Xuất phát từ nhu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài " Nghiên cứu tình hình sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại 3 xã Ia Khươl, Ia Phí, Hồ Phú, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai - Pdf 25

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta có những bước
phát triển mạnh mẽ, đã làm thay đổi chất lượng cung cấp và lựa chọn các dịch
vụ y tế. Nhà nước đã có chủ trương đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch
vụ y tế. Bên cạnh hệ thống y tế của Nhà nước, khu vực khám y tế tư nhân đã
và đang tham gia cung cấp nhiều dịch vụ y tế phục vụ nhu cầu chăm sóc sức
khoẻ nhân dân. Nhờ vậy người dân có thể lựa chọn dịch vụ theo nhu cầu, họ
có thể đến thẳng bệnh viện tuyến tỉnh, thậm chí tuyến trung ương hoặc y tế tư
nhân để khám chữa bệnh, mà không cần sự giới thiệu của tuyến dưới.
Trong những năm qua, hệ thống y tế nước ta đã được kiện toàn mạng
lưới tổ chức từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo thực hiện công bằng
trong khám chữa bệnh cho đối tượng nghèo, trẻ em và nhân dân vùng sâu,
vùng xa, đã góp phần đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhân dân về chăm sóc sức
khỏe và thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh. Tuy nhiên một vấn đề
đặt ra là phải tìm được sự thống nhất hài hòa giữa nhu cầu KCB của người
dân và khả năng cung cấp dịch vụ CSSK hiện nay. Trong khi nhiều Trạm y tế
(TYT) cơ sở phường, xã, thị trấn, Nhà nước đã đầu tư xây dựng khang trang
nhưng tình hình KCB vẫn không khả quan, tỷ lệ người dân đến KCB tại TYT
phường xã còn quá thấp. Trong khi đó tại các cơ sở y tế (CSYT) tuyến trên,
thì số người đến KCB ngày càng đông, gây quá tải.
Theo nghị định Chính phủ số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/09/2004, mô
hình tổ chức của Trung tâm y tế dự phòng huyện và bệnh viện đa khoa huyện
là nơi khám chữa bệnh cơ bản phục vụ nhân dân, đồng thời hỗ trợ trực tiếp
chuyên môn tuyến cơ sở xã phường, thị trấn. Củng cố kiện toàn mạng lưới y
tế tuyến huyện, không những nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại chỗ mà
còn hỗ trợ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng [13].
Từ khi đổi mới cho đến nay, cùng với phát triển kinh tế – xã hội, nhiều
lĩnh vực trong y tế có sự thay đổi đáng kể. Một trong những thay đổi đó là
người dân phải chi trả chi phí dịch vụ y tế theo hai hình thức thông qua bảo
1
1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. HỆ THỐNG Y TẾ
Hệ thống y tế là một tập hợp các yếu tố có liên quan qua lại nhau.
Chúng góp phần tăng cường sức khoẻ tại nhà, tại các cơ sở giáo dục, tại các
nơi làm việc, tại cộng đồng cũng như trong môi trường tâm lý xã hội: Gồm y
tế và các ngành liên quan [ 26 ].
Hoạt động của hệ thống y tế bao gồm tất cả các hoạt động mà mục đích
cơ bản của nó là nhằm thúc đẩy, khôi phục và duy trì sức khoẻ
Hệ thống y tế được cấu thành từ người sử dụng dịch vụ y tế, người
cung cấp dịch vụ y tế, các ngành, các tổ chức cơ quan tham gia hoặc hổ trợ
dịch vụ y tế trong đó bao gồm cả thể chế chính trị các quan điểm triết học cả
quá trình phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội [ 9 ].
Theo tổ chức y tế thế giới (năm 2001), hệ thống y tế có 4 chức năng, đó
là chức năng về tài chính, chức năng tạo ra nguồn lực, chức năng cung cấp
dịch vụ và chức năng quản ly
Mạng lưới y tế khác với hệ thống y tế ở chổ: Mạng lưới y tế là tổ chức
cấu thành của những người cung cấp dịch vụ y tế [ 9 ] .
1.2. DỊCH VỤ Y TẾ
1.2.1. Định nghĩa
Dịch vụ y tế là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khoẻ
cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hoá
không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thoả mãn kịp thời
3
3
thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và
con người v? chăm sóc sức khoẻ [ 7 ], [ 22 ].
1.2.2. Đặc điểm của dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế gồm 2 yếu tố: Tiêu thụ và đầu tư, sức khoẻ là kết quả trực
tiếp của việc tiêu thụ phúc lợi đồng thời người lao động có sức khoẻ sẽ đóng
góp cho sản xuất và đầu tư.

-Nhóm yếu tố về văn hoá.
1.2.3.2. Yếu tố bệnh
Mức độ bệnh sẽ quyết định sự lựa chọn cách thức chữa bệnh của người
dân. Khi đau ốm nhẹ: Cảm cúm, đau bụng, nhức đầu ... thông thường mọi
người đều chung cách thức giải quyết, đó là để tự khỏi hoặc sử dụng các loại
thuốc có sẵn trong nhà hoặc tự ý mua thuốc tự chữa mà không có sự can thiệt
của thầy thuốc. Họ chỉ đến các cơ sở y tế khi bệnh không khỏi hoặc tiến triển
nặng hơn. Còn đối với những người có điều kiện khá hơn thì đi khắp tuyến
trên ; đối với những người nghèo thì chọn y tế địa phương.
1.2.3.3. Yếu tố giá cả
5
5
Các trường hợp bệnh nặng, cấp cứu cấp tính nghiêm trọng ảnh hưởng
đến sức khoẻ và tính mạng, thì việc lựa chọn các dịch vụ y tế không phụ
thuộc vào thu nhập. Dù nghèo khó đến mức nào họ cũng sẵn sàng bán cả tài
sản thậm chí là cả nhà cửa, chỉ mong sao người thân của họ được cứu sống.
Thế nhưng các trường hợp nhẹ và vừa thì vấn đề thu nhập và giá cả có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn và sử dụng đến dịch vụ y tế. Lúc này họ
đến các cơ sở y tế thuộc địa bàn họ cư trú để khám chữa bệnh, vì giá cả thấp
hơn hợp lý với thu nhậo của họ.
1.2.3.4. Yếu tố dịch vụ y tế
Thường không được đo lường bằng các biến định lượng mà bằng cách
biến định tính, thể hiện nguyện vọng ý kiến của người dân đối với cơ sở y tế.
Yếu tố dịch vụ y tế bao gồm: Trình độ chuyên môn của thầy thuốc,
trang thiết bị và vật liệu y tế.
1.2.3.5. Yếu tố đặc trưng cá nhân.
Nhiều tác giả cho thấy rõ các yếu tố liên quan gần nhất đến việc sử
dụng dịch vụ y tế yếu tố cá thể của con người như: Tuổi, giới, văn hoá, nghề
nghiệp, dân tộc ....
1.3.HỆ THỐNG CUNG CẤP DỊCH VỤ Y TẾ TẠI VIỆT NAM

7
7
Các nghiên cứu sử dụng dịch vụ y tế trên thế giới đều cho thấy quyết
định của người bệnh đi đâu, làm gì khi bị bệnh phụ thuộc khá nhiều vào tính
sẵn có dịch vụ, chất lượng dịch vụ y tế, giá thành cũng như cấu trúc xã hội
niềm tin về sức khoẻ và các đặc trưng cá nhân của người bệnh cũng như loại
bệnh mức độ bệnh, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế và khả năng tiếp cận tới
các dịch vụ y tế của người dân [ 40 ], [ 41 ].
Nghiên cứu sử dụng dịch vụ y tế trên thế giới đã được thực hiện ở
nhiều nước như Thuỵ Điển, Mỹ, Anh tư đầu thế kỷ XX.
Một ?i?u tra tại 4 làng c?a Thái Lan với 1755 trường hợp ốm được ghi
chép lại cho thấy có tới 70% tự điều trị khi ốm được khám bởi các cán bộ
chuyên môn [ 3 ].
Một tỷ lệ số người tự điều trị là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lạm
dụng thuốc. Đối với các nước đang phát triển, hiện tượng lạm dụng thuốc
càng xảy ra nghiêm trọng hơn, tình trạng tự mua thuốc điều trị đã trở thành
phổ biến. Một nghiên cứu 25.951 trường hợp ở Andhra Pradesh cho thấy 47%
thuốc ở các hiệu thuốc trong thành phố được bán không có chỉ định của thầy
thuốc [ 3 ].
Ở các nước đang phát triển, với nhiều lý do khác nhau, y tế tư nhân đã
được huy động tham gia cung cấp dịch vụ y tế, giảm bớt gánh nặng của y tế
nhà nước, đồng thời đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân.
Ở các nước mới công nghiệp hoá và các nước khu vực Đông Nam Á do sự
tăng trưởng kinh tế cao, nên mức sống của người dân tăng lên và nhu cầu sử
8
8
dụng dịch vụ y tế cũng tăng nhưng y tế nhà nước chưa đáp ứng đủ. Đối với
một số nước đang trải qua thời kỳ quá độ chuyển từ nền kinh tế hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường nguồn bao cấp của nhà nước. Bị cắt giảm dẫn đến
tình trạng thiếu trang thiết bị y tế,suy giảm tinh thần và thái độ phục vụ trong

[22 ].
Theo một nghiên cứu được tiến hành qua phỏng vấn 1000 hộ gia đình
tai xã Cổ Nhuế huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội về nơi đến khám chữa
bệnh của người ốm trong vòng 2 tuần (trước khi điều tra): Trạm y tế xã là
26,10%, y tế tư nhan là: 16,44%, bệnh viện 20,76%, mua thuốc tự điều trị là
30,72%, không chữa gì là 2,41% [ 1 ].
Trong 2 năm 1997 – 1998 các tác giả Dương Đình Thiện, Phùng Văn
Hoàn, Vũ Diễn và cộng sự đã thực hiện đề tài “Các biện pháp nâng cao chất
lượng thông tin y tế tuyến cơ sở” cho thấy: Chỉ có 33,8% tổng số người dân
đau ốm là đến khám tại Trạm y tế [ 23].
10
10
Từ năm 1991 – 1993 trong nghiên cứu “Chất lượng các dịch vụ y tế
cộng đồng và những quyết định của gia đình về chăm sóc sức khoẻ ở 4 xã tại
Quảng Ninh” các tác giả Trương Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tâm và cộng sự
đã cho thấy cái cách xử trí của gia đình khi có trường hợp ốm đau: 22% tự
chữa lấy không mua thuốc, 35% mua thuốc tự chữa, 43% có đi khám chữa
bệnh (22% đến cơ sở y tế cộng đồng, 12% đến thầy thuốc tư và 9% đến bệnh
viện tuyến trên) [ 23 ].
Năm 1997, Lữ Ngọc Kính, Nguyễn Thành Trung và cộng sự đã nghiên
cứu đánh giá thực trạng hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở xã Hợp
Tiến - Đồng Hỷ – Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ người ốm đến trạm y tế là
32,8% với ý do người ốm đến khám tại Trạm y tế là gần nhà và tinh thần phục
vụ của cán bộ y tế tốt [ 23 ].
Tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc trong công trình nghiên cứu về tình
hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân Ba Vì năm 1999, cho thấy tỉ lệ ốm
trong vòng 4 tuần là 47,7% tỷ lệ người dân tự điều trị khi ốm từ 62,73% được
phân bố không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm kinh tế, văn hoá và nghề
nghiệp. Các cơ sở y tế tư nhân được sử dụng nhiều hơn, trong khi các trạm y
tế đã được sử dụng với tỷ lệ thấp. Tỷ lệ đến khám chữa bệnh tại bệnh viện cao

Với đặc điểm của người già là phụ thuộc vào con cái, khả năng tự đi lại
khám chữa bệnh hạn chế, hơn nữa đặc tính truyền thống gia đình Việt Nam
người già ốm đau thường muốn khám chữa bệnh và chăm sóc ngay tại nhà.
Điều tra về mức sống dân cư năm 1993 cho thấy hơn 60% người già khi ốm
đau thường ở nhà tự điều trị. Sử dụng dịch vụ y tế tư nhân cũng là một hình
thức thường được người già lựa chọn với lý do gần nhà và có thể mời thầy
thuốc tư đến khám chữa bệnh. Tác giả Dương Huy Lương cho thấy các cụ
già khi ốm đau sử dụng dịch vụ y tế như sau: Tự điều trị 32%, y tế tư nhân
39%, trạm y tế 28,4%, bệnh viện 22,8% [ 25 ].
Các thuốc được tự dùng là những thuốc không kê đơn, được sản xuất
phân phối và bán có người dân tự dùng. Tự dùng thuốc thích hợp nhằm phòng
và điều trị bệnh mà không cần đến việc khám và theo dõi của Thầy thuốc.
Điều này làm giảm bớt sức ép cho các dịch vụ y tế. Đối với người dân vùng
nông thôn xa xôi khi tiếp cận các dịch vụ y tế người bệnh có thể tự chữa cho
mình một cách dễ dàng hơn vì chỉ khi bệnh không đáp ứng với thuốc tự dùng,
tình trạng bệnh kéo dài, năng hơn thì lúc đó dân mới tìm đến Bác sĩ [33].
Khi nghiên cứu về “Thực trạng sự lựa chọn mua thuốc của người dân
Huyện Từ Sơn”, tác giả Phạm Văn Khanh cho thấy khi bị ốm, người dân đến
13
13
trạm y tế xã là 20,79%, nhà thuốc tư nhân 4,03%, hiệu thốc nhà nước 2,96%.
Lý do: Tin tưởng vào chất lượng thuốc ở trạm y tế xã và hiệu thuốc nhà nước
là lý do hàng đầu, ở trạm y tế xã đủ thuốc để mua là lý do thứ 2, th?y thu?c t?
nhân g?n nhà là lý do th? 3 [ 21 ]
1.5. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TẠI XÃ IAKHƯƠL
CHƯPĂH:
1.5.1. Đặc điểm
Xã Iakhươl thuộc Huyện Chưpăh cách Thành phố Pleiku khoảng 34km
và cách Trung tâm Huyện khoảng 18km có đặc điểm.
- Diện tích tực nhiên: Khoảng 52.500 hecta; trong đó diện tích canh tác

UBND xã thành lập Ban chỉ đạo công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu
do đồng chí Phó chủ tịch UBND xã làm trưởng ban, Bác sĩ trưởng trạm làm
Phó ban cùng với các ban ngành đoàn thể làm thành viên.
15
15
Trạm y tế hoạt động dưới sự chỉ đạo toàn diện của Phòng y tế Huyện và
UBND xã cũng như một số chương trình mục tiêu y tế quốc gia Trung tâm y
tế dự phòng trực tiếp chỉ đạo.
- Các dịch vụ y tế mà Trạm y tế xã đảm nhận.
+ Khám chữa bệnh và cung cấp thuốc thiết yếu miễn phí.
+ Dịch vụ chăm sóc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em.
+ Dịch vụ phòng và chống các bệnh dịch lây truyền.
+ Dịch vụ phòng và chống các bệnh xã hội.
+ Dịch vụ vệ sinh môi trường (theo sự chi phối của Trung tâm y tế dự
phòng huyện).
1.6. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TẠI XÃ IAPHÍ
CHƯPĂH:
1.6.1. Đặc điểm
Xã IaPhí thuộc Huyện Chưpăh cách Thành phố Pleiku khoảng 36km và
cách Trung tâm Huyện khoảng 20km có đặc điểm.
- Diện tích tực nhiên: Khoảng 7.619 hecta; trong đó diện tích canh tác
thấp, chủ yếu là diện tích rừng và trồng cây công nghệp.
- Dân số: Khoảng 5.397 người; Trong đó: Nam: 2.660 Nữ 2.737
Trẻ em dưới 6 tuổi : 750
Phụ nữ 15 – 49tuổi: 956
Với cơ cấu dân số là đồng bào dân tộc thiểu số tỷ 100%
16
16
- Giáo dục:
+ Mầm non: Có 02 trường mầm non . Cụm chính tại cụm trung tâm xã

UBND xã cũng như một số chương trình mục tiêu y tế quốc gia Trung tâm y
tế dự phòng trực tiếp chỉ đạo.
- Các dịch vụ y tế mà Trạm y tế xã đảm nhận.
+ Khám chữa bệnh và cung cấp thuốc thiết yếu miễn phí.
+ Dịch vụ chăm sóc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em.
+ Dịch vụ phòng và chống các bệnh dịch lây truyền.
+ Dịch vụ phòng và chống các bệnh xã hội.
+ Dịch vụ vệ sinh môi trường (theo sự chi phối của Trung tâm y tế dự
phòng huyện).
1.7. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TẠI XÃ HÒA PHÚ
CHƯPĂH:
18
18
1.7.1. Đặc điểm
Xã Hòa Phú thuộc Huyện Chưpăh cách Thành phố Pleiku khoảng
23,5km và cách Trung tâm Huyện khoảng 7km có đặc điểm.
- Diện tích tực nhiên: Khoảng 5.481hecta; trong đó diện tích canh tác
thấp, chủ yếu là diện tích rừng và trồng cây công nghệp.
- Dân số: Khoảng 5.132 người; Trong đó: Nam: 2.578 Nữ 2.554
Trẻ em dưới 6 tuổi : 769
Phụ nữ 15 – 49 tuổi: 1387
Với cơ cấu dân số là đồng bào dân tộc thiểu số tỷ 26,1%
- Giáo dục:
+ Mầm non: Có 05 trường mầm non .01 Cụm chính tại cụm trung tâm
xã và 04 cum lẻ tại 04 thôn lang.
+ Tiểu học: Một trường tiểu học cụm chính và 04 trường cụm phụ.
+ Phổ thông Trung học cơ sở có 01 trường tại trung tâm xã
+ Có bưu điện văn hoá xã.
+ Khí hậu: Có hai mùa rõ rệt: Một mùa mưa và một mùa nắng.
+ Kinh tế: Khá khó khăn nguồn thu nhập chính của người dân là từ

+ Dịch vụ phòng và chống các bệnh dịch lây truyền.
+ Dịch vụ phòng và chống các bệnh xã hội.
+ Dịch vụ vệ sinh môi trường (theo sự chi phối của Trung tâm y tế dự
phòng huyện)
21
21
Chương 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
Người dân dân dân từ từ 15 tuổi trở lên trong các hộ gia đình tại 3 xã Ia
Khươi, Ia Phí, Hoà Phú, huyện Chưpăh, tỉnh Gia lai
2.1.2. Thời gian
Thời gian nghiên cứu. năm 2007
2.1.3. Địa điểm
Tại 3 xã Ia Khươl, Ia Phí, Hoà Phú, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, điều tra ngang
2.2.2. Cỡ mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu
Tính theo công thức ngẫu nhiên đơn
n =
Z
2

(1- α/2)
p (1-p)
X SE
d

Điều tra tất cả các thành viên trong hộ gia đình, thực tế điều tra được
849 ngưòi dân
Thành viên trong hộ gia đình là những người cùng ăn chung trong
khoảng thời gian 3 tháng, tính từ thời điểm trước ngày điều tra.
Kết quả điều tra được 849 người dân
2.2.3. Nội dung và các chỉ số nghiên cứu
2.2.3.1. Tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại 3
xã Ia Khươi, Ia Phí, Hoà Phú, huyện Chưpăh, tỉnh Gia lai
- Người dân có các triệu chứng cơ năng theo giới nam, nữ
- Tình hình của người dân có các triệu chứng cơ năng trong 2 tuần qua
- Tỷ lệ người dân mắc bệnh cấp tính
- Tỷ lệ người dân mắc bệnh mạn tính
- Tình hình khám chữa bệnh của người dân trong 2 tuần qua
+ Người dân có triệu chứng có năng và khám chữa bệnh trong 2 tuần qua
+ Người dân mắc bệnh cấp tính, mạn tính và khám chữa bệnh trong 2 tuần
qua
2.2.3.2. Một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của
người dân
- Tình hình khám và chữa bệnh của người dân theo giới nam và nữ
- Tình hình khám chữa bệnh của người dân theo nhóm tuổi
- dưới 16 tuổi
- 16 - 59 tuổi
- từ 60 tuổi trở lên
- Tình hình khám chữa bệnh của người dân theo trình độ học vấn
+ Mù chữ
+ Tiểu học (TH), Phổ thông cơ sở (PTCS)
+ Phổ thông trung học (PTTH), Cao đẳng (CĐ), Đại học (ĐH)
- Tình hình khám chữa bệnh của người dân theo kinh tế
+ Kinh tế trung bình, khá
+ Kinh tế nghèo

- Bệnh cấp tính. Bệnh khởi phát nhanh, thường có triệu chứng lâm sàng
và kéo dài trong một thời gian ngắn,có biểu hiện bệnh trong khoảng thời gian
15 ngày nghiên cứu.
- Bệnh mạn tính. Bệnh thường khởi phát từ từ, có hoặc không có triệu
chứng lâm sàng, kéo dài lâu và thay đổi rất chậm, được xác định qua khám
bệnh hoặc có xác nhận trong y bạ, đơn thuốc của các bác sỹ trong năm 2007.
- Đợt cấp của bệnh mạn tính. Trên nền của một bệnh mạn tính có
những đợt bộc phát với triệu chứng lâm sàng rõ và nặng, trong khoảng 15
ngày nghiên cứu.
- Triệu chứng cơ năng là những biểu hiện gây ra bởi các rối loạn chức
năng của các tạng phủ mà bản thân tự nhận biết, xác định bất thường và tự
báo cáo, kéo dài trên 1 ngày hoặc được xác định bởi nhân viên y tế hoặc thành
24
24
viên trong gia đình [14], [23].
+ Nhìn mờ. Đứng cách 3 mét, đưa ngón tay ra bảo đối tượng đếm mà
không đếm được.
+ Nghe kém. Nói với cường độ to như nói chuyện hàng ngày, trong
điều kiện phòng yên tĩnh, bình thường tai có thể nghe cách 50 mét, nếu nghe
dưới 5 mét là giảm sức nghe [8]
+ Chóng mặt. bệnh nhân có cảm giác những vật xung quanh mình di
chuyển quay tròn, qua lại…hoặc bản thân mình di chuyển theo một hướng
nào đó.[9]
- Tăng huyết áp. Nếu huyết áp động mạch tối đa 140 mmHg trở lên và
hoặc huyết áp động mạch tối thiểu từ 90mm Hg trở lên [19].
- Kinh tế trung bình, khá. Điều kiện nhà ở khang trang, tiện nghi, có đủ
tiền chi phí cho sinh hoạt ăn uống hằng ngày, còn thừa tiền để dành, mua
sắm…không vay nợ để ăn uống, chữa bệnh.
- Kinh tế nghèo. Điều kiện nhà ở chật chội, ẩm thấp, thiếu thốn, không
đủ tiền chi phí cho sinh hoạt ăn uống đơn giản hằng ngày, phải vay mượn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status