BÁO CÁO
ĐÁNH GIÁ TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG
CÁC DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA
PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
12/2010
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB
Ngân hàng phát triển châu Á
BĐG
Bình đẳng giới
Bộ GD-ĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ LĐTBXH
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Bộ VHTTDL
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CLB TGPL
LHQ
Liên Hợp Quốc
MCNV
Uỷ ban y tế Hà Lan - Việt Nam
PCBLGD
Phòng chống bạo lực gia đình
SDC
Văn phòng hợp tác phát triển Thuỵ Sĩ
SIDA
Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển
TGPL
Trợ giúp pháp lý
TNXH
Tệ nạn xã hội
TVPL
UNIFEM
Quỹ phát triển Liên Hợp Quốc cho phụ nữ
UNODC
Văn phòng ma tuý và tội phạm Liên Hợp Quốc
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
XHDS
Xã hội dân sự
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................................. 1
MỤC LỤC ............................................................................................................................ 2
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................................... 4
GIỚI THIỆU CHUNG ......................................................................................................... 5
1. Bối cảnh nghiên cứu ......................................................................................................... 5
2. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................................... 6
3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................. 6
4. Hạn chế của nghiên cứu ............................................................................................... 100
58
71
2
Danh mục các bảng
Bảng 1:
Những người tham gia nghiên cứu
Bảng 2:
Tỉ lệ hộ nghèo theo vùng qua các thời kì 2006 – 2008
Bảng 3:
Dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ theo vùng và giới tính
Bảng 4:
Mức sinh và mức chết theo dân tộc
Bảng 5:
Nơi sinh và người chăm sóc khi sinh theo tỉnh
Bảng 6:
Một số chỉ tiêu chính có liên quan của các địa bàn nghiên cứu
Bảng 19: Những yếu tố mà người dân coi là quan trọng trong việc sử dụng dịch vụ pháp
lý / trợ giúp pháp lý
Danh mục các hình
Hình 1:
Khung phân tích
Hình 2:
Tỉ lệ nghèo khác nhau giữa các nhóm dân tộc
Danh mục các khung
Khung 1: Các vấn đề liên quan đến hôn nhân gia đình
Khung 2: Tranh chấp đất đai và cách giải quyết của ở Bắc Kạn
Khung 3: Nhận thức của nam giới và nữ giới về trợ giúp pháp lý
3
LỜI CẢM ƠN
Việt Nam từ lâu đã được đánh giá cao vì những cam kết chính trị trong việc đảm bảo
bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới cũng như giữa các dân tộc. Hiến pháp quy định công dân
nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; các
hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ đều bị nghiêm cấm. Tuy
nhiên, trên thực tế thực trạng bình đẳng giới giữa phụ nữ và nam giới vẫn còn những khác
biệt. Nhìn chung, phụ nữ vẫn ở vị trí thiệt thòi hơn so với nam giới trong tất cả các lĩnh vực
của cuộc sống, trong đó phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) chịu thiệt thòi nhất, vừa phải gánh
chịu những bất bình đẳng giới cũng như bất bình đẳng về mặt dân tộc.
Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình được Quốc hội thông qua
năm 2006 và 2007 là những tiền đề quan trọng, tạo ra các cơ sở pháp lý vững chắc để thực
hiện bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Tuy nhiên, ngoài khung pháp lý, để có được bình
GIỚI THIỆU CHUNG
1. Bối cảnh nghiên cứu
Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng, lối sống và văn hoá riêng.
Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 85.7% của tổng dân số1. Người DTTS thường sinh
sống ở khu vực miền núi, ít tiếp cận với các thông tin, cơ sở hạ tầng cũng như các dịch vụ y tế
và giáo dục hơn so với nhóm đa số người Kinh và người Hoa. Tỉ lệ nghèo đói trong các nhóm
DTTS cao hơn nhiều so với các nhóm dân tộc đông dân khác. Theo số liệu Điều tra mức sống
hộ gia đình năm 2008 của Tổng cục thống kê, tỉ lệ nghèo đói trong người DTTS là 49,8%
trong khi đó trong người Kinh và Hoa chỉ là 8,5%. Hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có tỉ lệ
hộ nghèo cao nhất cả nước với 35,9% và 21% số hộ là hộ nghèo. Đây cũng là hai vùng có tỉ lệ
người DTTS sinh sống cao nhất. Tình trạng nghèo đói cùng với điều kiện sinh sống xa xôi và
tiếp cận hạn chế đến dịch vụ đang là các yếu tố làm cho người DTTS trở thành một trong
những nhóm dễ tổn thương và thiệt thòi nhất ở Việt Nam.
Đặc biệt, phụ nữ DTTS còn dễ tổn thương hơn so với nam giới DTTS. Phụ nữ DTTS
thường có ít cơ hội tiếp cận nguồn lực hơn, thiếu quyền sở hữu các phương tiện sản xuất, khả
năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cũng hạn chế hơn. Những chuẩn mực văn hóa trong các
nhóm DTTS cộng với việc nhiều phụ nữ DTTS không nói được tiếng Kinh đang là các rào
cản hạn chế việc tiếp cận của phụ nữ DTTS tới các dịch vụ xã hội cũng như tham gia trong
các quá trình ra các quyết định mang tính chính trị2.
Bất bình đẳng giới được coi là nguyên nhân sâu xa của nghèo đói. Thúc đẩy bình đẳng
giới trong các nhóm DTTS và trao quyền cho phụ nữ DTTS từ lâu đã được cho là căn bản để
xóa đói giảm nghèo có hiệu quả và bền vững. Do sự khác biệt trong phân công lao động theo
giới và khác biệt về văn hóa và tập quán, các nhu cầu của phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo
thường khác so với nhu cầu của nam giới, đặc biệt của phụ nữ DTTS sẽ khác so với phụ nữ
Kinh. Tăng cường sự tham gia và tiếng nói của phụ nữ DTTS trong thiết kế, thực hiện và
giám sát các nỗ lực xóa đói giảm nghèo là yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo các nỗ lực này
đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ. Phụ nữ DTTS khi tiếp cận tốt hơn tới các nguồn lực xóa đói
giảm nghèo, cũng như các dịch vụ giáo dục và y tế sẽ có khả năng tạo thu nhập tốt hơn cũng
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng, và thực hành trong việc thực hiện, giám sát, đánh giá và báo
cáo về Luật BĐG và Luật PCBLGĐ.
- Tăng cường các quan hệ đối tác và sự phối hợp liên quan tới bình đẳng giới trong và ngoài
chính phủ.
- Củng cố được các dữ liệu dựa trên bằng chứng và các hệ thống dữ liệu nhằm đẩy mạnh
bình đẳng giới.
Trong kết quả mong đợi thứ 3, một loạt các hoạt động được tiến hành nhằm thu thập
thông tin và dữ liệu sẽ được sử dụng để vận động và thúc đẩy các chính sách bình đẳng giới
cho các nhóm thiệt thòi và yếu thế trong xã hội. Nghiên cứu về tình hình tiếp cận và sử dụng
các dịch vụ pháp lý hiện hành của phụ nữ DTTS là một hoạt động trong số đó. Viện Nghiên
cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
a. Xem xét đánh giá mức độ tiếp cận với các dịch vụ pháp lý trong 8 lĩnh vực của Luật BĐG
của phụ nữ và nam giới DTTS;
b. Xem xét và đánh giá tình hình bình đẳng giới trong các nhóm DTTS dựa trên 8 lĩnh vực
của Luật BĐG: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ,
thông tin và thể thao, sức khoẻ cộng đồng và gia đình;
c. Xác định được những thiếu hụt về số liệu trong việc đánh giá tiến độ thực hiện Luật BĐG
và Luật PCBLGĐ trong các nhóm DTTS;
d. Xem xét những kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tiếp cận dịch vụ pháp lý trong các nhóm
DTTS và bản địa;
e. Đưa ra đề xuất tăng cường tiếp cận dịch vụ pháp lý trong các nhóm DTTS.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1.Khung phân tích tiếp cận tới dịch vụ pháp lý
Khái niệm dịch vụ pháp lý
Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn cho khái niệm dịch vụ pháp lý. Từ điển
Bách khoa toàn thư Việt Nam có nêu lên định nghĩa dịch vụ như sau:
Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất, kinh
doanh và sinh hoạt. Tuỳ theo trường hợp, dịch vụ bao gồm: một công việc ít nhiều
cung cấp sẽ có tương tác giữa 2 bên – đó là khi bên có nhu cầu đã tiếp cận được dịch vụ và
nhu cầu được đáp ứng. Tuy nhiên, vẫn có giả định rằng có những trường hợp có cung và có
cầu nhưng vẫn chưa dẫn tới việc sử dụng dịch vụ. Điều này có thể do cung chưa thực sự phù
hợp với cầu hoặc có những rào cản hạn chế việc sử dụng các dịch vụ này của phụ nữ hoặc
nam giới DTTS ngay cả khi họ có nhu cầu có thể là chi phí (giá dịch vụ, chi phí đi lại, các chi
phí khác liên quan, chi phí cơ hội cho thời gian bỏ ra), bất đồng ngôn ngữ, những chuẩn mực
xã hội và định kiến giới...
Nghiên cứu về sự tiếp cận đến dịch vụ pháp lý là việc xem xét cả hai phía cung và cầu
của mối tương tác để đánh giá xem cung phù hợp với cầu ở mức độ nào (hình 1). Cả bên cung
và bên cầu đều sống trong một môi trường bị chi phối bởi các hành lang pháp lý liên quan tới
dịch vụ pháp lý, bởi văn hóa và thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý… Chính vì vậy, nghiên
cứu sẽ xem xét bên cung và bên cầu trong mối quan hệ với môi trường chung này, để tìm hiểu
xem ảnh hưởng của môi trường này lên cung và cầu dịch vụ pháp lý như thế nào.
Tiếp cận đến dịch vụ pháp lý là một điều kiện để đảm bảo công lý và bình đẳng giới.
Khi người phụ nữ tiếp cận được dịch vụ pháp lý, họ sẽ hiểu rõ hơn về các quyền và nghĩa vụ
hợp pháp của bản thân, được tư vấn, hướng dẫn hay hỗ trợ để yêu cầu các quyền hay thực thi
trách nhiệm. Nói cách khác, kết quả của việc tiếp cận đến dịch vụ pháp lý là việc bình đẳng
giới được bảo đảm. Nghiên cứu chính vì vậy cũng sẽ tìm hiểu tác động và ảnh hưởng của việc
tiếp cận dịch vụ pháp lý lên tình trạng bình đẳng giới
Cụ thể, nghiên cứu sẽ trả lời cho các câu hỏi chính sau:
o Nguồn cung của dịch vụ pháp lý: tính sẵn có của dịch vụ pháp lý hiện nay như thế
nào? Nguồn cung này phù hợp thế nào so với nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của
phụ nữ và nam giới DTTS?
o Tình hình sử dụng dịch vụ pháp lý của phụ nữ và nam giới DTTS như thế nào?
Mức độ tiếp cận các dịch vụ pháp lý hiện nay của phụ nữ DTTS đã đáp ứng đến
đâu so với nhu cầu về dịch vụ pháp lý của họ? Các nhu cầu chưa được đáp ứng là
gì? Mức độ tiếp cận này khác thế nào so với mức độ tiếp cận dịch vụ pháp lý của
nam giới DTTS và các nhóm xã hội khác? Tại sao lại có sự khác biệt này?
o Các yếu tố cản trở tiếp cận dịch vụ pháp lý của phụ nữ DTTS là gì? Các chiến lược
chính để nâng cao tiếp cận dịch vụ pháp lý của phụ nữ và nam giới DTTS là gì?
b. Nghiên cứu thực địa
Dựa trên những kết quả rà soát tài liệu, nghiên cứu thực địa đã được tiến hành. Nghiên
cứu thực địa nhằm khẳng định lại các phát hiện từ rà soát tài liệu và tìm kiếm thêm những
thông tin còn thiếu hụt. Cụ thể, nghiên cứu thực địa tập trung vào các sau đây:
- Tìm hiểu nhu cầu dịch vụ pháp của phụ nữ và nam giới DTTS ở vùng nghiên cứu;
- Tìm hiểu việc sử dụng các dịch vụ pháp lý hiện tại của phụ nữ và nam giới DTTS ở vùng
nghiên cứu;
- Đánh giá tác động của việc tiếp cận dịch vụ lên bình đẳng giới (nếu có) tại các vùng
nghiên cứu.
Hai tỉnh Bắc Cạn và An Giang đã được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu thực địa. Hai
tỉnh này có những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tương đối khác biệt. Bắc Cạn là một
8
tỉnh miền núi phía bắc với các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh và một số các dân tộc ít
người khác. An Giang là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long, có đường biên giới dài
với Cam-pu-chia. Ngoài nhóm người Kinh là nhóm đa số thì ở An Giang có hai nhóm dân tộc
thiểu số chính là Khơ Me và người Chăm. Ở mỗi tỉnh, nhóm nghiên cứu chọn một huyện và ở
mỗi huyện chọn hai xã để nghiên cứu sâu. Do người DTTS sinh sống ở các vùng đặc biệt khó
khăn là đối tượng được hưởng trợ giúp miễn phí, nhóm nghiên cứu lựa chọn ở mỗi huyện một
xã thuộc Chương trình 135 và một xã không thuộc Chương trình 135 để có thể so sánh sự
khác nhau giữa hai nhóm xã này. Từ việc rà soát tài liệu cho thấy, việc sử dụng các dịch vụ
pháp lý của người dân nói chung và người DTTS nói riêng vẫn còn hạn chế, nhóm nghiên cứu
chú trọng chọn trong hai tỉnh những huyện đã có các can thiệp cung cấp dịch vụ pháp lý để
tăng khả năng nghiên cứu được những người đã sử dụng dịch vụ. Huyện Chợ Mới tại Bắc Cạn
hiện đang có dự án LARC II do tổ chức CARE hỗ trợ. Dự án thành lập và duy trì hoạt động
của các câu lạc bộ Pháp luật và đời sống dành cho chị em phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo.
Huyện Tri Tôn ở An Giang là một trong hai huyện của tỉnh có trung tâm trợ giúp pháp lý
đang hoạt động.
Tại các điểm thực địa, nhóm nghiên cứu đã áp dụng cả phương pháp định lượng và
Nam giới DTTS
0
Thảo luận nhóm
11 (55 người)
Phụ nữ Kinh
1 (5 người)
Phụ nữ DTTS
6 (35 người)
Nam giới DTTS
4 (20 người)
Người cung cấp dịch vụ
Phỏng vấn sâu
11
Sở và Phòng Lao động thương binh và xã hội
1
Trung tâm và chi nhánh Trợ giúp pháp lý
2
Sở Tư Pháp
2
Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh
1
Cán bộ UBND và tư pháp xã
5
9
An Giang
255
109
93
53
số liệu hiện có về người DTTS cũng không được phân chia theo giới tính.
Một hạn chế nữa cho việc rà soát tài liệu là sự thiếu vắng các tài liệu, nghiên cứu về
dịch vụ pháp lý, đánh giá tiếp cận dịch vụ pháp lý ở Việt Nam nói chung và trong nhóm
DTTS nói riêng. Các nội dung về giáo dục pháp luật hay trợ giúp pháp lý cho người DTTS
thường chỉ được đề cập sơ sài trong các báo cáo chung về xóa đói giảm nghèo cho người
DTTS. Đối với các báo cáo về dịch vụ pháp lý hay trợ giúp pháp lý thì nội dung tiếp cận và sử
dụng dịch vụ pháp lý của người DTTS cũng không được đề cập thỏa đáng. Hơn nữa, các tài
liệu hiện có vẫn chưa nhìn đến khía cạnh kết quả của việc tiếp cận dịch vụ pháp lý nhằm đạt
được công bằng xã hội, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người DTTS và bình đẳng giới.
Đối với nghiên cứu thực địa, do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên không thể tiến
hành nghiên cứu ở nhiều khu vực khác nhau, với nhiều nhóm dân tộc khác nhau và với số
mẫu lớn hơn. Phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến hai vấn đề lớn còn bỏ ngỏ, nhưng lại rất
đặc thù là bình đẳng giới trong người DTTS và tiếp cận dịch vụ pháp lý nhưng nghiên cứu
thực địa lại chỉ được thực hiện ở hai địa phương có tính đặc thù cao như huyện Chợ Mới (Bắc
Cạn) và nhóm dân tộc Khơ Me ở An Giang do đó chưa thể đảm bảo tính đại diện cho cộng
đồng DTTS đa dạng ở Việt Nam. Việc đánh giá về tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý của
phụ nữ DTTS chính vì thế phải dựa chủ yếu vào các nguồn thông tin thứ cấp, mà các nguồn
này cũng bị hạn chế bởi sự lựa chọn có sẵn về các nhóm dân tộc và các vùng địa lý, trong khi
đó, thực trạng bình đẳng giới và tiếp cận dịch vụ pháp lý sẽ khác nhau giữa các dân tộc và các
vùng. Trong tương lai, sẽ cần có nhiều nghiên cứu tiếp tục đánh giá việc tiếp cận dịch vụ pháp
lý của phụ nữ và nam giới DTTS ở các vùng miền và các nhóm DTTS khác nhau.
Do hạn chế về nguồn lực, nhóm nghiên cứu chỉ có thể phỏng vấn 500 người bằng
bảng hỏi. Con số này không đủ lớn để có đủ số người đã sử dụng dịch vụ cần thiết đảm bảo sự
tin cậy về thống kê để đánh giá mức độ hài lòng với dịch vụ hoặc tác động của tiếp cận dịch
vụ lên cuộc sống của người dân. Do vậy, chúng tôi không có đủ bằng chứng thực tế để viết về
hệ quả của việc tiếp cận hoặc không được tiếp cận đến dịch vụ pháp lý lên bình đẳng giới.
Rào cản về ngôn ngữ khiến cho nhóm nghiên cứu trong nhiều trường hợp đã không
thể thảo luận trực tiếp với người dân. Ở An Giang, phần lớn các phỏng vấn bảng hỏi, phỏng
vấn sâu và thảo luận nhóm đều phải thực hiện thông qua phiên dịch. Những kiến thức và ngôn
ngữ phức tạp liên quan đến dịch vụ pháp lý đòi hỏi người phiên dịch cũng phải có hiểu biết
khu vực khác nhau. Đặc điểm này có đã lâu đời ở các vùng người DTTS ở phía Bắc và đang
dần xuất hiện ở các khu vực khác như Tây Nguyên7. Sự phân bố rải rác của một nhóm DTTS
trên nhiều địa phương hay đan xen các nhóm DTTS trong cùng một địa bàn cùng với sự đa
dạng về văn hóa, ngôn ngữ và mức độ phát triển giữa các nhóm DTTS ở Việt Nam đang đặt
ra thách thức cho các chính sách ở các địa phương có đông người dân tộc và các chính sách
đối với người DTTS. Các chính sách không những phải quan tâm đến vấn đề người DTTS mà
còn phải quan tâm đến sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc thì mới tránh không tạo ra những
bất bình đẳng vốn đã có.
2. Nghèo đói và các nguyên nhân chính của nghèo đói trong người DTTS
Mặc dù Việt Nam đang đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc xóa đói giảm nghèo
nhưng các kết quả giảm nghèo cũng như tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng
địa lý và các nhóm người. Nghèo đói hiện vẫn đang tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn
so với đô thị (tỉ lệ 6,7% ở thành thị so với 16,1% ở nông thôn), trong các nhóm DTTS so với
nhóm người Kinh và người Hoa. Năm 2008 tỷ lệ nghèo ở các hộ gia đình người Kinh và
người Hoa chỉ là 8,5%, trong khi tỷ lệ này ở các nhóm dân tộc khác bình quân là 49,8%8.
Những vùng có đông người DTTS như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên hay Bắc Trung Bộ có tỉ lệ
nghèo cao hơn các vùng khác trong cả nước.
Vùng
Đồng bằng sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam Trung Bộ
7
8
Tỷ lệ hộ nghèo 2006 (%) Tỷ lệ hộ nghèo 2008 (%)
10.1
8.7
22.2
42% thì ở người Tày chỉ là 19%. Số liệu điều tra mức sống hộ gia đình 2006 cho thấy nghèo
đói tập trung nhiều hơn trong các nhóm DTTS ở Tây Nguyên và một số nhóm ở miền Bắc,
trong khi đó các nhóm khác như Tày và Mường có mức sống gần như tương đương với người
Kinh9. Hình 2 cho thấy có sự khác biệt lớn về tỉ lệ nghèo trong các nhóm DTTS khác nhau
qua các thời kì. Cách tính toán nghèo đói không phân tách theo dân tộc đang phổ biến hiên
nay không thể hiện được mức độ khác biệt giữa các dân tộc.
Hình 2: Tỉ lệ nghèo khác nhau giữa các nhóm dân tộc10
Về khía cạnh giới, cách thức tính toán nghèo đói theo hộ không cho phép nhìn nhận
khía cạnh giới của nghèo đói. Cho dù sống cùng một hộ gia đình nhưng sự khác biệt về giới
tính và tuổi tác của từng thành viên đang ảnh hưởng đến Tài sản; Khả năng và Tiếng nói của
mỗi thành viên. Ba yếu tố này được Báo cáo Phân tích xã hội quốc gia Dân tộc và Phát triển ở
Việt Nam năm 2009 cho rằng ảnh hưởng rất nhiều lên kết quả giảm nghèo. Phụ nữ và nam
giới DTTS với phân công lao động khác nhau theo giới, với những bất bình đẳng giới vốn có
trong gia đình, chắc chắn có tiếp cận đến tài sản, năng lực và tiếng nói khác nhau, trong đó
phụ nữ DTTS thường ở vị trí bất lợi hơn. Sự khác biệt giới này cũng làm cho việc hưởng thụ
kết quả của các chính sách giảm nghèo hiện nay của phụ nữ và nam giới DTTS không giống
9
Báo cáo phân tích xã hội quốc gia về Dân tộc và Phát triển ở Việt Nam – Ngân hàng thế giới 2009
Hình vẽ được sử dụng từ Báo cáo phát triển Việt Nam 2008 – Bảo trợ xã hội, Ngân hàng thế giới, 2007
10
12
nhau. Phân phối lợi ích từ các chương trình giảm nghèo tới hộ gia đình không có nghĩa là tất
cả các thành viên trong gia đình đều được hưởng lợi một cách công bằng. Chính vì vậy, đưa
vấn đề giới vào các chương trình giảm nghèo là điều hết sức cần thiết để đảm bảo xóa đói
DTTS còn thấp hơn. Trong số hơn 3000 hộ tham gia điều tra nông thôn năm 2008, số hộ
dùng tiếng Việt ở những vùng núi phía bắc như Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên rất thấp,
từ 8,3% (Điện Biên) đến 38,3% (Lào Cai). Không nói được tiếng Việt cùng với các điều
kiện địa lý khó khăn đã góp phần làm hạn chế tiếp cận của người DTTS tới các dịch vụ xã
hội khác. Yếu tố ngôn ngữ, do đó, luôn phải được cân nhắc khi thiết kế hay xây dựng các
chương trình truyền thông, tư vấn hay hỗ trợ cho người DTTS. Báo cáo phân tích tình
hình giới ở Việt Nam của ADB đã xác định vấn đề tụt hậu của phụ nữ và trẻ em gái so với
nam giới DTTS và phụ nữ Kinh và Hoa trong tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và cơ hội
kinh tế là điểm cần chú ý đầu tiên nhằm giúp cho các nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới đi
đúng hướng và đạt hiệu quả14.
Ít các vốn vật chất hơn so với người Kinh: các nhóm DTTS ở Việt Nam sống chủ yếu
bằng nông nghiệp và lâm nghiệp nên đất đai có ý nghĩa vô cùng to lớn. Một thực tế đối
11
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 – Tổng cục Thống kê, 2009
Trích dẫn trong Báo cáo “What education for the ethnic minorities of Vietnam: Pre-shooling as a partern of
social integration”, Nguyen Van Phu, Aide et Action
13
Báo cáo phân tích xã hội quốc gia về Dân tộc và Phát triển ở Việt Nam – Ngân hàng thế giới 2009
14
Báo cáo Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam, Ngân hàng Phát triển châu Á, 2006
12
13
trình giảm nghèo chưa hoàn toàn phù hợp với người DTTS: các kết quả và đóng góp
của các chương trình giảm nghèo trong việc cải thiện cuộc sống của người nghèo nói
chung và người DTTS nói riêng là không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, trong cách thức
triển khai các chương trình này vẫn còn những điểm chưa hoàn toàn phù hợp với người
DTTS. Sự tham gia của người dân nói chung vẫn còn hạn chế, đặc biệt là của người DTTS
vì các lý do như thiếu thông tin, năng lực của cán bộ còn hạn chế và khả năng nói tiếng
Việt kém của người dân. Do đó dẫn đến tình trạng các hoạt động của dự án không hoàn
toàn phù hợp với mong muốn của người dân, thiếu tính giải trình trong các mục tiêu của
dự án cũng như phân bổ ngân sách16. Mai Thanh Sơn và cộng sự trong một nghiên cứu đã
đưa ra khuyến nghị cho các chương trình/chính sách hướng tới người DTTS phải được
xây dựng trên cơ sở trân trọng sự đa dạng văn hóa của các tộc người và quan tâm tới tri
thức bản địa của người DTTS; nâng cao dân chủ cơ sở, tiếng nói và quyền của người
DTTS; và tăng cường khả năng thích ứng với quá trình hội nhập và phát triển cho các
nhóm thiểu số17.
Mặc dù chưa được nghiên cứu nhiều, nhưng vấn đề định kiến và quan niệm rập khuôn về
người DTTS bắt đầu được nói đến như các yếu tố làm giảm đi hiệu quả của các chương
trình giảm nghèo cho người DTTS. Mặc dù pháp luật Việt Nam thừa nhận sự bình đẳng
giữa các dân tộc, tình trạng định kiến đối với người DTTS còn khá phổ biến trong nhiều
nhóm xã hội khác nhau, với các quan niệm phổ biến về người DTTS là lạc hậu, lười
15
Báo cáo phân tích xã hội quốc gia về Dân tộc và Phát triển ở Việt Nam – Ngân hàng thế giới 2009
Nhìn lại quá khứ, đối mặt thách thức – Đánh giá giữa kì Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và
Chương trình 135-II giai đoạn 2006-2008, Bộ LĐTBXH, Ủy ban dân tộc và UN, 2009
17
Bước đầu tổng kết các phương pháp phát triển và tìm kiếm các cơ chế nhằm nâng cao tiếng nói của cộng đồng
dân tộc thiểu số trong quá trình ra quyết định, Mai Thanh Sơn và cộng sự, Nhóm công tác Dân tộc thiểu số, 2007
16
17 so với 3,5% ở người Kinh và 2,4% ở người Hoa22. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì
ba nhóm Thái, Mông và Dao có tỷ lệ em gái đi học thấp hơn hẳn so với em trai. Chỉ có 31,5%
em gái H’Mông đi học so với 93,4% em gái người Kinh. Ở Dăk Nông, học sinh H’Mông đi
học chỉ toàn là nam23. Trẻ em gái chiếm 70% tổng số trẻ em bỏ học. Trong hoàn cảnh nghèo
khó, mặc dù đã có chính sách miễn giảm học phí nhưng các chi phí khác cho việc học cũng là
gánh nặng kinh tế và trẻ gái sẽ phải nghỉ học trước tiên.
Điều này đã dẫn đến tỉ lệ cao và không đồng đều về dân số không biết chữ trong các
nhóm DTTS, thể hiện ở Bảng 4. Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tỉ lệ phụ nữ từ
5 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường ở các tỉnh có đông người DTTS đều cao hơn tỉ lệ của
nam và cao hơn nhiều so với tỉ lệ ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh24.
18
Báo cáo phân tích xã hội quốc gia về Dân tộc và Phát triển ở Việt Nam – Ngân hàng thế giới 2009
Báo cáo phân tích xã hội quốc gia về Dân tộc và phát triển ở Việt Nam – Ngân hàng Thế giới, 2009
20
Báo cáo phân tích xã hội quốc gia về Dân tộc và Phát triển ở Việt Nam – Ngân hàng thế giới 2009
21
Oxfam Hong Kong. 2010. Tổng hợp và đánh giá dự án VTM-90007-01-0910A. Chương trình sinh kế hợp tác
giữa OHK và OGB tại huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông
22
Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ DTTS trong công tác quản lý, Tạp chí dân tộc học 2: 1994, Vũ Đình Lợi,1994
23
Oxfam Hong Kong. 2010. Tổng hợp và đánh giá dự án VTM-90007-01-0910A. Chương trình sinh kế hợp tác
giữa OHK và OGB tại huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông
24
Kết quả Tổng điều tra dân số 2009, Tổng cục thống kê, 2009
19
96,2
94,9
81,9
94,5
75,6
46,0
77,6
97,6
96,6
90,9
96,3
80,9
62,5
84,5
94,9
phụ nữ Kinh cao hơn của các nhóm dân tộc khác ngoài Tày, Thái, Mường, Khmer và H’Mông ở
mức 76,7 tuổi so với 70,9 tuổi, và cao hơn đáng kể so với nhóm phụ nữ H’Mông là 67,5 tuổi.
Liên quan đến các nội dung trong sức khỏe sinh sản, phụ nữ DTTS thường sinh nhiều con hơn
so với phụ nữ người Kinh. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong sơ sinh trong các nhóm DTTS cao hơn rất
nhiều lần so với nhóm người Kinh ở mức 32% so với 12,9% năm 2009. Cá biệt, trong các
nhóm như H’Mông thì tỉ lệ này lên tới 45,5% (Bảng 4).
Bảng 4: Mức sinh và mức chết theo dân tộc26
H’Mông
Khmer
Thái
Tày
Kinh
Tổng tỷ suất sinh trong 12 tháng qua (con/phụ nữ)
Tỷ suất sinh thô trong 12 tháng qua
(trẻ sinh sống/1000 dân)
Tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi trong 12 tháng qua (trẻ
dưới 1 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống)
Mường
Mức sinh và mức chết
Các
dân
tộc
Tại nhà
Tại cơ sở y tế
2003 2005 2003
2005
11
4.1
89
95.9
Người chăm sóc khi sinh con
Nhân viên y tế
Người khác
2003
2005
2003 2005
91.7
98.8
8.3
1.2
25
Tổng điều tra dân số năm 2009, Tổng cục Thống kê, 2009
Tổng điều tra dân số năm 2009, Tổng cục Thống kê, 2009
27
Việc cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại 11 tỉnh thuộc dự án hỗ trợ của UNFPA tại
Việt Nam năm 2006, UNFPA
26
16
100
58.1
92.4
97.4
100
57.5
10.2
6.9
0
41.9
7.6
2.6
0
Nguồn: Báo cáo: việc cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại 11 tỉnh
thuộc dự án hỗ trợ của UNFPA tại Việt Nam năm 2006
Tỉ lệ nhiễm HIV ngày càng gia tăng ở các tỉnh miền núi phía Bắc nơi có đông người
DTTS sinh sống. Theo báo cáo của Cục phòng chống AIDS trong năm 2009, 7/10 tỉnh có tỉ
suất hiện nhiễm trên 100.000 dân cao nhất là các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc nơi có đông
người DTTS sinh sống là Điện Biên, Thái Nguyên, Sơn La, Yên Bái, Bắc Cạn, Cao Bằng và
Quảng Ninh với tỉ lệ ở Điện Biên cao nhất là 599 người/100.000 dân. Song song với tình
trạng này là tính dễ tổn thương ngày càng cao của phụ nữ DTTS với lây nhiễm HIV. Mặc dù
phần lớn người nhiễm HIV ở các tỉnh này là nam giới và đường lây chủ yếu là qua tiêm chích
ma túy. Bạn tình của những người này thường không có kiến thức và hiểu biết về tình dục an
toàn, tiếp cận kém đến các dịch vụ sức khỏe tình dục và không có đủ tự tin và kĩ năng cũng
như các rào cản văn hóa để thương thuyết tình dục an toàn.
Về hưởng lợi từ các chương trình y tế, Báo cáo đánh giá xã hội quốc gia chỉ ra rằng
phát triển và tìm kiếm các cơ chế nhằm nâng cao tiếng nói của cộng đồng DTTS trong quá trình ra quyết định
do Khúc Thị Thanh Vân và Nguyễn Trung Dũng thực hiện năm 2008 cho Oxfam Hong Kong cho thấy các
công việc của nam giới ví dụ như phát nương, cày cuốc, làm rẫy, cày bừa, phun thuốc sâu, làm nhà, mua bán,
chăn nuôi, các công việc cho phụ nữ như tỉa trồng, cày cáy, chăm sóc mùa vụ sau khi xuống giống, nấu nướng,
chăm sóc con cái và các thành viên trong gia đình hàng ngày và khi ốm đau, lấy củi
29
17
gian làm cho nam giới là người thường ra ngoài để tiến hành các công việc mua bán và giao
tiếp với người ngoài. Báo cáo Phân tích xã hội quốc gia năm 2009 cho thấy không giống như
người Kinh, đàn ông DTTS đi chợ nhiều hơn phụ nữ DTTS, cho dù việc đi chợ của người
DTTS không nhất thiết phải có mua bán như người Kinh. Một nghiên cứu của Ram bo và
cộng sự về người Kinh, Tày, Thái và H’Mông ở vùng núi phía Bắc cho thấy vai trò vốn có
của nữ giới tại phần lớn các xã hội vùng cao [ở Việt Nam] bị giới hạn và gần như bị gói gọn
trong phạm vi gia đình, hoặc là gia đình nhà mình hoặc nhà chồng sau khi kết hôn với vai trò
chăm sóc gia đình. Danh tiếng xã hội của người phụ nữ trước hết dựa trên thành công mà họ
có được khi đảm đương những vai trò này, đặc biệt là mức độ chăm lo của họ dành cho gia
đình mình32… Các nhóm dân tộc mẫu hệ ở Tây Nguyên cho thấy, mặc dù phụ nữ người Ede,
Mnong, và J’rai có tiếng nói quyết định hơn trong gia đình, phân công lao động giới ở những
cộng đồng này cũng không khác nhiều so với các dân tộc phụ hệ. Phụ nữ Ede thường có trách
nhiệm lo cơm nước, làm việc nhà và chăm sóc những thành viên trong gia đình trong khi lao
động trên nương rẫy được giao cho nam giới. Việc phân công lao động như thế này đã dẫn
đến việc phụ nữ DTTS phải làm việc nhiều hơn và các công việc của họ làm thường không
được công nhận. Phụ nữ Vân Kiều ở Đakrong, Quảng Trị trung bình làm việc từ 10 đến 12
giờ so với nam giới từ 4 đến 5 giờ33. Một số các nghiên cứu khác như của Rambo ở vùng núi
phía Bắc cũng cho thấy thời gian làm việc của phụ nữ DTTS thường dài hơn so với nam giới.
Nghiên cứu với người Khơ Mú, Thái đen và người Tày năm 2004 của Isabel Fischer và Tina
Beuchelt ở Sơn La và Bắc Cạn cũng cho thấy khi phụ nữ nấu ăn thì nam giới thường nghỉ
Fischer, I và Beuchelt, T., Make natural resources last by changing women’s access to assets – experiences
from northern Vietnam. Trình bày tại Hội nghị quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp cho phát triển, StuttgartHohenheim, Germany, 10/2005 tải về từ />35
Như trên
36
Nguyễn Thị Thanh Tâm, Một số nét về bình đẳng giới ở các DTTS (qua khảo sát một số địa bàn tại Sa Pa).
Tạp chí Nghiên cứu giới và gia đình số 2. 2006. Viện Gia đình và giới, 2006
18
và quyền sở hữu đất đai của phụ nữ37. Việc sở hữu tài sản có mối liên hệ đặc biệt tới vai trò và
địa vị trong gia đình. Phổ biến là người sở hữu tài sản sẽ là người có quyền quyết định, được
tiếp cận tới vốn và các khóa học về kĩ thuật. Điều này đã được chỉ ra trong báo cáo của Hoàng
Bá Thịnh hay báo cáo của Mai Thanh Sơn và cộng sự và báo cáo của Lê Thị Lý cho thấy nam
giới đi vay vốn hay tham gia các lớp tập huấn khuyến nông nhiều hơn, đặc biệt sau khi có
chính sách giao đất giao rừng cho người dân.
Chính sách đưa cả tên vợ và chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bắt đầu
được thực hiện nhưng kết quả còn vẫn rất khiêm tốn. Theo báo cáo nghiên cứu Đặc điểm kinh
tế nông thôn Việt Nam – kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2008 tại 12 tỉnh thì thấy
số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đăng ký tên cả vợ và chồng (năm 2006-2008), tại
Lai Châu chỉ có 32%, Lào Cai là 27% và Đắc Lắc là 17%. Đây cũng là 3 tỉnh có số chủ hộ là
người DTTS tham gia nghiên cứu nhiều nhất với Lào Cai là 75,5%, Lai Châu là 85,9%, Đắc
Lắc là 36,4%38 (trong tổng số hơn 3000 hộ tham gia nghiên cứu). Đối với đất nông nghiệp,
trong khi 36% giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người Kinh/Hoa được cả phụ nữ và
nam giới đứng tên, thì con số này ở người dân tộc thiểu số là 21%. Tỉ lệ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với đất ở không có tên cả vợ lẫn chồng trong các nhóm DTTS là 77%.
Tuy nhiên, một số báo cáo cũng ghi nhận việc ngay cả khi có tên trong sổ đỏ, nhiều phụ nữ
DTTS vẫn chưa thể tận dụng được cơ hội này do sự phụ thuộc vào nam giới vốn đã rất lớn
của họ hay tâm lý thiếu tự tin của họ39.
Tình trạng bạo lực gia đình được nêu lên ở mức độ đáng báo động trên cả nước. Theo
41
Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2009
38
19
nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ DTTS có nội lực, nhiều tiềm năng để tự phát triển và phát
triển cộng đồng và địa phương họ. Nghiên cứu của Lê Kim Lan về người Bru Vân Kiều cho
thấy đóng góp của phụ nữ Bru-Vân Kiều vào thu nhập gia đình cao hơn nam giới phù
hợp với mức độ đóng góp về hạng mục công việc và thời gian của nam và nữ. Phụ nữ
Bru-Vân Kiều phụ trách hầu hết mọi khâu từ chọn giống, chăm bón đến thu hoạch trong
việc trồng cây hoa màu và cây ăn quả, và trong chăn nuôi42. Nghiên cứu của Dương Bích
Hạnh với nữ thanh niên H’Mông ở Sapa cũng cho thấy những nữ thanh niên này đã tham
gia tích cực vào thị trường du lịch ở Sapa, đóng góp vào kinh tế cho gia đình, thậm chí
trở thành độc lập về kinh tế - điều chưa từng có với phụ nữ Hmong. Những người phụ
nữ Hmong ở Sapa đã trở thành những người đóng góp chủ chốt cho kinh tế. Những nữ
thanh niên này đã thách thức những vai trò giới truyền thống trong cộng đồng của họ
cũng như làm thay đổi quan niệm của người dân địa phương và khách du lịch đến Sapa
về người phụ nữ DTTS. Sự thay đổi trong vai trò giới này đã dẫn theo những sự thay
đổi khác trong xã hội, ví dụ có sự phân khúc trong quy trình sản xuất hàng thủ công, hay
phát triển những lao động làm thuê, làm các công việc gia đình hay đồng áng thay cho
những người phụ nữ Hmong đang tham gia trong thị trường du lịch 43. Do đó, các nỗ lực
hướng tới phụ nữ DTTS không nên chỉ coi họ là những nạn nhân cần hỗ trợ mà ngược
lại cần trân trọng và tạo điều kiện để phát huy kiến thức và tri thức bản địa của họ.
Các tộc người ở Việt Nam rất đa dạng và khác nhau về văn hóa, phong tục tập quán và
các điều kiện kinh tế xã hội và cả mối quan hệ giới. Trong mỗi cộng đồng, cách thức phân
công trách nhiệm giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội, các giá trị và mong đợi
đối với phụ nữ và nam giới… trong một cộng đồng - tất cả đều có căn nguyên sâu xa từ văn
hóa và là một phần của văn hóa. Để đảm bảo công bằng và bình đẳng giới, cần phải hiểu rõ
20
sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn quan hệ xã hội, quan hệ con
người với thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy của cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó
đã tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng ”44. Luật tục dựa nhiều trên sự tự
giác, tự nguyện của mỗi thành viên trong cộng đồng và chứa đựng bản sắc văn hoá độc
đáo của mỗi tộc người.
Luật tục, ở một phạm vi nhất định cũng có vai trò, giá trị xã hội quan trọng như pháp
luật: đó là điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì và ổn định một trật tự xã hội của cộng
đồng45. Trong các cộng đồng người DTTS, nơi các giá trị cộng đồng vẫn được trân trọng thì
vai trò của luật tục trong đời sống xã hội rất cao. Luật tục có tính quy phạm và cưỡng chế cao
nhưng lại mang tính tự nguyện và răn đe nhiều hơn là trừng phạt, nên nó có thể đóng vai trò
bổ sung cho hệ thống pháp luật, đặc biệt khi các quy định của pháp luật đôi khi là phức tạp và
không gần gũi với các cộng đồng DTTS. Ở một khía cạnh nhất định việc áp dụng luật tục sẽ
vừa phần nào đảm bảo thỏa mãn được yêu cầu trân trọng sự đa dạng văn hóa và tri thức bản
địa của từng tộc người. Trên thực tế, luật tục vẫn được sử dụng ở nhiều cộng đồng DTTS.
Một nghiên cứu với 90 phụ nữ Ê Đê cho thấy có đến 55 người hiểu rõ về luật tục, đặc biệt
là các quy định liên quan đến hôn nhân gia đình. Ngay cả ở những nơi mà người Ê Đê và
người Kinh sống xen kẽ nhau thì hầu hết các bất hòa hay phân chia tài sản trong gia đình
đều được giải quyết bằng luật tục. Hầu hết phụ nữ trong nghiên cứu đều cho là người Ê Đê
nên sử dụng luật tục để phân xử 46.
Một điểm khác cũng đáng chú ý là luật tục mang tính phổ biến trong phạm vi một tộc
người nhất định và có thể thay đổi cho phù hợp với bối cảnh. Do đó, khả năng song hành của
luật tục với luật pháp để cùng hướng tới mục đích công bằng và trật tự xã hội đặt ra vấn
đề phải nhìn nhận vai trò của luật tục trong đời sống của người DTTS và tính đến luật tục
trong quá trình ra các chính sách hay xem xét khả năng sử dụng luật tục để quản lý cộng
đồng một cách chính thức.
Tuy nhiên, không phải lúc nào luật tục cũng hoàn toàn thống nhất với luật pháp và
đảm bảo tính bình đẳng. Ví dụ một số dân tộc như người Chăm hoặc người Raglai ở
quan trọng. Trong các tranh chấp, nhất là những vụ kiện không có chứng cứ rõ ràng như
khi phụ nữ bị ruồng bỏ, hay phân chia tài sản thì những gì phụ nữ khai đều được coi là
đúng sự thực (Thu Nhung Mlô, Luật tục với phụ nữ Ê Đê xưa và nay). Những nghiên cứu
về những quy định của luật tục có liên quan đến vai trò, trách nhiệm và quyền của phụ nữ
của các nhóm DTTS xem mức độ khác biệt đến đâu so với pháp luật và liệu duy trì các
luật tục như vậy trong các ứng xử hàng ngày sẽ có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý liên
quan tới quyền và nghĩa vụ của phụ nữ DTTS đến đâu hiện vẫn còn thiếu. Những nghiên
cứu như vậy sẽ rất cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong bối cảnh luật tục vẫn còn được áp
dụng khá phổ biến trong các cộng đồng người DTTS.
22
PHẦN 2: ĐÁNH GIÁ TIẾP CẬN DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA
PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ QUA RÀ SOÁT TÀI LIỆU
1. Các loại hình dịch vụ pháp lý hiện có ở Việt Nam
Dịch vụ pháp lý là các hoạt động nhằm giúp người dân được thông tin, hướng dẫn và
hỗ trợ để hành xử đúng pháp luật và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân.
Nếu nhìn nhận theo phí dịch vụ thì dịch vụ pháp lý ở Việt Nam được chia làm 2 loại:
- Không thu phí bao gồm các dịch vụ trợ giúp pháp lý cung cấp cho một số nhóm xã
hội trong đó có cả người DTTS thường trú tại các vùng khó khăn. Dịch vụ này
thường do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (cấp tỉnh) hay các chi nhánh Trợ
giúp pháp lý (cấp huyện) cung cấp hay các tổ chức quần chúng, chính trị - xã hội
cung cấp miễn phí cho thành viên của mình. Ngoài ra, một số công ty luật và luật
sư cũng cung cấp tư vấn miễn phí hoặc giảm phí cho khách hàng (theo chính sách
riêng của từng công ty hoặc cá nhân). Bên cạnh đó, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý,
hoạt động trợ giúp pháp lý của các tổ chức quần chúng (Hội Phụ nữ, Hội Nông
dân, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh…) cũng đang tham gia tích cực vào
việc cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí cho nhiều nhóm đối tượng (phụ nữ,
người dân tộc thiểu số, người nghèo…).
b. Tổ chức hành nghề luật sư (các công ty và chi nhánh luật và văn phòng luật sư)
Hiện có 1.718 công ty và chi nhánh luật và văn phòng luật sư trong cả nước49, tập
trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Trong khi Hà Nội có 430 công ty luật và văn phòng luật sư
hay thành phố Hồ Chí Minh có 755 văn phòng và công ty thì các tỉnh miền núi phía Bắc có
đông đồng bào DTTS như Lai Châu hay Điện Biên không có công ty luật hay văn phòng luật
sư nào.
c. Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, có tư
cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương quyết định. Theo số liệu thống kê của Cục TGPL, đến cuối năm 2009, toàn quốc có 117
Chi nhánh, 365 Tổ TGPL và 4.005 Câu lạc bộ TGPL; 63 Trung tâm TGPL có 746 cán bộ
trong đó có 206 người đã được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý.
Trong toàn quốc đã có trên 150 Văn phòng luật sư và 60/85 Trung tâm tư vấn pháp luật đăng
ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý.
Về kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý, đến ngày 30/11/2009, các Trung tâm TGPL
trong toàn quốc đã thực hiện TGPL được 101.913 vụ việc, tăng 9,4% số vụ việc so với năm
2008; trong đó tư vấn 87.447 vụ, đại diện 1.005 vụ, bào chữa 4.484 vụ, đại diện ngoài tố tụng
1.190 vụ, hình thức khác: 823 vụ. Số người được trợ giúp pháp lý năm 2009 là 92.967 (người
nghèo 25.962 người, chính sách 12.904, dân tộc 25.853, trẻ em 4.495, người già: 1.812; người
tàn tật: 506, đối tượng khác 21.435 người) thuộc các lĩnh vực pháp luật về hình sự, dân sự,
hôn nhân gia đình, hành chính, khiếu nại, tố cáo, đất đai, nhà ở, chế độ chính sách…50. Nhóm
người DTTS sống ở các vùng đặc biệt khó khăn là một trong những nhóm được hưởng chính
sách trợ giúp pháp lý của Nhà nước.
Ngoài các hoạt động tố tụng, Trợ giúp pháp lý còn được thực hiện qua các hoạt động
khác như Trợ giúp pháp lý lưu động đang trở thành một hình thức ngày càng phổ biến trong
trợ giúp pháp lý, đặc biệt ở các vùng nông thôn và xa xôi, hẻo lánh. Cũng giống như các câu
lạc bộ trợ giúp pháp lý, trợ giúp lưu động kết hợp giữa tư vấn và phổ biến pháp luật. Một hình