LUẬN VĂN: Huy động và sử dụng vốn xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh kon tum potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Huy động và sử dụng vốn
xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu
số tỉnh kon tum MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là một phạm trù kinh tế trong nền kinh tế thị trường, là nguồn lực quan trọng để
phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Việt Nam có nền kinh tế đang phát triển, vốn vừa là
phương thức, vừa là điều kiện để thực hiện mục tiêu kinh tế-xó hội; vốn tạo ra khả năng huy

Trong đó có một số công trỡnh khoa học tiờu biểu như:
- Nguyễn Văn Lai, “Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong nước phục
vụ phát triển kinh tế Việt Nam”, Luận án Phó tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996
- Nguyễn Đẩu, “Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế Thành phố Đà
Nẵng- Thực trạng và giải pháp”, Luận án thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 1999
- Đinh Văn Phượng (2000), “Thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế
miền núi phía bắc nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Thông (2008), “Đầu tư vốn của nhà nước để phát triển kinh tế xó hội
ở cỏc huyện vựng nỳi cao tỉnh Nghệ An”, Luận án thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị-
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Nhỡn chung, cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu trờn đó tỡm ra các giải pháp sử dụng vốn,
đầu tư phỏt triển kinh tế-xó hội, giải phỏp huy động vốn sản xuất, kinh doanh. Tỉnh Kon
Tum cho đến nay, vấn đề huy động và sử dụng vốn XĐGN cho đồng bào DTTS chưa có
tác giả nào nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích: nghiên cứu đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp huy động và
sử dụng vốn XĐGN cho đồng bào DTTS ở tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: hệ thống hóa một số vấn đề lý
luận về vốn, phương thức huy đồng và sử dụng vốn. Đánh giá thực trạng huy động và sử
dụng vốn XĐGN cho đồng bào DTTS tỉnh Kon Tum trong thời gian qua. 4. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Luận văn tập trung nghiên cứu việc huy động và sử dụng vốn (tính giá trị bằng
tiền) từ Chương trỡnh mục tiờu Quốc gia giảm nghốo và vốn từ một số chương trỡnh lồng
ghộp XĐGN cho đồng bào DTTS ở tỉnh Kon Tum.
- Thời gian nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn 1997 – 2008.

tế vượt bậc và ứng dụng những phát minh thần kỳ của khoa học công nghệ (KHCN) vào
đời sống, nhưng điều đó không tránh khỏi một thực tế là có một bộ phận lớn dân cư trên
thế giới đang sống dưới mức nghèo khổ. Có thể nói nghèo đói là một hiện tượng xó hội
mang tớnh toàn cầu, nú tồn tại và khụng cú biờn giới riờng cho mỗi nước. Cuộc chiến
chống nghèo đói là cuộc chiến trên phạm vi toàn cầu, được Liên hợp quốc xác định là một
trong những mục tiêu phát triển cơ bản của thiên niên kỷ mới.
Nghèo đói là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian-thời gian và tuỳ
thuộc vào từng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, vùng miền mà có những định nghĩa khác
nhau. Đến nay, các nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đó đưa ra nhiều khái niệm khác
nhau, như tại Hội nghị bàn về XĐGN ở khu vực Châu Á Thái Bỡnh Dương do ESCAP tổ
chức ở Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia đó thống nhất cho rằng:
“nghốo đói là tỡnh trạng một bộ phận dõn cư không được hưởng và thoả món những nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu này đó được xó hội thừa nhận tuỳ theo trỡnh độ
phát triển kinh tế-xó hội và phong tục tập quỏn của địa phương” [60].
Khái niệm trên được coi là một định nghĩa chung nhất về nghèo đói, vỡ đó đưa ra
nội hàm cơ bản của nó “không được hưởng và thoả món những nhu cầu cơ bản của con
người”, nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái tối cần thiết để duy trỡ sự tồn tại của con người và
phản ánh tỡnh trạng nghốo khổ cựng cực, là bản thể con người thiếu ăn không đủ no, không
đủ năng lượng để duy trỡ tỏi sản xuất sức lao động (SĐL). Tuy nhiên, định nghĩa chỉ nêu lên
định tính của nghèo đói, cũn bỏ ngỏ về mặt lượng, vỡ cũn phải xột đến “trỡnh độ phát triển
kinh tế-xó hội, phong tục tập quán của địa phương”. Tháng 3 năm 1995, tại Hội nghị Thượng
đỉnh thế giới về phát triển xó hội ở Copenhagen Đan Mạch, nêu ra: “người nghèo là tất cả
những ai có thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ
để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”[61]. Khác với định nghĩa do ESCAP đưa ra,
định nghĩa này đó phản ỏnh được tiêu chí nghèo đói về mặt lượng “thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người”. Khái quát ở tầm vĩ mô, Ngân hàng Thế giới đưa ra: “nghèo
đói là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xó hội của con người, bao gồm
cả khía cạnh sinh lý học và xó hội học”[60]. Thiếu hụt về sinh lý học là khụng đáp ứng nhu

chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong
những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả
năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết,
ít được tham gia vào quá trỡnh ra quyết định [34, tr.7].
Mặt khác, vấn đề nghèo đói ở Việt Nam cũn được nghiên cứu ở các cấp độ khác
nhau như cá nhân, hộ gia đỡnh và cộng đồng, đó là:
Đói: là những hộ hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay
mượn của cộng đồng [11, tr.172].
Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, ốm đau không có tiền chữa
bệnh, nhà ở tranh tre nứa lá, tạm bợ, mưa dột ướt.
Hộ nghèo: là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, áo mặc không đủ lành, không đủ ấm,
không có khả năng phát triển sản xuất.
Xó nghốo: là xó cú tỷ lệ trờn 25% số hộ nghốo, thiếu kết cấu hạ tầng thiết yếu như
điện, đường, trường, trạm xá, nước sạch…, trỡnh độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
Huyện nghèo: là địa bàn dân cư tương đối rộng, nằm ở những vùng khó khăn hiểm
trở, biên giới, là huyện có tỷ lệ xó nghốo và hộ nghốo cao.
Trên cơ sở quan điểm của Việt Nam về nghèo đói, hộ nghèo, xó nghốo, huyện
nghốo, chỳng ta cú thể chỉ ra số lượng, tỷ lệ hộ nghèo đói và xó nghốo làm cơ sở khoa
học để phân tích, đánh giá đúng đắn nhu cầu về vốn XĐGN cho đầu tư tăng trưởng và
đầu tư phát triển cho xó nghốo, huyện nghốo.
Như vậy, từ các định nghĩa của các tổ chức quốc tế và Việt Nam, cho ta rút ra đặc
trưng của nghèo đói qua các khía cạnh như: nghèo đúi là tỡnh trạng con người bị thiếu
thốn ở rất nhiều phương diện về thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản
để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bởi
tự nhiên, xó hội; khụng được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống trung bỡnh của cộng đồng dân cư; thiếu cơ
hội lựa chọn và tham gia vào quá trỡnh ra quyết định phát triển của cộng đồng.
Đồng thời qua nghiên cứu các định nghĩa nói trên, chúng ta nhận thấy nghèo đói

Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các
quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bỡnh quõn tớnh theo đầu người trong một năm hoặc
mức kcal tối thiểu là 2.100kcal/người/ngày. Với hai cách tính như sau:
Phương pháp tính theo tỷ giá hối đoái (tính USD): theo phương pháp này, người ta
chia thành 6 loại nước (lấy mức thu nhập bỡnh quõn năm 1990) để xác định người nghèo
khổ
Trên 25.000 USD/người/năm : nước cực giàu
Từ 20.000 USD đến dưới 25.000 USD/người/năm : nước giàu
Từ 10.000 USD đến dưới 20.000 USD/người/năm : nước khá giàu
Từ 2.500 USD đến dưới 10.000 USD/người/năm : nước trung bỡnh
Từ 500 USD đến 2.500 USD/người/năm : nước nghèo
Dưới 500 USD/ người/năm : nước cực nghèo
Phương pháp tính theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity-PPP):
Ngân hàng Thế giới khuyến nghị về chuẩn nghèo khổ cho các nước đang phát triển là thu
nhập 1USD/người/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la Mỹ để
thoả món nhu cầu năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người là 2.100 kcal/ngày; mức 2
USD trở xuống cho châu Mỹ Latinh và Carribean; mức 4 USD trở xuống cho các nước
Đông Âu và 14,4 USD trở xuống cho các nước công nghiệp phát triển. Tuy vậy, mỗi quốc
gia đều tự đưa ra tiêu chí riêng, chẳng hạn năm 2001, Mỹ đưa ra chuẩn nghèo là người có
thu nhập dưới 12,4 USD/người/ngày; trước năm 2000, Trung Quốc đưa ra chuẩn nghèo là
960 nhân dân tệ/người/năm (tương đương 0,91 USD/người/ngày) [17, tr.113]. Theo cách
tính này, trên thế giới hiện nay có khoảng 1,3 tỷ người nghèo đói và có thể tăng lên 1,5 tỷ
người vào năm 2025 [1, tr.48-49]. Cũng theo phương pháp xác định này, các khu vực có
người nghèo đói lớn nhất trên thế giới là châu Phi có 80%; khu vực Nam Á có 79% và
Trung Đông - Bắc Phi là 61% [19, tr.48]. Ngân hàng Thế giới căn cứ vào thu nhập bỡnh
quõn đầu người để đánh giá mức độ giàu nghèo thỡ chưa phản ánh được toàn diện trỡnh độ phát triển, về mức sống và an sinh xó hội của một quốc gia. Vỡ vậy, cơ quan nghiên
cứu con người của Liên hợp quốc đưa ra Chỉ số phát triển con người (HDI) để đánh giá

sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện.
1.1.2.2. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Việt Nam
Thời gian qua, Việt Nam dựa trên hai loại tiêu chí để xác định chuẩn nghèo.
* Một là, xác định đường nghèo đói theo chuẩn quốc tế do Tổng cục thống kê và
Ngân hàng Thế giới đưa ra để đánh giá nghèo khổ trên giác độ vĩ mô. Ngân hàng Thế giới
đó thực hiện trong các cuộc khảo sát ở Việt Nam qua các năm (1992 đến 1993; 1997 đến
1998 và 2002), thông qua chi tiêu bỡnh quõn đầu người để đo lường mức sống dân cư mà
xác định đường nghèo đói. Đường nghèo đói lương thực, thực phẩm đó được các nước đang phát triển áp dụng: một giỏ tiêu dùng sẽ được tính, bao gồm 16 mặt hàng (chi tiêu
lương thực, thực phẩm phải đảm bảo đủ 2.100 kcal/người/ngày), nếu hộ gia đỡnh khụng
đáp ứng được giỏ tiêu dùng này sẽ được xác định là hộ nghèo. Nếu tính cả chi tiêu này
cộng thêm chi tiêu cho các mặt hàng phi lương thực thực phẩm như quần áo, nhu cầu
thông tin…, gọi là đường nghèo chung, đường nghèo chung được xác định ở mức cao
hơn đường nghèo lương thực thực phẩm.
* Hai là, chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội đưa ra
dựa trờn tiờu chớ thu nhập bỡnh quõn đầu người để áp dụng trong công tác XĐGN.
Cho đến nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội đó 4 lần cụng bố chuẩn
nghốo đói cho từng giai đoạn, lúc đầu chuẩn nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi
tiêu, sau đó chuyển sang thu nhập. Việc xác định chuẩn nghèo dựa trên chỉ tiêu thu nhập
của hộ gia đỡnh được tiến hành khảo sát, điều tra mức sống qua các năm 1993, 1998,
2002 và 2004 và có kết quả công bố chuẩn nghèo cho từng giai đoạn. Theo quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 8/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ đó ký, chuẩn nghốo mới giai
đoạn 2006-2010 đó được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu, mức sống của người dân
và gần sát với chuẩn nghèo của quốc tế (xem bảng 1.1). Bảng 1.1: Quy định chuẩn nghèo của Việt Nam cho từng giai đoạn
Chuẩn nghèo đói qua

Nghèo khu v
ực nông thôn
miền núi, hải đảo
Dưới 80.000 đồng
Nghèo khu v
ực nông thôn,
đồng bằng trung du
Dưới 100.000 đồng
Nghèo khu vực thành thị Dưới 150.000 đồng
2006 - 2010 (mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo khu vực nông thôn Dưới 200.000 đồng
Nghèo khu vực thành thị Dưới 260.000 đồng
Nguồn: Bộ Lao động-Thương binh và Xó hội và Quyết định 170/2005/QĐ-TTg.
1.1.3. Đặc điểm nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.3.1. Nghèo đói mang tính chất vùng cao, vùng giáp ranh biên giới
Nghèo đói của đồng bào DTTS sinh sống chủ yếu ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa,
vùng đồi núi đá, dốc, vùng giáp ranh biên giới. Nghèo đói của họ mang tính chất vựng rất
rừ rệt, tập trung chủ yếu ở cỏc vựng miền núi, Tây Nguyên là vùng nghèo nhất cả nước,
tiếp đến là vùng miền núi phía Bắc và duyên hải Bắc Trung bộ [34, tr.9]. Các dân tộc thiểu số Việt Nam cư trú chủ yếu trên địa bàn vùng cao rộng lớn, chiếm gần ắ lónh thổ
quốc gia [24, tr.6]. Đây là vùng có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và thiên tai thường
xuyên xảy ra, làm cho đời sống của đồng bào DTTS phụ thuộc và chịu sự tác động bởi
các yếu tố tự nhiên. Hầu hết đời sống của họ gắn liền với rừng và đất rừng. Chẳng hạn,
dân tộc Brâu và Rơmăm sống chủ yếu nhờ vào nương rẫy theo lối chọc tra hạt và hái
lượm. Đồng bào DTTS ít có khả năng tiếp cận với các nguồn lực trong sản xuất như vốn,
kỹ thuật, công nghệ… Thị trường tiêu thụ sản phẩm của họ gặp nhiều khó khăn do địa
hỡnh chia cắt, giao thụng trắc trở.

Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh, bà mẹ trưởng bản tên Đại, người bé như một đứa trẻ 11- 12
tuổi, nặng chừng 30 kg”[25, tr.58]. Hầu hết người lao động DTTS không có chuyên môn
nên họ khó có khả năng tiếp cận với các yếu tố sản xuất đũi hỏi cần cú trỡnh độ tay nghề vỡ
phải ứng dụng cụng nghệ mới vào sản xuất, cũng như các ngành nghề phi nông nghiệp.
Người nghèo đồng bào DTTS chưa có nhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ sản xuất khuyến
nông, khuyến lâm, thuốc bảo vệ động, thực vật; nhiều yếu tố đầu vào của sản xuất như: điện,
nước, con giống, cây trồng, phân bón…đó làm tăng chi phí, giảm chất lượng sản phẩm, giảm
thu nhập tính trên đơn vị sản phẩm. Xuất phát từ trỡnh độ học vấn thấp, lao động không có
chuyên môn là mấu chốt làm cho đồng bào DTTS khó tiếp cận và khai thác các yếu tố đầu
vào trong sản xuất. Họ không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc liên quan đến
pháp luật, dịch vụ y tế, kế hoạch hóa gia đỡnh.
Tóm lại, đời sống kinh tế của đồng bào DTTS phụ thuộc vào tự nhiên, nên họ có
thu nhập thấp, chi tiêu không có kế hoạch, không có khả năng tiết kiệm vốn, điều kiện ăn
ở, sinh hoạt thiếu thốn. Trỡnh độ học vấn và nghề nghiệp thấp, chăm sóc sức khoẻ và dịch
vụ y tế kém, chất lượng nguồn nhân lực thấp kém…là những yếu tố cơ bản, thường
xuyên, vừa là đặc điểm, vừa là kết quả của sự gia tăng dân số và đói nghèo. Theo số liệu
điều tra: nghèo đói là do thiếu vốn sản xuất chiếm 79%, thiếu kiến thức sản xuất 70%,
thiếu thông tin về thị trường 35%, thiếu đất sản xuất 29%, đông con 24%, không tỡm
được việc làm 24%, rủi ro 5,9%, gia đỡnh cú người mắc tệ nạn xó hội 1% [4, tr.15].
1.1.4. Yêu cầu về vốn tiền tệ là nhu cầu bức thiết cho công tác xoá đói giảm
nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số Trong bất cứ mọi hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, các ngành nghề kinh doanh,
vốn là yếu tố cơ bản nhất để đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, khai thác và sử dụng có hiệu
quả nguồn tài nguyên, tăng cường tiềm lực KHCN. Nâng cao trỡnh độ nguồn lao động,
nhất là đối với đồng bào DTTS vùng sâu, vùng ĐBKK vấn đề phát triển kinh tế-xó hội,
XĐGN thỡ yờu cầu về nguồn vốn là cấp thiết để giải quyết một số vấn đề xó hội cấp
bỏch, đó là:
* Yêu cầu về vốn cho đầu tư tăng trưởng và giải quyết nhu cầu cơ bản trước mắt

- Để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế, thế mạnh từ tài nguyên, môi trường sinh thái và
nhân tố con người, truyền thống văn hóa, từng bước ổn định sản xuất, tạo cơ hội việc làm,
thu nhập. Để nâng cao mức sống, cải thiện dân sinh, phát triển nguông nhân lực, nâng cao
dân trí vùng đồng bào DTTS, thực hiện từng bước xoá bỏ sự khác biệt về đời sống vật chất,
tinh thần, cũng như rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng nông thôn
và thành thị. Tạo tiền đề, cơ sở, nền tảng, sức bật cho quá trỡnh CNH, HĐH đất nước trong
xu thế hội nhập kinh tế thế giới, đũi hỏi Đảng và Nhà nước phải hỗ trợ một lượng vốn rất
lớn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xó hội. Xõy dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu
tư KHCN để đồng bào DTTS tiếp nhận và ứng dụng vào trong sản xuất là yêu cầu bức thiết
đối với đồng bào DTTS. Hiện nay, yêu cầu về vốn XĐGN đó được Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X, khẳng định: “Nhà nước tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xó hội và trợ
giỳp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự
vươn lên thóat nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững” [16, tr.217].
- Vấn đề định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường. Xây dựng và đầu tư
phát triển kinh tế-xó hội đi đôi với XĐGN, thực hiện công bằng xó hội ngay trong từng
bước phát triển vỡ mục tiờu dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh.
Nhà nước ta chủ trương thực hiện chính sách phát triển kinh tế xó hội “đặc biệt” ở vùng
sâu, vùng xa, vùng núi cao, biên giới, vùng đồng bào DTTS là hướng đến công bằng và
bỡnh đẳng xó hội. Những yờu cầu mới phỏt sinh về phỳc lợi xó hội; về hiện đại hóa nông
nghiệp và kinh tế nông thôn, đào tạo nghề cho người nghèo…đối với vùng khó khăn, vùng
đồng bào DTTS; sự thoả đáng, hợp lý về các quyền và lợi ích vật chất, tinh thần giữa người
với người, giữa các dân tộc anh em, giữa các vùng miền, nông thôn và thành thị. Vỡ thế,
đầu tư vốn XĐGN cho đồng bào DTTS không những giải quyết cái nghèo, đói về mặt kinh tế mà nó có ý nghĩa về mặt chính trị, văn hóa, xó hội và niềm tin của họ đối với Đảng ta.
Cho nên, chúng ta quan tâm đầu tư XĐGN và giải quyết được tỡnh trạng nghèo đói là một
vấn đề xó hội cơ bản lâu dài; vừa là nhiệm vụ cấp bách nhằm đảm bảo tăng trưởng, phát
triển kinh tế bền vững và thực hiện tiến bộ, cụng bằng xó hội, hạn chế sự bất bỡnh đẳng,
phân hóa giàu nghèo. Để thực hiện được cần phải có một lượng vốn lớn đầu tư phát triển

chuyển như: tiền, lao động, vật tư, máy móc, thiết bị, tài nguyờn; giỏ trị của những tài sản
vụ hỡnh như: vị trí kinh doanh, quyền phát minh, bí quyết công nghệ, uy tín doanh
nghiệp, thông tin…Tài sản vốn vô hỡnh ngày càng cú vai trũ quan trọng trong cơ cấu vốn,
trong nền sản xuất hàng hóa.
* Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất (lao
động, đất đai, vốn) [51, tr.300].
Trong nền kinh tế thị trường, vốn không chỉ là yếu tố quan trọng đối với các nước
phát triển, mà vốn cũn là yếu tố cấp thiết đối với hầu hết các quốc gia đang phát triển và
kém phát triển. Do vậy, phạm trù vốn đó được các nhà kinh tế hiện đại quan tâm nghiên
cứu và tiếp cận ở những hỡnh thỏi khỏc nhau.
Vốn là một loại nhân tố “đầu vào”, đồng thời bản thân nó lại là kết quả “đầu ra”
của hoạt động kinh tế [5, tr.138].
Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lợi [50,
tr.1126].
Dưới hỡnh thỏi tiền tệ, vốn được định nghĩa là các khoản tiết kiệm, tức là một bộ
phận của thu nhập chưa được tiêu dùng như: tiền mặt, séc và hiện vật. Vốn tiền tệ luôn
vận động và chuyển hóa về hỡnh thỏi vật chất, đồng thời từ trạng thái vật chất sang hỡnh
thỏi tiền tệ.
Dưới hỡnh thỏi vật chất, tổng số vốn của nền kinh tế đó tớch luỹ được cũn gọi là tài
sản quốc gia. Tài sản quốc gia được tích luỹ, có thể chia thành hai nhóm: tài sản sản xuất
(vốn sản xuất) và tài sản phi sản xuất (vốn phi sản xuất).
- Vốn sản xuất: là tổng vốn vật chất mà một doanh nghiệp hay một quốc gia đó
tớch luỹ được qua thời gian và được tiếp tục sử dụng vào quá trỡnh sản xuất hàng hóa và
dịch vụ. Vốn sản xuất bao gồm: công xưởng, nhà máy; trụ sở, trang thiết bị văn phũng phục vụ trực tiếp hoặc giỏn tiếp cho quỏ trỡnh sản xuất; mỏy múc thiết bị, phương tiện
vận tải; các công trỡnh hạ tầng; tồn kho của tất cả cỏc loại hàng hóa [36, tr.229], đây là
những TLSX không được chuyển hóa hết giỏ trị trong một quỏ trỡnh sản xuất kinh doanh,
cú thể được tái sử dụng trong những quá trỡnh sản xuất tiếp theo.

thiếu cho quá trỡnh phỏt triển trong nền kinh tế thị trường.
* Từ cách tiếp cận trên về vốn, chúng ta rút ra đặc trưng cơ bản của vốn:
Vốn được giá trị hóa biểu hiện bằng tiền là hỡnh thức phổ biến nhất hiện nay,
nhưng không phải tất cả tiền đều là vốn. Trường hợp tiền để tích trữ chi tiêu hàng ngày
không được gọi là vốn vỡ khụng sinh lời.

Vốn không chỉ là lượng tiền mặt nhất định để trực tiếp đầu tư sinh lời mà cũn đại
diện về mặt giá trị cho lượng tài sản hữu hỡnh và tài sản vụ hỡnh tham gia vào cỏc quỏ
trỡnh đầu tư, kinh doanh. Trong sản xuất, kinh doanh vốn luôn vận động và chuyển hóa
dưới cỏc hỡnh thỏi khỏc nhau và đảm nhiệm chức năng sinh lời.
Vốn là tài sản hợp pháp, bao giờ cũng gắn với chủ sở hữu nhất định; không phải
mọi tài sản đều được gọi là vốn, những tài sản bất động, nằm ở dạng tiềm năng không
sinh lời thỡ khụng được gọi là vốn. Ở nơi nào, chúng ta không xác định được chủ sở hữu
của vốn thỡ tất yếu vấn đề quản lý và sử dụng vốn kộm hiệu quả, gõy lóng phớ, thất thóat
vốn.
Trong nền kinh tế thị trường vốn là loại hàng hóa đặc biệt. Vốn cũng giống hàng
hóa thông thường có giá trị và giá trị sử dụng, nhưng đặc biệt ở chỗ giá trị sử dụng của
vốn có khả năng sinh lời và có sự tách biệt tương đối trong mối quan hệ giữa chủ sở hữu
vốn và người sử dụng vốn. Chủ sở hữu bán quyền sử dụng vốn mà không mất quyền sở
hữu vốn, khi chủ sở hữu bán quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian nhất
định có kèm theo lợi tức (lợi tức là giá bán quyền sử dụng vốn). Quyền sử dụng vốn có
giá trị về mặt thời gian nên ở mỗi thời điểm khác nhau thỡ giỏ trị của vốn cú sự khỏc
nhau. Đồng thời, chính nhờ sự tách biệt tương đối giữa chủ sở hữu vốn và người sử dụng
vốn theo thời gian nhất định, nên người sử dụng vốn có điều kiện tích luỹ, tập trung, huy
động khối lượng vốn lớn để đầu tư thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc
dân, thực hiện mục tiêu XĐGN.
Tóm lại, vốn dưới các hỡnh thỏi được giá trị hóa biểu hiện bằng tiền của các nguồn

Căn cứ vào quan hệ quản lý nguồn vốn sử dụng, vốn được chia thành vốn đầu tư
trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp; căn cứ vào quyền sở hữu các nguồn vốn trên phạm vi
không gian để tiến hành đầu tư trên tổng thể nền kinh tế, có vốn đầu tư trong nước và vốn
đầu tư nước ngoài [38, tr.14].
Tóm lại, mặt dù có nhiều tiêu thức phân chia khác nhau nhưng bản chất của vốn là
hàng hóa đặc biệt, mang hỡnh thỏi giỏ trị, cú mối quan hệ chặt chẽ giữa thời gian và hỡnh
thức sử dụng; giữa chủ sở hữu vốn và người sử dụng vốn. Trong nền kinh tế hàng hóa với
xu thế hội nhập toàn cầu thỡ việc phõn loại vốn cú ý nghĩa rất quan trọng, nú giỳp cho
chỳng ta làm căn cứ khoa học trong hoạch định chính sách quản trị các nguồn vốn, cũng
như đề ra những phương thức huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.
1.2.2. Vai trũ, tỏc động của vốn tiền tệ đối với phát triển kinh tế-xó hội và xoỏ
đói giảm nghèo
1.2.2.1. Vai trũ của vốn đối với tăng trưởng kinh tế nói chung
Hàm sản xuất đơn giản nhất và nổi tiếng nhất được sử dụng để phân tích vai trũ
của vốn do hai nhà kinh tế Roy Harrod (người Anh) và Evsey Domar (người Mỹ) nêu ra từ
những năm 1940, đó chỉ ra mối quan hệ tăng trưởng kinh tế với hệ số gia tăng tư bản đầu ra
(ICOR) và tỷ lệ đầu tư. Khối lượng vốn tăng thêm để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế được
tính theo công thức:
G =
k
i

Trong đó: G: là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (GDP hoặc GNI)
i: tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế theo (GDP hoặc GNI)
k: hệ số gia tăng tư bản - đầu ra (ICOR). Hệ số này cho biết để có
một đơn vị sản phẩm tăng thêm thỡ cần bao nhiờu đơn vị khối lượng
vốn đầu tư.
Theo Harrod và Domar quan hệ cơ bản ở phương trỡnh trờn thỡ tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm (S), tiết kiệm là nguồn của đầu tư
(S = I) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR. Vấn đề này có nghĩa là để duy trỡ được tốc độ

của quỏ trỡnh sản xuất. Quỏ trỡnh sản xuất là quỏ trỡnh tiờu dựng TLSX và SLĐ để tạo
ra hàng hóa. Thông thường kết quả của lưu thông hàng hóa đó được thực hiện trên thị
trường sẽ thu về một lượng vốn bằng tiền lớn hơn lượng tiền ứng ra ban đầu. Nếu xét
dưới một giác độ khác thỡ lưu thông hàng hóa (bao gồm TLSX, SLĐ và hàng hóa thành phẩm) quyết định lưu thông vốn tiền tệ. Nhưng, thực tế lưu thông của vốn tiền tệ có tác
động mạnh mẽ đến lưu thông hàng hóa và làm tăng vốn tiền tệ khi đó kết thỳc một chu kỳ
tuần hoàn (T – T’). Nhỡn một cỏch tổng thể, chỳng ta thấy lưu thông vốn tiền tệ sẽ thúc
đẩy lưu thông hàng hóa, lưu thông hàng hóa được trôi chảy sẽ làm cho tốc độ chu chuyển
vốn và tăng trưởng nguồn vốn tiền tệ lớn lên không ngừng.
Như vậy, trong quá trỡnh sản xuất hàng hóa hai nhân tố TLSX và SLĐ quyết định
trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm hàng hóa; trong đó, việc chuyển hóa bảo tồn giá trị
TLSX và làm tăng thêm giá trị mới cho sản phẩm là do lao động sống quyết định. Nhưng
trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chúng ta thấy dù kinh doanh ở bất cứ lĩnh vực nào?
thuộc ngành nào? hay để thực hiện chiến lược, mục tiêu kinh tế-xó hội, XĐGN của một
quốc gia thỡ phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ do tiết kiệm được hoặc phải huy động
một lượng vốn tiền tệ đủ mạnh từ các nguồn khác nhau trong xó hội, trờn cơ sở đó mới
tiến hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế- xó hội, XĐGN.
1.2.2.2. Tác động của vốn đối với mục tiờu kinh tế-xó hội, xoỏ đói giảm nghèo
Tác động của việc đầu tư vốn gồm hai giai đoạn, đó là:
- Ở giai đoạn đầu, sự tăng lên về vốn đầu tư làm cho nhu cầu chi tiêu tăng lên và
tác động đến tổng cầu: tăng sản lượng và công ăn, việc làm. Khi đầu tư tăng lên, có nghĩa
là nhu cầu về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây
dựng…tăng lên và kéo theo sự biến động “tăng” giá cả. Tuy nhiên, nhu cầu của quá trỡnh
đầu tư tạo ra chủ yếu là nhu cầu về TLSX, là cái mà ở các nước đang phát triển như ở
Việt Nam là cần thiết và nhu cầu xuất khẩu các hàng hóa trong nước sản xuất ra để nhập
khẩu TLSX là yêu cầu tất yếu của quá trỡnh sản xuất.
- Ở giai đoạn hai, đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất bao gồm tài sản cố định như:
máy móc, trang thiết bị, công xưởng…, hàng hóa tồn kho cho sản xuất và các tài sản vật

tế phát triển mạnh mẽ là nhờ có một khối lượng vốn lớn với trỡnh độ KHCN tiên tiến, Nhật
đó trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Ngược lại, một quốc gia được đánh giá
có tài nguyên phong phú, lao động trẻ dồi dào, con người cần cù, sáng tạo, thông minh mà
thiếu vốn để đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ hiện đại thỡ sẽ khú cú điều kiện để
khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng kinh tế của đất nước. Một nước
được đánh giá có tiềm lực kinh tế như vậy nhưng chỉ là một nước có nền kinh tế kém phát

Trích đoạn Huy động và sử dụng vốn xoá đói giảm nghèo thông qua các tổ chức chớnh trị, xó hội trong và ngoài tỉnh Huy động và sử dụng vốn xoá đói giảm nghèo từ các tổ chức tài chính nước ngoà Thành tựu huy động và sử dụng vốn xoá đói giảm nghèo Những hạn chế, yếu kém trong việc huy động và sử dụng vốn xoá đói giảm nghèo Chủ động khai thác triệt để mọi nguồn vốn, huy động tối đa các nguồn vốn trong và ngoài nước, tranh thủ sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm và các tổ chức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status