Nghiên cứu tình hình sử dụng các dịch vụ y tế của các bà mẹ tại xã thủy biều, thành phố huế - Pdf 19


LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi cam đoan đây là công trình của chúng tôi, các số liệu
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chính xác, khách quan và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
CHỮ VIẾT TẮT

AIDS : Acquire Immunodeficiency Syndrome
CBCNVC : Cán bộ công nhân viên chức

4.1. Một số đặc điểm của nhóm bà mẹ được nghiên cứu 30
4.2. Các dịch vụ y tế địa phương 31
4.3. Tình hình bệnh tật của trẻ dưới 5 tuổi và khuynh hướng sử dụng
dịch vụ y tế của bà mẹ 32
4.4. Các yếu tố liên quan đến khuynh hướng sử dụng dịch vụ y tế cơ sở. 35
KẾT LUẬN 36
KIẾN NGHỊ 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoạt động chăm sóc sức khỏe của y tế, đặc biệt là y tế tuyến cơ sở có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện chiến lược chăm sóc sức khỏe
ban đầu. Trong thời kỳ mở cửa kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, hoạt
động y tế cơ sở cũng cần có những chuyển biến phù hợp với sự phát triễn của
kinh tế xã hội. Nhiệm vụ được đặt ra cho chúng ta hiện nay là phải tiến hành
các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách có hiệu quả, thực
hiện công bằng trong chăm sóc y tế với một nguồn lực còn hạn chế. Muốn
thực hiện được điều này thì phải tăng cường công tác quản lý và điều hành
các hoạt động y tế cơ sở. Tạo điều kiện cho mọi người dân, nhất là đối tượng
có nguy cơ cao như trẻ em và phụ nữ mang thai dễ dàng tiếp cận được với các
dịch vụ y tế với chất lượng cao [5].
Việt Nam là một nước đang phát triển ở trong khu vực Đông Nam Á,
đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa và y tế. Tình hình
chăm sóc sức khỏe của người dân càng được nâng cao. Tuy vậy tình trạng sức
khỏe trẻ em vẫn là mối quan tâm lớn vì tỷ lệ trẻ ở Việt Nam chiếm gần 50%
dân số [7]. Trong khi đó ở các nước phát triển khác trên thế giới tỷ lệ này
khoảng 20- 50% dân số. Tỷ lệ tử vong nhiều nhất ở lứa tuổi < 5 tuổi. Nguyên

Y tế cơ sở được xác định nhiệm vụ chủ yếu là chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho mọi tầng lớp nhân dân trên mọi vùng miền đất nước. Công tác chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng của Việt Nam đã được Tổ Chức Y Tế
Thế Giới (WHO) và các tổ chức quan tâm vấn đề sức khỏe đánh giá cao. Cho
đến nay, chúng ta đã có 100% xã có cán bộ y tế và trạm y tế xã. Tỷ lệ tiêm
chủng cho các cháu dưới 5 tuổi đạt 98%; 95% số xã có nữ hộ sinh trung cấp
và y sĩ sản nhi. Nhiều bệnh thường gặp ở bà mẹ, trẻ em đã được giải quyết
ngay từ tuyến cơ sở. Nhờ có mạng lưới y tế trải rộng và đến tận tuyến xã,
phường, thị trấn nên công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng từng bước ngày
càng nâng cao [21].
1.1.1. Các dịch vụ mà trạm y tế đảm nhận
- Dịch vụ khám chữa bệnh.
- Dịch vụ bảo vệ bà mẹ trẻ em.
- Dịch vụ cung cấp thuốc thiết yếu.
- Dịch vụ y tế học đường.
- Dịch vụ cung cấp nước sạch.
- Dịch vụ vận chuyển bệnh nhân lên tuyến trên.
1.1.2. Đặc điểm riêng của dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế gồm 2 yếu tố tiêu thụ và đầu tư. Sức khỏe là kết quả trực
tiếp của việc tiêu thụ phúc lợi y tế, đồng thời người lao động có sức khỏe sẽ
đóng góp cho sản xuất và đầu tư.
Chi phí chăm sóc sức khỏe có thể cao hơn rất nhiều so với thu nhập.
Sức khỏe yếu thì khả năng lao động của con người giảm, thì khả năng kiếm

4
tiền của con người cũng giảm theo. Người bệnh khi ốm đau họ thường không
tính toán tới khả năng chi phí của mình, có khi dồn tất cả tiền bạc để chữa
bệnh cho khỏi. Số khác có điều kiện kinh tế hơn thì thường yêu cầu được
phục vụ cao hơn.
Người bệnh trực tiếp tham gia vào sản xuất cũng như tiêu thụ dịch vụ y

ĐẾN TRẠM Y TẾ [18]
1.2.1. Cơ sở hạ tầng
Trạm y tế phải được xây dựng theo tiêu chuẩn thiết kế do Bộ Y Tế ban
hành với một số tiêu chí cơ bản như:
- Vị trí: Gần trục đường giao thông, ở khu trung tâm xã.
- Diện tích đất: Trung bình từ 500m
2
trở lên với khu vực nông thôn và
từ 150m
2
trở lên đối với khu vực thành thị.
- Tổng công trình bao gồm: khối nhà chính, công trình phụ trợ, sân
phơi, vườn mẫu trồng cây thuốc. Cây xanh bóng mát chiếm tỷ lệ trên 30%
diện tích khu đất. Có hàng rào bảo vệ, có cổng và biển tên trạm.
- Khu nhà chính: Cấp công trình tối thiểu cấp III; Diện tích tối thiểu
trung bình 90m
2
trở lên; Số phòng chức năng chính từ 8 – 9 phòng trở lên;
bao gồm: Phòng tuyên truyền tư vấn; phòng đón tiếp; quầy thuốc; phòng
khám bệnh và sơ cứu; các phòng thực hiện dịch vụ y tế kế hoạch hóa gia đình,
đỡ đẻ, sau đẻ; phòng lưu bệnh nhân; phòng rửa tiệt trùng; phòng khám bệnh
bằng y học cổ truyền ( đối với một số trạm y tế có cán bộ y học cổ truyền
chuyên trách ).
- Khu vệ sinh có thể để trong khối nhà chính hoặc phụ trợ.
- Khối phụ trợ bao gồm: Nhà bếp, nhà kho, bể nước, nhà vệ sinh và nhà
để xe ( tùy theo nhu cầu và điều kiện của mỗi xã, phường ).
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật: Nguồn điện được nối với điện lưới hoặc có
máy phát điện riêng đối với các trạm y tế vùng III. Có 01 thuê bao điện thoại
trực tiếp. Có nguồn nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh và ổn định.


- Trang thiết bị cơ bản cho cán bộ y tế để thực hiện việc khám và điều
trị bệnh nhân ở tuyến đầu tiên gồm: Ống nghe, huyết áp, nhiệt kế, bơm kim
tiêm và các trang thiết bị cấp cứu thông thường ban đầu.
- Bộ dụng cụ khám chuyên khoa cơ bản: Mắt, TMH, RHM.
- Tại các trạm y tế có bác sĩ làm việc: Máy khí dung, kính hiển vi, máy
xét nghiệm đơn giản.
- Trang thiết bị cho khám điều trị phụ khoa, kế hoạch hóa gia đình, đỡ
đẻ, cấp cứu sơ sinh và chăm sóc trẻ em.
- Trang bị về sơ chế bảo quản thuốc đông y: chảo sao thuốc, cân, tủ,
dao cầu, thuyền tán, kim châm cứu.
- Trang thiết bị cho thực hiện mục tiêu chương trình y tế quốc gia,
chống mù lòa, chăm sóc răng miệng và nha học đường, các chương trình
chăm sóc sức khỏe khác.
- Trang thiết bị để thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe
tại cộng đồng.
- Thiết bị và dụng cụ tiệt khuẩn: nồi hấp, tủ sấy, nồi luộc dụng cụ.
- Thiết bị nội thất: tủ, bàn, ghế, giường bệnh, tủ đầu giường.
- Thiết bị thông dụng: đèn dầu, đèn pin, máy bơm nước.
- Túi y tế thôn bản: mỗi thôn có 01 đến 02 túi để thực hiện các dịch vụ
cơ bản như tiêm, sơ cứu, truyền thông giáo dục sức khỏe.
- Túi đẻ sạch đối với các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa.
1.2.4. Chức năng chăm sóc sức khỏe trẻ em và chuẩn quốc gia về y tế xã
giai đoạn 2001- 2010
Theo chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001- 2010, chăm sóc sức
khỏe trẻ em cần đạt được các tiêu chuẩn sau:
- Tỷ lệ trẻ < 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ theo quy định ít nhất đạt
được: Đồng bằng và trung du 95%, miền núi 90%.

8
- Tỷ lệ trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi được uống Vitamin A 2 lần/ năm, ít

là do nhẹ cân, đẻ non, viêm phổi và các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng
nặng. Để giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, các chương trình phòng chống các bệnh
này đã được áp dụng một cách riêng lẻ từ vài thập niên qua. Nhưng trên thực
tế trẻ em không đơn thuần là một bệnh mà thường do 2- 3 bệnh gây ra. Do đó,
để giảm nhiều hơn nữa tỷ lệ tử vong ở trẻ em, tổ chức y tế thế giới đã đưa ra
chương trình xử trí lồng ghép bệnh trẻ em. Chương trình này được bộ y tế áp
dụng ở nước ta và đã tập huấn cho cán bộ y tế xã, phường trong toàn quốc
nhằm giảm tỷ lệ tử vong, tần suất và độ nặng của bệnh tật cũng như tàn phế,
góp phần cải thiện sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em trên toàn quốc nói
riêng và trẻ em trên thế giới nói riêng.
1.5. MỤC TIÊU SỨC KHỎE TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020
1.5.1. Mục tiêu tổng quát
Giảm tỷ lệ mắc bệnh nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ của nhân dân. Đảm
bảo công bằng, nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc sức khỏe, đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân, đưa sức khỏe nhân dân đạt
mức trung bình của các nước trong khu vực.
Tăng cường đầu tư cho y tế cơ sở, đặc biệt là cơ sở khám chữa bệnh đổi
mới công tác quản lý bệnh viện, tăng cường giáo dục y đức, đưa hệ thống
khám chữa bệnh hơn nữa để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Xây dựng ngành y tế từng bước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng
đất nước.
1.5.2. Các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe tới năm 2020
Tuổi thọ trung bình 75 tuổi năm 2020.
Tỷ lệ trẻ em chết < 1 tuổi hạ xuống còn 20% vào năm 2020.
Tỷ lệ trẻ em sinh ra có trọng lượng < 2500 gram giảm còn 5%.
Tỷ lệ trẻ em < 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 15%.
Chiều cao trung bình thanh niên Việt Nam đạt 1,65m.

10
Thanh toán các rối loạn do thiếu Iod, tỷ lệ bướu cổ trẻ em từ 8 đến 12

cốt lõi là việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em được bảo đảm tốt hơn trước.
Cụ thể: Giám sát dịch bệnh chặt chẽ hơn, chẩn đoán và điều trị kịp thời khi
người dân đến các cơ sở y tế, góp phần thiết thực giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ
tử vong của nhiều dịch bệnh nguy hiểm, đặc biệt giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh,
tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và tử vong mẹ.
Với phương châm thực hiện chủ trương tham gia giải quyết công bằng
xã hội trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, ngành y tế đã dành nhiều sự quan
tâm để phát triển y tế cơ sở. Nhờ đó, đến cuối năm 2006, các trạm y tế xã và
bệnh viện huyện có 96.700 giường bệnh, trong đó tuyến xã có 45.995 giường,
phục vụ cho gần 80% dân số cả nước. Hàng năm y tế cơ sở phải đảm nhiệm
khoảng 75-80% các dịch vụ khám chữa bệnh và đồng thời phải thực hiện toàn
bộ những nhiệm vụ khác như tiêm chủng mở rộng, phòng chống các bệnh xã
hội, bệnh dịch nguy hiểm và nhiều nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác.
Mạng lưới y tế cơ sở tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chưa đáp ứng được nhu
cầu chăm sóc sức khỏe tới hộ gia đình, đặc biệt ở miền núi và các vùng kinh
tế khó khăn. Công tác phòng chống dịch bệnh ở địa phương còn thụ động, vệ
sinh an toàn thực phẩm còn nhiều tồn tại lớn. Theo một điều tra khảo sát về
mức sống dân cư Việt Nam cho thấy, chỉ có khoảng 15% người dân đến khám
chữa bệnh tại trạm y tế xã khi ốm đau. Việc ít sử dụng dịch vụ khám chữa
bệnh tại trạm y tế xã là một trong nhiều nguyên nhân làm cho tình trạng quá
tải ở các bệnh viện tuyến trên càng thêm trầm trọng.
Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều nhưng tập trung vào một số
nguyên nhân như: thiếu trang thiết bị, nguồn nhân lực hạn chế và cơ sở vật
chất nghèo nàn. Theo một điều tra của Bộ Y tế, số trạm y tế xã có cơ sở vật
chất đạt tiêu chuẩn của Bộ đề ra chiếm một tỷ lệ rất thấp, chỉ chiếm 9,8%.
Còn về phía người dân, qua khảo sát chỉ số hài lòng về cơ sở vật chất và trang
thiết bị của trạm y tế xã cũng không cao. Đối với người sử dụng dịch vụ nội

12
trú, chỉ số hài lòng là 32%, người điều trị ngoại trú là 26%. Do không có kinh

nhưng lãnh đạo các địa phương lại không bố trí ngân sách như kinh phí dành
cho phòng chống một số bệnh không lây nhiễm (tim mạch, đái tháo đường,
ung thư), sức khỏe sinh sản, an toàn truyền máu
Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe công lập, trạm y tế xã là nơi đầu
tiên để người dân có thể tiếp cận khi ốm đau. Nhiệm vụ của trạm y tế xã là
thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và
phòng chống dịch bệnh. Vì vậy, vai trò của trạm y tế xã là vô cùng lớn. Quyết
định 950/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ mở ra một trang mới cho đầu tư
trạm y tế xã, phấn đấu đến năm 2015, xây dựng mới, nâng cấp trạm y tế xã
theo Chuẩn quốc gia cho tất cả các trạm y tế trong toàn quốc. Điều đó càng
thể hiện tính nhân văn của chế độ ta trong việc bảo đảm mọi người dân đều
được chăm sóc y tế.
1.6.2. Nghị định số 36/2005/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết thi
hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Kế hoạch hành động của Bộ Y tế trong thời gian tới là: đánh giá toàn
diện mạng lưới khám chữa bệnh nhi khoa và tình hình khám bệnh, chữa bệnh
trẻ em dưới 6 tuổi; xây dựng đề án củng cố, nâng cao chất lượng mạng lưới
khám chữa bệnh nhi khoa; hoàn thiện các chính sách về tài chính để phát triển
ngành nhi; theo dõi, giám sát tình hình khám chữa bệnh cho trẻ em; nghiên
cứu để chuyển phương thức thực thanh thực chi sang mua bảo hiểm y tế cho
trẻ em dưới 6 tuổi; xây dựng giải pháp hỗ trợ cho trẻ em trên 6 tuổi khi khám
bệnh, chữa bệnh; huy động các nguồn lực khác hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh
cho trẻ em.
Nghị định số 36/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 17/3/2005
qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em. Theo đó, trẻ em dưới 6 tuổi được khám bệnh, chữa bệnh miễn phí tại
các cơ sở y tế công lập. Để thực hiện qui định trên có hiệu quả, ngày 10 tháng

14
5 năm 2005, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 14/2005/TT-BYT, hướng dẫn

và sử dụng các loại thuốc, máu, dịch truyền, vật tư, hóa chất của các chương
trình, dự án được duyệt miễn phí thì các cơ sở y tế không được hạch toán quyết
toán khoản chi phí này vào kinh phí khám chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi.
Ngày 06 tháng 4 năm 2005, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư
số 26/2005/TT-BTC hướng dẫn quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khám
bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế
công lập. Theo Thông tư, các đơn vị được giao trực tiếp quản lý, sử dụng và
quyết toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không
phải trả tiền bao gồm các cơ sở y tế công lập thuộc Bộ Y tế, các bộ, cơ quan,
đơn vị ở trung ương và địa phương. Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ
em dưới sáu tuổi không phải trả tiền được bố trí từ nguồn ngân sách Trung
ương khi thực hiện tại các cơ sở y tế công lập thuộc bộ, cơ quan, đơn vị ở
trung ương; từ nguồn ngân sách của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
khi thực hiện tại các cơ sở y tế công lập địa phương. Đối với các tỉnh khó
khăn, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ theo quy định của Luật Ngân sách Nhà
nước. Các cơ sở y tế công lập được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để
giao dịch đối với nguồn ngân sách nhà nước cấp cho công tác khám bệnh,
chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi và mở tài khoản tại ngân hàng để giao
dịch đối với nguồn kinh phí vận động của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước ủng hộ khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi. Ngoài nguồn
kinh phí từ ngân sách nhà nước, các cơ sở y tế công lập được vận động các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ kinh phí chữa bệnh cho trẻ em dưới
sáu tuổi mắc bệnh hiểm nghèo [3].
1.7. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG MẠNG LƢỚI Y TẾ CƠ SỞ CỦA NGƢỜI
DÂN HIỆN NAY
- Theo một điều tra khảo sát về mức sống dân cư Việt Nam cho thấy,
chỉ có khoảng 15% người dân đến khám chữa bệnh tại trạm y tế xã khi ốm

16
đau. Qua khảo sát chỉ số hài lòng về cơ sở vật chất và trang thiết bị của trạm y

- Vị trí: phía Bắc giáp sông Hương; phía Nam giáp Độn Bàu Hồ, phía
Tây giáp sông Hương; phía Đông giáp xã Thủy Xuân và Phường Đúc. Tòan xã
có 4 thôn: Long thọ, Trung thượng, Đông phước, Lương Quán. Trong đó hai
thôn Long Thọ và Trung thượng là hai thôn chính với số nhân khẩu cao nhất.
- Tình hình dân số, kinh tế, văn hóa, xã hội: Tổng số nhân khẩu 9929,
trong xã có 50% cán bộ và 50% các ngành nghề khác (công nhân, thợ thuyền,
buôn bán nhỏ, làm nông nghiệp v.v )
Mức thu nhập bình quân đầu người dân là 300.000 đồng/ người/ tháng.
- Trong địa bàn xã có 1 trường cấp II, 1 trường cấp I và 1 trường mẫu giáo.
2.1.2. Các loại hình dịch vụ tế tại địa phƣơng
2.1.2.1. Y tế nhà nước: Trạm y tế xã.
Nhân lực gồm:
+ 01 bác sĩ trưởng trạm
+ 03 y sĩ (1 y sĩ đông y)
+ 01 nữ hộ sinh
+ 01 chuyên trách dân số
+ 06 nhân viên y tế thôn bản
- Trạm y tế có các dịch vụ:

18
+ Dịch vụ khám chữa bệnh: Khám chữa bệnh 24/24 giờ.
+ Dịch vụ phòng bệnh đối với trẻ dưới 5 tuổi.
+ Dịch vụ cấp thuốc miễn phí cho trẻ < 6 tuổi.
2.1.2.2. Dịch vụ y tế tư nhân
+ 3 phòng khám tư nhân
+ 02 quầy thuốc tư nhân
+ 01 quầy thuốc công ty
2.1.3. Đối tƣợng nghiên cứu
Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở 2 thôn Long Thọ và Trung Thượng
thuộc xã Thủy Biều, Thành phố Huế.

 Khá
 Trung bình
 Nghèo
+ Tình hình bệnh tật của con:
- Số trẻ < 5 tuổi
- Số trẻ bị bệnh trong 2 tuần qua
- Loại bệnh trẻ mắc: được xếp thành 3 nhóm chính:
 Nhiễm khuẩn hô hấp và các bệnh hô hấp khác
 Tiêu chảy và các bệnh tiêu hóa khác
 Các loại bệnh khác
+ Tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại y tế cơ sở
+ Nhận xét của các bà mẹ về các dịch vụ y tế đã chọn sử dụng:
- Nhận xét của bà mẹ về năng lực, thái độ, trang thiết bị, thuốc men, chi
phí khám chữa bệnh của các loại hình dịch vụ yế tại địa phương:
Về năng lực cán bộ tại trạm y tế:
 Tốt
 Khá
 Yếu

20
Về thái độ phục vụ của cán bộ tại trạm y tế:
 Tốt
 Trung bình
 Kém
Về trang thiết bị tại trạm y tế:
 Đầy đủ
 Tương đối đầy đủ
 Thiếu thốn
Về thuốc men:
 Đầy đủ

quan hệ với mạng lưới cộng tác viên của trạm tại địa bàn nghiên cứu để được hỗ
trợ trong quá trình phỏng vấn tại gia đình.
- Buớc 2: Tiến hành
+ Tiến hành phỏng vấn các bà mẹ tại nhà để thu thập số liệu.
- Buớc 3: Xử lý số liệu và viết báo cáo
2.3.5. Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê trong y học với các
phần mềm thống kê Microsoft Excel 2003 và Medcalc version 9.0
Các thuật toán thống kê được sử dụng gồm:
- Tỷ lệ phần trăm
- Trị trung bình
- Độ lệch chuẩn
- Trị cực đại, cực tiểu
- So sánh hai tỷ lệ bằng phép kiểm định giả thuyết Ho với thống kê χ
2 22
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÓM BÀ MẸ ĐƢỢC NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1. Tuổi các bà mẹ
Trung bình
SD
Lớn nhất
Nhỏ nhất

Số bà mẹ
Tỷ lệ (%)
Nông
19
9,50
Buôn bán
51
25,50
CBCNVC
34
17,00
Khác
96
48,00
Tổng
200
100,00
Nhận xét: Đa số là các nghề khác (công nhân, thợ thuyền) chiếm 48%;
kế đó là buôn bán 25,5%; CBCNVC chỉ chiếm 17%; nông nghiệp thấp nhất:
9,5%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status