TRẦN THÚY AN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ^
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TÉ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRẦN THÚY AN
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TÉ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Ngọc Lan
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và ghi rõ nguồn
Trần Thuý An
MỤC LỤC
3.3.1..........................................................................................................................
3.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viêt tăt
BQ
CC
Bình quân Cơ cấu
Cựu chiến binh
CCB
Công nghiệp hóa
CNH
Công nhân viên chức
CNVC
Nghĩa
Cùng kỳ
CK
LĐ
Kế hoạch
Khoa học kỹ thuật
Lao động
Lao động - Thương binh và xã hội Liên hiệp phụ nữ
LĐ-TB&XH
Người cao tuổi
LHPN NCT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NN & PTNT NQ
Nghị quyết
NS NST QĐ
Năng suất
THCS THPT TTg
TW UBND
Nhiễm sắc thể
Quyết định
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Việt
người
phụ
nữ
Nam
ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong gia đình và ngoài xã hội.
Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong công cuộc xây dựng
đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục
đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội, phụ nữ ngày
càng có nhiều cơ hội tổ chức hoặc tham gia các hoạt động lao động sản xuất để tạo thu nhập
kinh tế cho gia đình. Hiện nay, kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò trọng yếu trong
những thành công của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự
phát triển kinh tế hộ gia đình luôn hướng vào chủ hộ - thường là nam giới, do vậy nam giới
ở nông thôn trên thực tế đã được hưởng nhiều thành quả của việc trao quyền hơn hẳn phụ
nữ. Mặc dù bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường ở điểm
xuất
như
nữ trở
nam giới, xong có rất
huyện
Lương,
Phú
hiểu về
vai trò
của phụ
nữở
tỉnh
Thái Nguyên trong phát triển kinh tế hộ gia đình, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong
quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, để từ đó đề xuất một số giải pháp có tính
khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này, nâng cao bình đẳng giới qua đó
thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hóa là một phần trong chiến lược phát triển.
Xuất phát
từ tính cấp thiết nêu trên và
sự nhận thức sâu sắc về những
tiềm năng to lớn của phụ nữ, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu vai trò của phụ
nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái
(4) Giải pháp nào nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ
nữ ?
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1.
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên
cứu của đề tài là
tư liệu khoa học hữu ích cho việc
nghiên cứu, tham khảo trong việc giảng dạy, học tập tại các trường, các viện nghiên cứu về
phát triển nông thôn.
4.2.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nhiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu cho chính quyền địa phương, các cấp, các
ngành của huyện Phú Lương nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói
chung sử dụng cho việc nâng cao và phát huy vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển
kinh tế hộ gia đình tại các xã trên địa bàn huyện và tỉnh.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính
sách, các Bộ, Ngành có liên quan xem xét trong việc điều chỉnh, bổ sung cơ chế
chính sách trong việc nâng nâng cao hơn nữa vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ gia đình tại các xã trong cả nước.
mẹ. Về mặt sinh
không
giống
nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và chức năng sinh
sản. [13]
-
Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di
truyền. Chẳng hạn như: người có cặp NST giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người có cặp
NST giới tính XY thì thuộc về nam giới. Ngay từ trong bào thai, hoóc môn, nhiễm sắc thể,
bộ phận sinh dục...của nam giới và nữ giới khác nhau, được quy định bởi tự nhiên, không
theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Đồng thời, chức năng sinh sản của
nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau.
-
Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có có chức năng/cơ quan sinh sản giống nhau,
đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinh sản như nhau. Đây được gọi
là tính đồng nhất. Sự khác biệt về giới tính hầu như bất biến cả về thời gian cũng như về
không gian. [9]
* Giới:
Theo Tổ chức lao động quốc tế, Thúc đẩy bình đẳng giới, năm 2002: sự khác biệt về
xã hội và quan hệ (quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được
hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo
học của giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ. Hiểu rõ vai trò của giới
và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết để tổ chức và triển khai sự phân công
lao động hợp lý.
1.1.1.2.
Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm giới:
-
Không tự nhiên mà có
-
Học được từ gia đình và xã hội
-
Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
-
Có thể thay đổi được
* Nguồn gốc giới
-
Trong gia đình, ngay từ khi sinh ra, đứa trẻ đã được đối xử tùy theo chúng là trai hay gái.
Những sự khác nhau đó có thể là: về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị.
Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt
động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho
họ làm tốt vai trò sẵn có của mình. [1]
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà
phụ nữ trải qua. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới,
cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người. Khác với nhu cầu chiến
lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên
ngoài. Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận
thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể.
* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ
nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những lợi ích này khi
được
đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam
giới theo
hướng bình đẳng. [1]
* Bĩnh đẳng giới:
-
Theo Trần Thị Vân Anh: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công
nhận và có vị thế bình đẳng. [1]
-
đẳng như nam giới. Đây là quan điểm bình đẳng giới thực chất. [16]
Luật Bình đẳng giới (2006) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí,
vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát
triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
[11]
Với một xã hội hiện đại như ngày nay, bình đẳng giới cần phải gắn với quan điểm
phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Điều này thể hiện ở việc tôn trọng
giá trị nhân phẩm của nam giới cũng như nữ giới trong những đóng góp của họ đối với xã
hội và gia đình. Đồng thời, cả hai giới đều có trách nhiệm, chia sẻ với nhau trong thực hiện
công việc gia đình và công việc chung của xã hội.
Trong xã hội, nếu cả phụ nữ và nam giới cùng được tạo điều kiện để phát huy hết khả
năng thực hiện các mong muốn, được tham gia, đóng góp và hưởng thụ các nguồn lực và
thành quả trong quá trình phát triển của xã hội, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống
như nhau thì xã hội đó đã đạt được bình đẳng giới. Còn ngược lại, nếu những tiêu chí này
chưa được xác lập thì chứng tỏ rằng xã hội đó đang tồn tại bất bình đẳng giới.
1.1.1.4.
Vai trò của gi ới
Trong cuộc sống, cả nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội,
tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những
quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định. Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là
vai trò giới. Các vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời
gian (tương ứng với sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay
đổi trong quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành
vi ứng xử vai trò nào đó).
Vai trò giới: là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liên quan
động tái sản xuất dân số và
sức
lao động như sinh con, các công việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc con, nấu ăn,
dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khoẻ gia đình... Những hoạt động này tiêu tốn nhiều thời
gian nhưng không tạo ra thu nhập, vì vậy mà ít khi được coi là “công việc thực sự”, được
làm miễn phí. Hầu hết phụ nữ và trẻ gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công
việc tái sản xuất.
-
Vai trò cộng đồng: bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch vụ, các công việc nhằm
đảm bảo và duy trì các nguồn lực để sử dụng chung nguồn nước, vệ sinh đường làng ngõ
xóm, tham gia lễ hội của làng bản, tham dự các đám hiếu hỉ.Công việc cộng đồng có ý
nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng. Có lúc nó đòi hỏi
sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay được. Có lúc nó lại
được trả công và có thể nhìn thấy được như thăm hỏi động viên gia đình bị nạn trong thảm
họa, thiên tai; nấu cơm hoặc bố trí nhà tạm trú cho những gia đình bị mất nhà ở, huy động
cộng đồng đòng góp lương thực, thực phẩm cứu trợ người bị nạn.
Không thể phủ nhận một điều: cả nam và nữ đều có những đóng góp nhất định thông
qua các vai trò trên. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, việc thể hiện vai trò giữa hai
còn có
sự
khác
nhiệm khác nhau mang tính xã hội của phụ nữ và nam giới nảy sinh từ những đặc điểm sinh
học vốn có của họ. Đồng thời hiểu được điều này dẫn đến khác biệt giới về khả năng tiếp
cận, kiểm soát nguồn lực và mức độ tham gia, hưởng lợi trong quá trình phát triển của nam
và nữ.
1.1.1.7.
Trách nhiệm giới
Trách nhiệm giới là có nhạy cảm giới và có những biện pháp hoặc hành động thường
xuyên, tích cực và nhất quán trong công việc để loại trừ nguyên nhân bất bình đẳng giới
nhằm đạt được bình đẳng giới.
Hay nói cách khác, đó là việc nhận thức được các vấn đề giới, sự khác biệt giới và
nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc phục mọi bất
bình đẳng trên cơ sở giới. [22]
1.1.1.8.
Số liệu có tách biệt giới
Số liệu giới là số liệu tách biệt nam, nữ trong các chỉ tiêu, các lĩnh vực cụ thể. Các số
liệu này cho thấy mức độ của các khoảng cách giới và được thể hiện dưới nhiều dạng bảng
biểu khác nhau. Số liệu giới chỉ cho thấy sự khác biệt giữa nam và nữ mang tính định lượng
bằng con số hoặc tỷ lệ cụ thể mà không cho biết tại sao lại tồn tại những khác biệt đó.
1.1.2.
thức chính thường được nói
đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình:
-
Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
-
Cùng cư trú
-
Có cơ sở kinh tế chung [19]
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy, có rất nhiều
khái niệm khác nhau của các nhà khoa học về “Hộ”:
-
Thống kê Liên
Hợp Quốc có khái niệm về “Hộ” gồm những người
sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ.
-
một
số
từ điển
chuyên ngành kinh
tế, từ điển
ngôn ngữ thì hộ
được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có
cùng huyết tộc và những người làm công. [19]
Từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
-
Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết
thống, tuy nhiên cũng có thể trường hợp thành viên của hộ không cùng chung huyết thống
như con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận
cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài....
-
Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao
động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản
đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực
vật,...) và thông
thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp". [7]
Xuất phát từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm chung như sau:
-
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp.
Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia các
hoạt động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ... ở các
mức độ khác nhau.
-
Hộ
nông dân là một đơn vị
vừa là một
đơn vị tiêu dùng.
kinh tế
Hộ nông dân
cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất
phải phụ thuộc vào các
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực
tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường.
1.2.
1.2.1.
1.2.1.1.
Cơ sở thưc tiễn
Thực trạng và vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
Khái quát về thực trạng và vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm việc
nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn. Hầu hết mọi nơi trên thế
giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc. Thu nhập của
phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu nhập của nam giới [3].
Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI)
và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới. Na Uy có một hệ thống luật pháp đồng
bộ hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho người phụ nữ. Chính phủ Na Uy rất quan
tâm đến vấn đề bình đẳng giới và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển. Là
quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử vào năm 1913 và có
quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930. Na Uy cũng có Luật bình đẳng giới ban hành từ năm
1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát
triển.
Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián
tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép.
Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: tuyển dụng không được hạn
tuyển một
giới.
bạn bè và hàng xóm. Rất ít thông tin được trực tiếp chuyển đến người phụ nữ.
* Phụ nữ
chiếm một tỷ trọng
lớn trong lực lượng lao động:
Tỷ lệ nữ
tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ
chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so với
82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%).
Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các
nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn
tham gia lực lượng lao động, cao gần
cùng nhóm tuổi. Đặc biệt
gấp 2 lần
phụ
phụ nữ
nông
nữ
thành
ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không
được ghi nhận một cách xứng đáng.
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng
và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách. Đây là cuộc
đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu. Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn
năm phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ
phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu... Ngay tại các
bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp
những khó khăn nhất định. Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn
chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ. Như vậy, mặc dù đã đạt
được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà
chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự.
1.21.2.
Thực trạng và vai trò của phụ nữ nông thôn Việt Nam, một số chủ trương chính
sách của nhà nước với sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới:
Trong các gia
nuôi, chế
đình Việt Nam thì
biến và bán
phụ nữ tham gia
trồng trọt, chăn
so thu nhập của nam giới làm việc bên ngoài, nhưng những người nữ nông dân ở đây vẫn ý
thức được sự quan trọng của cây lúa. Do vậy, họ vẫn mong muốn, hy vọng được tiếp cận
với các giống cây trồng mới và kỹ thuật canh tác tiên tiến để có thể nâng cao năng suất và
sản lượng của cây trồng.
Những chính sách cải cách nhằm củng cố kinh tế hộ gia đình như phân bổ quyền sử
dụng đất, xác định vị thế và quy định pháp lý của các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
chung của hộ gia đình, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ khuyến nông cho hộ gia đình nhưng
đối tượng chính tiếp nhận thông tin lại là nam giới, thường là với tư cách chủ hộ.
Trong gia đình thì phụ nữ ít có kiến thức nhưng lại có kinh nghiệm và kỹ năng sản
xuất tốt. Nam giới thường hưởng thụ những thành quả từ sự cải cách kinh tế hơn là phụ nữ .
Phụ nữ luôn phải tỏ ra kính trọng với nam giới. Thái độ xã hội về vai trò của người
phụ nữ trong gia đình đã làm cho việc xử lý những vấn đề như ngược đãi, bạo hành, ly hôn
và phụ nữ nuôi con trở nên khó khăn.
Phụ nữ thiếu những kỹ năng lao động và thiếu tự tin ngay cả trong gia đình của mình.
Điều này lại càng củng cố thêm định kiến về phụ nữ. Tuy những định kiến giới tác động với
cả hai giới nhưng nhìn chung phụ nữ vẫn chịu ảnh hưởng nhiều hơn.
Giải phóng phụ nữ và tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển toàn diện là một trong
những
mục tiêu quan
trọng của cách mạng Việt Nam. Trong
suốt
quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục
tiêu bình
Chỉ thị số 44 - CT/TW ngày 07/06/1984 của Ban bí thư chỉ ra rằng “Nhiều cấp ủy
Đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng về