Xã hội Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1. Nhận thức về tiềm năng của phụ nữ Dân tộc thiểu số
1.2.2. Tầm quan trọng của việc khai thác, phát huy tiềm năng của phụ nữ Dân
tộc thiểu số để Phát triển kinh tế - Xã hội của đất nước
Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ
TRÌNH Phát triển kinh tế - Xã hội Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân
tộc THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA
2.1.1. Yếu tố tự nhiên
1.1.2.Yếu tố kinh tế (những đặc điểm kinh tế của các tộc người 2 vùng
2.1.3. Yếu tố văn hóa Xã hội
2.1.4. Bản thân người phụ nữ các Dân tộc thiểu số
2.2. NHỮNG TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH Phát
triển kinh tế - Xã hội(TỪ THỰC TIỄN Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA VÀ
MỘT SỐ TỘC NGƯỜI CỤ THỂ)
2.2.1. Vài nét chung về nguồn lực con người, nguồn lực Lao động ở một số tỉnh miền
núi phía Bắc

đang phải gánh chịu. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung -
ơng khóa IX về công tác dân tộc đã chỉ ra:
Sau hơn 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, nhất là từ
sau khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ trơng chính
sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình ở miền núi và
vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bớc chuyển biến quan trọng,
tuy nhiên cho đến nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế, yếu kém [24,
tr.31].
2
Hội nghị cũng nhận định một cách cụ thể:
Nhìn chung, kinh tế ở miền núi và các dân tộc còn chậm phát
triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập
quán canh tác còn lạc hậu. Chất lợng sản phẩm thấp, tiêu thụ khó
khăn. Tình trạng du canh, du c, di dân tự do còn diễn biến phức tạp.
Một số hộ còn thiếu đất sản xuất. Kết cấu hạ tầng ở vùng cao, vùng
sâu, vùng căn cứ cách mạng còn rất thấp kém ở nhiều vùng dân
tộc và miền núi tỷ lệ đói nghèo hiện còn cao hơn so với bình quân
chung cả nớc; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng,
giữa các dân tộc ngày càng tăng [24, tr.31-32].
Để khắc phục hạn chế, yếu kém, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn miền núi, ngoài việc phải khai thác tiềm năng, thế mạnh
từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trờng sinh thái, đồng thời phải tập
trung phát huy các nguồn lực, trong đó nguồn lực con ngời là nguồn lực mang
tính trực tiếp và quyết định. Phụ nữ DTTS chiếm hơn 1/2 dân số, là nguồn lực
có vai trò, vị trí đặc biệt, tác động rất lớn tới phát triển kinh tế - xã hội bền
vững ở những khu vực này.
Phụ nữ DTTS nớc ta là những chủ nhân của đất nớc, có tiềm năng lớn
tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hơng họ. Nhng thực
trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của ngời phụ nữ là
những vấn đề bức xúc đối với phụ nữ vùng dân tộc thiểu số. Bởi vì, đại bộ

sĩ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về phụ nữ, gia đình, dân tộc các vùng nông thôn miền núi
đã đợc tiến hành từ lâu, tuy nhiên, có nhiều cách tiếp cận dới những góc độ
khác nhau. Đặc biệt, trong những năm gần đây, cụ thể hơn là từ khi có Nghị
quyết 22-NQ/TƯ, ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ trơng,
4
chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, thì những vấn đề này đợc
quan tâm nhiều hơn. Những cuộc điều tra, nghiên cứu về kinh tế - xã hội miền
núi thực hiện theo những chuyên đề, những công trình nh:
- Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa - chủ biên (1998): Phát triển kinh tế -
xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hớng CNH, HĐH, Nxb CTQG.
Công trình đã phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội vùng DTTS, từ đó đa ra định
hớng chung cho quá trình phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, công trình cha
khai thác những đặc điểm về dân c, tộc ngời, nguồn lực lao động, trong đó có
nguồn lực nữ.
- Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (2001), Nxb CTQG. Đây là
công trình lớn của nhiều nhà khoa học, nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nớc,
viết về quá trình phát triển các dân tộc thiểu số trong một thế kỷ qua. Có một
số chuyên luận đã nói về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên cha
có chuyên luận nào đi sâu vào phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn
nhân lực nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc.
- ủy ban Dân tộc và miền núi (2002): Miền núi Việt Nam, thành tựu và
phát triển những năm đổi mới, Nxb Nông nghiệp. Đây là công trình tổng kết
quá trình đổi mới, phát triển của miền núi, và đánh giá những thành tựu, hạn
chế của quá trình đó, đồng thời nêu quan điểm định hớng và nguyên tắc phát
triển miền núi và vùng DTTS. Đặc biệt, công trình đã đề cập đến vấn đề nghèo
đói và sự tác động của nó đến các nhóm c dân khác nhau, trong đó, phụ nữ, trẻ
em là nhóm xã hội bị tác động lớn nhất, từ đó đa ra các giải pháp hỗ trợ cho
nhóm này.

phân tích dới góc độ giới.
Với đối tợng phụ nữ, trong những năm qua, trung tâm nghiên cứu Gia
đình và phụ nữ thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã có
tiến hành nghiên cứu ở một số điểm trong cả nớc dới những góc độ khác nhau
đề cập đến vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong xã hội và tác động của
6
chính sách của Đảng, Nhà nớc về dân số, gia đình, phụ nữ nông thôn. Trong
đó, bớc đầu đã có sự xem xét, đánh giá dới góc độ giới. Sau đây là một số kết
quả nghiên cứu: Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò phụ nữ trong gia
đình (1990); Gia đình, ngời phụ nữ và giáo dục gia đình (1993); Đánh giá
vì sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985-1995. Tác giả Bùi Thị Kim Quỳ với: Phụ
nữ Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nớc, vấn đề lao động, việc làm và
hạnh phúc gia đình, gia đình và địa vị ngời phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ
Việt Nam và Hoa Kỳ, Nxb KHXH, (1995). Bàn về vấn đề này còn có các đề
tài khoa học, bài viết của cán bộ Trung tâm nghiên cứu Khoa học về gia đình
và phụ nữ đợc nêu trong báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng và phát triển của
Trung tâm là các t liệu phong phú và khá đầy đủ, phản ánh nhiều khía cạnh
khác nhau liên quan đến vai trò của phụ nữ, phụ nữ trong phát triển. Tiêu biểu
là Vai trò gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con ngời
Việt Nam, do tác giả Lê Thi làm chủ nhiệm; Phụ nữ, giới và phát triển
(1996) của tác giả Trần Thị vân Anh và Lê Ngọc Hùng; Phụ nữ nghèo nông
thôn trong điều kiện kinh tế thị trờng do Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân thực
hiện; Những vấn đề chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn trong giai
đoạn hiện nay do tác giả Trần Thị Bình làm chủ biên(1997); Báo cáo của
Ngân hàng thế giới về Đa vấn đề giới vào phát triển (2001); Nghiên cứu
giới, phụ nữ và gia đình của tác giả Nguyễn Linh Khiếu (2003). Ngoài ra còn
có các luận văn, luận án nh: Bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ở Đồng
bằng sông Hồng hiện nay (2002) của tác giả Chu Thị Thoa; Gia đình Việt
Nam và vai trò ngời phụ nữ trong gia đình hiện nay của tác giả Dơng Thị
Minh; Học thuyết Mác - Lênin về phụ nữ và liên hệ thực tiễn nớc ta hiện

phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, luận văn
đề xuất những phơng hớng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
tiềm năng của đội ngũ này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn đã nêu trong điều kiện hiện nay.
* Nhiệm vụ của đề tài:
8
- Xem xét những vấn đề lý luận và các khía cạnh tổng quát liên quan
đến phụ nữ, tiềm năng, nội lực của phụ nữ đối với phát triển kinh tế - xã hội
của đất nớc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc phát huy tiềm năng của phụ nữ
dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nớc ta trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội.
- Đề xuất những phơng hớng cơ bản và giải pháp chủ yếu để phát huy
tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, thực hiện bình đẳng giới trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh CNH, HĐH.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tợng nghiên cứu:
Phụ nữ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và việc khai thác, phát
huy tiềm năng, nội lực của phụ nữ ở các vùng đã nêu.
*Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu vấn đề phát huy tiềm năng của phụ nữ các dân tộc
thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta hiện nay (qua điều tra một số tỉnh
tiêu biểu của khu vực: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang, Thái Nguyên,
Bắc Kạn).
* Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1986 đến nay
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phơng pháp luận.
- Về phơng pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phơng pháp: Lôgíc -
lịch sử, tổng hợp, phân tích các tài liệu, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học,

Phụ nữ là phần nửa dân số không thể thiếu đợc trong đời sống xã hội. Phụ
nữ là một bộ phận cấu thành quan trọng có ý nghĩa quyết định việc tái sản xuất
lực lợng sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội bền vững.
Các nhà kinh điển Mác - Lênin đánh giá rất cao vai trò, vị thế của phụ
nữ trong xã hội, coi phụ nữ là nguồn nhân lực chủ yếu trong cách mạng xã
hội. Theo các ông: Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn
nào của những ngời áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ
lao động là những ngời bị áp bức nhất trong tất cả những ngời bị áp bức [46,
tr.60], chính vì vậy nên họ cha bao giờ và không bao giờ đứng ngoài các cuộc
đấu tranh giải phóng. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con ngời. Nếu dân tộc đã đợc
giải phóng rồi, phụ nữ có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, đồng thời phụ nữ phải có trách nhiệm phát triển kinh tế - xã hội.
Nói cách khác, theo Ăngghen, phụ nữ tham gia công việc xã hội chính
là điều kiện đầu tiên để giải phóng phụ nữ. Ngời khẳng định rõ hơn: Ngời ta
thấy rằng, sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không
thể có đợc và mãi mãi không thể có đợc; chừng nào mà ngời phụ nữ còn bị gạt
ra ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc
riêng t ở gia đình [45, tr.507].
11
Có thể nói, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng, xã hội cần phải giải
phóng phụ nữ khỏi sự ràng buộc gia đình, phải làm cho phụ nữ và nam giới
bình đẳng bằng cách lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc xã hội.
Những quan điểm biện chứng ấy có đợc là xuất phát từ sự nghiên cứu
công phu và sự chiêm nghiệm trong thực tiễn của C.Mác và Ph.Ănghen để tìm
hiểu địa vị của ngời phụ nữ trong xã hội t sản. Các ông đã chứng kiến và thấu hiểu
tình cảnh của ngời phụ nữ trong nền sản xuất t bản chủ nghĩa đó là tình trạng ngời
phụ nữ bị bóc lột đến kiệt sức, thậm chí bị chết vì do lao động quá sức. Phụ nữ bị
mắc các bệnh nghề nghiệp đến tử vong và họ bị mắc bệnh nhiều hơn nam giới.
C.Mác chỉ rõ: Trong những nghề nghiệp của phụ nữ nh bông, len, lụa và đồ

Nghiên cứu lịch sử loài ngời, C.Mác và Ăngghen chỉ ra rằng: Trong xã
hội có giai cấp đối kháng, phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự áp bức giai cấp
và sự bất bình đẳng trong gia đình và ngoài xã hội. Sự ra đời của chế độ t hữu
dẫn đến tình trạng áp bức, nô dịch của giai cấp có của đối với giai cấp không
có của, từ đây, trong gia đình ngời phụ nữ trở nên hoàn toàn lệ thuộc về kinh
tế, phải phục tùng tuyệt đối quyền lực của ngời chồng.
Từ việc phân tích sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội loài ngời,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của sự
bất bình đẳng đó. Về nguồn gốc kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ các ông
nhấn mạnh rằng: sự phân công lao động giữa nam và nữ là do những nguyên
nhân hoàn toàn khác, chứ không phải do địa vị của ngời đàn bà trong xã hội
quyết định. Quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới là do quan hệ kinh tế của
họ quyết định. Kể cả trong hôn nhân, thì nguồn gốc của sự thống trị của đàn
ông đối với đàn bà cũng là sự thống trị về mặt kinh tế. Ph.Ăngghen đã vạch rõ
nguyên nhân kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ nh sau: Tình trạng không
bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trớc kia để lại cho chúng ta,
tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà
về mặt kinh tế [49, tr.115].
13
Sự bất bình đẳng nam nữ hay sự bất bình đẳng về giới có nguồn gốc từ
sự bất bình đẳng về kinh tế giữa phụ nữ và nam giới. Địa vị của ngời phụ nữ
trong gia đình và ngoài xã hội luôn thấp kém hơn nam giới là bắt nguồn từ địa
vị kinh tế của họ. Phụ nữ có địa vị thấp kém hơn nam giới trớc hết là trong
quan hệ đối với t liệu sản xuất, đồng thời là trong quan hệ tổ chức, quản lý sản
xuất và trong quan hệ phân phối, tiêu dùng sản phẩm.
Cơ sở kinh tế nh thế nào thì đặc điểm và tính chất của mối quan hệ nam
nữ nh thế ấy. Trong nền kinh tế cộng sản nguyên thủy, do đàn bà nắm giữ
kinh tế nên đàn bà đồng thời nắm giữ quyền cai quản xã hội và gia đình.
Kinh tế gia đình cộng sản là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của ngời
đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thủy

cũng tự vạch ra con đờng đi của nó. Nhà nớc, chẳng hạn, tác động
bằng những thuế quan bảo hộ, tự do buôn bán; bằng chế độ thuế
khóa tốt hay xấu [47, tr.788].
Trình độ nhận thức, thói quen suy nghĩ và các phong tục tập quán phản
ánh sự bất bình đẳng kinh tế giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu bám chắc vào
trong óc con ngời, thành t tởng trọng nam khinh nữ và thành thói ứng xử của
ngời đàn ông đối với đàn bà. Đó chính là nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc
văn hóa - xã hội của sự bất bình đẳng nam nữ. T tởng trọng nam khinh nữ, tập
quán gia trởng trở thành quy tắc, thành thông lệ. Tàn tích đó của chế độ nam
trị, chế độ thống trị của toàn thể nam giới đối với toàn thể nữ giới không cần
tới pháp luật bảo vệ vẫn có tác động cỡng chế, điều chỉnh hành vi ứng xử của
ngời đàn ông và đàn bà ngay cả khi cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ
bị phá bỏ. Ăngghen viết:
Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, thì một phần là kết
quả của các điều kiện kinh tế, trong đó có chế độ một vợ một chồng
phát sinh, và phần nữa là một truyền thống của thời kỳ trong đó có
mối liên hệ giữa các điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ một
15
chồng còn cha đợc ngời ta hiểu một cách đúng đắn, và đã bị tôn giáo
thổi phồng lên [49, tr.127].
Không chỉ tôn giáo thổi phồng lên mà cả t tởng, pháp luật của giai cấp
t sản cũng ra sức bảo vệ cho sự bất bình đẳng nam nữ. Học thuyết Mác - Lênin
chỉ rõ rằng cùng với nguồn gốc kinh tế, sự thống trị của đàn ông đối với đàn
bà còn bắt nguồn từ trong nhận thức, niềm tin và thói quen cùng phong tục tập
quán đợc hình thành từ lâu trong lịch sử.
Trên cơ sở phân tích nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của tình
cảnh phụ nữ bị áp bức trong xã hội t bản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác - Lênin đã vạch rõ xu hớng biến đổi địa vị của ngời phụ nữ theo h-
ớng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạng
xã hội chủ nghĩa đối với sự giải phóng phụ nữ. Khi bàn về vấn đề này, C.Mác

nhận thức đợc sâu sắc và ý nghĩa của việc nâng cao bình đẳng nam nữ là góp
phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Thứ t, xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng, hòa thuận, tiến bộ đòi hỏi hôn
nhân phải dựa trên tình yêu chân chính chứ không bị lợi ích kinh tế chi phối.
Theo C.Mác và Ph.Ănghen, sự nghiệp giải phóng phụ nữ chỉ có thể thực
hiện đợc một cách triệt để khi lao động gia đình biến thành lao động xã hội:
Chỉ có thể giải phóng đợc ngời phụ nữ khi ngời phụ nữ có thể
tham gia sản xuất trên một quy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làm
công việc trong nhà rất ít. Nhng chỉ với nền công nghiệp hiện đại, là
nền công nghiệp không những thu nhận lao động của phụ nữ trên quy
mô lớn, mà còn trực tiếp đòi hỏi phải có lao động nữ và ngày càng có
xu hớng hòa tan lao động t nhân của gia đình trong nền sản xuất công
cộng, thì có thể thực hiện đợc điều nói trên [49, tr. 241].
Tuy nhiên, để giải quyết những mâu thuẫn khi thực hiện công việc
trong gia đình và ngoài xã hội, để phụ nữ tham gia công việc xã hội mà không
17
bị lệ thuộc những cản trở từ công việc gia đình, theo Ănghen, cần phải đa
công việc nội trợ của gia đình cá thể thành công việc chung của xã hội - tức là
hòa tan lao động t nhân của gia đình trong nền sản xuất công cộng, biến
công việc nội trợ thành lao động công cộng. T tởng này của Mác - Ăngghen đ-
ợc Lênin kế thừa và phát triển trong điều kiện mới ở nớc Nga Xô viết.
Lênin đánh giá rất cao tiềm năng, vai trò của phụ nữ trong cách mạng:
Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu không có
một phần phụ nữ lao động tham gia rộng rãi [42, tr.18],không thể nào xây
dựng đợc ngay cả chế độ dân chủ - chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã hội nữa,
nếu phụ nữ không tham gia công tác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chính
trị [38, tr. 418]; Nếu một phần lớn phụ nữ lao động không tham gia một
cách tích cực thì không thể có cách mạng xã hội chủ nghĩa đợc [40, tr.220].
Ngời còn khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ và chỉ ra khả năng của họ có
ảnh hởng rất quan trọng đến nguồn lực cách mạng, có mối liên quan mật thiết

khỏi địa vị nô lệ trong gia đình, ra khỏi địa vị lệ thuộc (cái địa vị làm cho họ
ngu muội đi và hạ thấp con ngời họ) vào cảnh suốt đời chỉ có trông nom bếp núc
và con cái [41, tr.222]. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải cải tạo một
cách căn bản cả nền kỹ thuật xã hội lẫn tập quán xã hội [41, tr.222].
Nh vậy, theo quan điểm của Lênin thì không chỉ giải phóng ngời phụ nữ
ngoài xã hội mà còn giải phóng họ ngay trong chính gia đình vì chính ở đây
gánh nặng công việc đang đè lên vai họ, làm cho họ không có điều kiện phát
triển đợc nh nam giới. Muốn thực hiện điều này, theo Lênin, Nhà nớc xô viết
cần đa ra chính sách u tiên đối với phụ nữ: Tất cả phụ nữ lao động có con nhỏ
đều đợc dành thời gian cho con bú vào các khoảng cách nhau không quá 3
giờ, đợc nhận một số tiền phụ cấp và chỉ làm việc 6 giờ mỗi ngày, cấm dùng
phụ nữ lao động ban đêm, phụ nữ đợc nghỉ lao động 8 tuần trớc khi sinh và
vẫn đợc hởng lơng nh thờng lệ, không phải trả tiền chữa bệnh và tiền thuốc.
19
Hơn thế nữa, Lênin đã đánh giá rất cao khả năng và vai trò của phụ nữ
trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa vì theo Lênin, kinh nghiệm của
tất cả các phong trào giải phóng chứng tỏ rằng cách mạng muốn thắng lợi là
tùy thuộc vào mức độ tham gia của phụ nữ. Bởi vậy, trên thực tế chính quyền
xô - viết đã làm hết sức mình để lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc quản lý
Nhà nớc, quản lý xã hội nhằm từng bớc giải phóng phụ nữ. Lênin chỉ ra rằng:
Phụ nữ chỉ đợc giải phóng, đợc phát triển khi họ nhận thức đợc vị trí, vai trò
và khả năng của mình và có ý chí phấn đấu cho sự nghiệp cao cả ấy: việc giải
phóng lao động nữ phải là việc của bản thân phụ nữ. Để thực hiện sự nghiệp
giải phóng, chính bản thân phụ nữ phải ra sức học tập, nâng cao trình độ,
nhanh chóng đuổi kịp nam giới. Chỉ có học tập với trình độ cao thì phụ nữ mới
thực hiện tốt vai trò và phát huy tốt khả năng của mình trong gia đình và ngoài
xã hội.
Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết khoa học, cách mạng của thời đại
ngày nay, là sự kế tục, phát triển t tởng nhân loại về giải phóng phụ nữ. Chủ
nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng nguồn gốc và nguyên nhân cũng nh những

thống lịch sử với những tấm gơng của các anh hùng liệt nữ hy sinh vì dân vì n-
ớc, vì độc lập dân tộc là bằng chứng hùng hồn không thể phủ nhận, có sức
sống mạnh mẽ, trờng tồn trong tâm thức, dân tộc.
Trong diễn trình lịch sử - văn hóa của phụ nữ Việt Nam, có thể nói từ
thời đại Hồ Chí Minh, phụ nữ mới đợc coi nh một lực lợng, một tổ chức với
tầm vóc lịch sử có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất
nớc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm khi đấu tranh cho quyền độc lập của
dân tộc đã đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc của ngời phụ nữ các n-
ớc thuộc địa. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong Th gửi quốc tế cộng
sản, Bản án chế độ thực dân Pháp, Ngời luôn luôn đề cập Nỗi khổ nhục
của ngời đàn bà bản xứ. Trên tờ báo Ngời cùng khổ, trong bài Phụ nữ Việt
21
nam và chế độ đô hộ của Pháp, Ngời viết: Chế độ thực dân tự bản thân nó
đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó đem
ra đối xử đối với trẻ em và phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa.
Từ cảm nhận sâu sắc nỗi khổ nhục của phụ nữ dới chế độ thực dân
phong kiến, Hồ Chí Minh càng ý thức hơn phụ nữ chính là một lực lợng, một
nửa thành công của cách mạng. Trớc khi có một chính Đảng ra đời, trên báo
Thanh niên - cơ quan tuyên truyền của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng
chí hội do Ngời phụ trách đã mở mục Diễn đàn phụ nữ. Trong một tác phẩm
quan trọng viết sau đó, cuốn Đờng cách mệnh (viết năm 1927), Nguyễn ái
Quốc khẳng định: Việt nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành
công, mà nữ giới muốn cách mệnh thì phải theo phụ nữ quốc tế chỉ bảo. Sau
này, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Ngời luôn nhấn mạnh khả
năng cách mạng của phụ nữ và sớm nhận thấy nhân tố góp phần thắng lợi của
cuộc cách mạng ấy chính là phụ nữ: Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có
lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia [52, tr.288]; An Nam cách mệnh
cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công [52, tr.289]. Về sau, trong th
gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm ngày phụ nữ 8-3-1952, Ngời khẳng định: Non
sông gấm vóc nớc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng nh già ra sức dệt thêu mà

phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ [54,
tr.225], Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dỡng, cân
nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể
cả công việc lãnh đạo [55, tr.502]. Hồ Chí Minh cho rằng: không ai thấu hiểu
phụ nữ bằng chính phụ nữ, muốn vận động, bảo vệ, hỗ trợ phụ nữ phải thành
lập tổ chức của phụ nữ. Ngay từ những năm hai mơi của thế kỷ XX trong cuốn
Đờng cách mệnh, Hồ chí Minh đã nói: muốn thế giới cách mệnh thành công,
thì phải vận động đàn bà, con gái công nông các nớc Mỗi Đảng cộng sản
phải có một Bộ phụ nữ trực tiếp thuộc về phụ nữ quốc tế [52, tr.288].
23
Tôn trọng phụ nữ, đánh giá đúng vai trò của phụ nữ, song Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng rất nghiêm khắc đối với phụ nữ. Ngời luôn nhắc nhở phụ nữ
phải ý thức đợc vai trò, vị thế của mình mà phấn đấu cho bản thân và cho dân
tộc. Ngời nói: Đảng, Chính phủ và Bác mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa.
Hiện nay trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít [54, tr.87]. Vì vậy, ngời
nhắc nhở phụ nữ: không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm
học tập, phát huy sáng kiến, tin tởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập
thể, đoàn kết, giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn trong công tác chính
quyền [54, tr.661], phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và
phấn đấu; phải xóa bỏ t tởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cờng, tự
lập [54, tr.294]. Ngời đã chỉ cho phụ nữ Việt Nam thấy rằng, muốn có sự
bình đẳng thực sự, không nên chỉ trông chờ vào ngời khác mà bản thân chị
em phải có chí khí tự cờng, tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho
mình[54, tr.225].
Về con đờng giải phóng phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí minh nhấn mạnh:
Muốn giải phóng phụ nữ thì trớc hết phải giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, thực hiện quyền tự do bình đẳng cho mọi ngời, trong đó có phụ nữ. Để đa
công cuộc giải phóng ấy thắng lợi, để xây dựng xã hội mới thành công, theo
Ngời phải tiến hành làm cách mạng vô sản, mà trớc hết là phải thực hiện thắng
lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Đánh đổ đế quốc phong kiến là một b-

phóng phụ nữ là nội dung và chơng trình cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta tiến hành không chỉ là cuộc cách mạng xã hội gắn liền với giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp mà còn là cuộc cách mạng văn hóa, nhân
văn sâu sắc.
Nếu nh trong cách mạng dân tộc, dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định
Việt nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công thì trong hòa
bình và xây dựng đất nớc Ngời lại nêu: Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội.
25

Trích đoạn Nguyên nhân hạn chế việc phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh Nhóm giải pháp giáo dục nhận thức nâng cao trình độ (bao gồm nhận thức từ phía xã hội các cấp chính quyền và nhận thức của Nhóm giải pháp phát triển kinh tế Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế chính sách Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của hệ thống chính trị (đặc biệt là Hội liên hiệp phụ nữ các cấp) trong việc bồi dỡng nâng cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status