LUẬN văn THẠC sĩ bồi DƯỠNG NĂNG lực THAM mưu đề XUẤT của đội NGŨ cán bộ CHỦ CHỐT các PHÒNG CHUYÊN môn cấp HUYỆN ở TỈNH sóc TRĂNG HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cơ quan chuyên môn cấp huyện gọi là phòng chuyên môn thuộc
UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND quản lý nhà
nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền
hạn theo sự ủy quyền của UBND và quy định của pháp luật; góp phần bảo
đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương.
Đứng đầu phòng chuyên môn cấp huyện là trưởng phòng; người chịu trách
nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND và trước pháp luật về thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQCM do mình phụ trách. Cấp phó của người
đứng đầu CQCM thuộc UBND cấp huyện gọi chung là phó trưởng phòng; là
người giúp trưởng phòng chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm
trước trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công. Khi trưởng phòng vắng
mặt, một phó trưởng phòng được trưởng phòng ủy nhiệm điều hành các hoạt
động của phòng. Tập hợp các trưởng, phó trưởng phòng chuyên môn cấp
huyện thành đội ngũ của CBCC của CQCM cấp huyện. Trong số những cán
bộ thuộc CQCM, cán bộ chủ chốt bao giờ cũng có trách nhiệm và quyền hạn
lớn hơn số người còn lại; theo đó, vai trò của họ cũng quan trọng hơn. Do
vậy, đội ngũ CBCC của CPCMCH có vai trò rất quan trọng trong thực hiện
chức năng tham mưu, đề xuất của các phòng cho UBND. Vai trò đó chỉ được
hiện thực hóa khi họ có năng lực toàn diện, nhất là năng lực tham mưu, đề
xuất – một loại năng lực có tính đặc trưng và đặt biệt quan trọng của cơ quan,
cán bộ cơ quan các cấp.
Hồ Chí Minh đã khắng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”,
“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Điều đó
đúng với tất cả các loại cán bộ nói chung và cán bộ CQCM các cấp nói riêng.
Ở nước ta, cấp huyện là một trong bốn cấp hành chính. Cấp huyện là cấp
trung gian tương đối gần dân nhất, là cấp chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ
trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoặc đề ra
chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường khối đoàn kết toàn dân,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi tiềm năng phát triển

và bồi dưỡng đội ngũ CBCC luôn được nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý, các
nhà khoa học quan tâm, như:
* Một số luận văn thạc sĩ
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện ở nước ta hiện nay" của Vũ Đình Chuyên, Luận văn thạc sĩ Triết
học, 2000.
2


- "Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay" của Nông Văn Tiềm,
Luận văn thạc sĩ Triết học năm 2001.
- Trần Duy Hưng (2002): “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp huyện ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện Nay”,
Luận văn thạc sĩ Lịch sử.
- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ với việc nâng cao năng lực
lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá hiện nay" của
Bùi Khắc Hằng, 2004.
- Nguyễn Thị Bích Hường (2006): "Chất lượng đào tạo cán bộ chủ chốt
của hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn ở trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng
Phong, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay" , Luận văn Thạc sỹ.
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước theo yêu
cầu cải cách hành chính của tỉnh Bình Phước hiện nay”, của Giang Thị
Phương Hạnh, Luận văn thạc sỹ Luật học 2009.
- “Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh
Bạc Liêu hiện nay” của Trần Văn Phú, Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng và
chính quyền nhà nước, 2015.
* Một số công trình, sách và bài báo
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” (2002 - 2004), Đề tài

Việt Nam trong điều kiện mới, Sách “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền”, Nxb. Chính trị
quốc gia - Sự thật, H., 2014.
- Nguyễn Thị La, Học viện Hành chính quốc gia, (2016), Đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính, Tạp chí Cộng
sản, Số tháng 3/2016.
- Trần Lưu Hải (2016), Một số vấn đề về công tác quy hoạch, luân
chuyển cán bộ - thành tựu, hạn chế và phương hướng, giải pháp khắc phục,
Tạp chí Cộng sản, Số tháng 1/2016.
Qua phân tích kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học, luận
văn thạc sỹ, các sách, bài viết trên cho thấy các tác giả đã bàn luận và làm
sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực giáo dục, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức nói chung, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chủ chốt nói riêng trong toàn quốc và ở những địa phương, đơn vị khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề “Bồi dưỡng năng lực
tham mưu, đề xuất của đội ngũ CBCC của CPCMCH ở tỉnh Sóc Trăng hiện
4


nay”. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu đã được công
bố, cùng với những tìm tòi, điều tra, nghiên cứu, tôi hy vọng làm cho vấn đề
này được phân tích, luận giải một cách có hệ thống, rõ ràng hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn; xác định yêu cầu và đề
xuất giải pháp tăng cường bồi dưỡng năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ
CBCC của CPCMCH ở tỉnh Sóc Trăng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình
hình mới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản về năng lực tham mưu, đề xuất và bồi dưỡng

thành ủy trực thuộc.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin,
luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên
ngành và liên ngành, trong đó chú trọng các phương pháp logich – lịch sử,
phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học và phương
pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở khoa học giúp Tỉnh ủy và
các cấp ủy cấp huyện ở tỉnh Sóc Trăng nghiên cứu vận dụng vào trong quá
trình xây dựng, bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ nói chung,
bồi dưỡng năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ CBCC của CPCMCH nói
riêng. Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đề tài còn được dùng làm tài liệu
tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các trường chính trị
tỉnh, huyện.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC THAM MƯU, ĐỀ XUẤT CỦA ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CỦA CÁC PHÒNG CHUYÊN MÔN
CẤP HUYỆN Ở TỈNH SÓC TRĂNG
1.1. Năng lực tham mưu, đề xuất và những vấn đề cơ bản về bồi
dưỡng năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ cán bộ chủ chốt của các
phòng chuyên môn cấp huyện ở tỉnh Sóc Trăng

Ngã Năm. Ngày 08/2/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2007/NĐCP về việc thành lập thành phố Sóc Trăng. Ngày 24/9/2008, Chính phủ ra
Nghị định số 02/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỹ Tú và
thành lập thêm huyện Châu Thành. Đến ngày 23/12/2009, Chính phủ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị quyết số 64/NQ-CP,
điều chỉnh địa giới hành chính hai huyện Mỹ Xuyên, Long Phú và thành lập
thêm huyện Trần Đề.
Tính đến năm 2014, đơn vị hành chính tỉnh Sóc Trăng có 08 huyện, 01
thành phố, 02 thị xã với 109 xã, phường, thị trấn với diện tích, dân số cụ thể:
Đơn vị

Diện tích (ha)

Dân số (người)

Mật độ dân số
(người/Km2)

Toàn tỉnh

331.176,29

1.289.441

389

TP Sóc Trăng

7.615

135.478


112.149

426

H Cù Lao Dung

26.051

62.024

237

H Mỹ Tú

36.815,56

105.891

287

H Châu Thành

23.632,43

100.421

425

H Thạnh Trị

người, chiếm 5,88%) đã cùng chung sức khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng
đất này. Trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử, ý thức dân tộc, tinh thần
yêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm ngày càng được củng cố bền vững.
Tinh thần yêu nước của nhân dân Sóc Trăng được thể hiện ngay từ buổi khai
phá, mở mang vùng đất mới đã anh dũng chiến đấu chống lại bọn cướp biển
Java (nay là Indonesia), quân xâm lược Xiêm La (nay là Thái Lan), giữ gìn
xóm làng quê hương, bảo vệ mồ mả ông bà tổ tiên. Cùng với nghĩa quân Tây
Sơn đánh 05 vạn quân Xiêm (do Nguyễn Ánh cầu viện) xâm lược nước ta,
làm nên chiến thắng lịch sử ở Rạch Gầm - Xoài Mút.
Phát huy truyền thống của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ
tỉnh, nhân dân Sóc Trăng đã làm nên những chiến thắng vẻ vang qua các
chặng đường lịch sử chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ và nhân dân quyết
tâm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủa nghĩa. Cùng với cả nước vững bước tiến lên chủ nghĩa
xã hội, xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp, phấn đấu vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trải qua bao thăng trầm biến cố và phát triển của lịch sử, các dân tộc ở
tỉnh Sóc Trăng đã có mối quan hệ gắn bó huyết thống, xây dựng nên tinh thần
thân ái, đùm bọc lẫn nhau trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau trong lao động
sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín
ngưỡng.v.v... tạo nên cuộc sống hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng
đồng các dân tộc. Đặc biệt, trong quan hệ giao tiếp, người dân lao động ở đây
còn thể hiện đức tính quý trọng nhân nghĩa, thẳng thắn, bộc trực, sống hào
phóng, giản dị, tình cảm mộc mạc chân thành, đó là bản tính truyền thống của
người dân Nam bộ nói chung và người dân Sóc Trăng nói riêng.
* Hệ thống chính trị cấp huyện ở tỉnh Sóc Trăng
Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (nhà
nước, các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các

mà các tổ chức này cũng đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện các nhiệm
vụ chính trị của địa phương.
* Các phòng chuyên môn cấp huyện ở tỉnh Sóc Trăng
Các phòng chuyên môn (gọi chung là CQCM) cấp huyện thuộc UBND
cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý
10


nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ,
quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định
của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh
vực công tác ở địa phương.
Các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản
lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và
công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng
dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của CQCM thuộc UBND cấp tỉnh. Thủ trưởng
CQCM thuộc UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND và
CQCM cấp trên và khi cần thiết thì báo cáo công tác trước HĐND. Tuỳ điều
kiện của từng địa phương mà Chủ tịch UBND quyết định thành lập hay bãi bỏ,
sát nhập các CQCM trực thuộc theo quy định của Chính phủ.
Các phòng chuyên môn cấp huyện ở tỉnh Sóc Trăng có thể chia thành 3
nhóm lĩnh vực cơ bản:
- Lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, thương mại.
- Lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, thể thao, báo
chí, thông tin, bảo hiểm, y tế.
- Lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Theo quy định của pháp luật, các phòng chuyên môn cấp huyện ở tỉnh Sóc
Trăng làm việc theo chế độ thủ trưởng. Người đứng đầu CQCM chịu trách
nhiệm lãnh đạo toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan.

tác ở địa phương.
Hai là: Chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công
chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời
chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của CQCM
thuộc UBND Tỉnh.
Bên cạnh đó, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, mỗi phòng
chuyên môn cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo
sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo
đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của phòng chuyên môn cấp huyện ở tỉnh Sóc Trăng
Một: Trình UBND cấp huyện ban hành Quyết định, Chỉ thị; quy hoạch,
kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; Chương trình, biện pháp tổ chức thực
hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà
nước được giao.
12


Hai: Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau
khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý được giao; theo dõi thi hành pháp luật.
Ba: Giúp UBND cấp huyện thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm
định, đăng ký, thực hiện các thủ tục hành chính thuộc phạm vi trách nhiệm và
thẩm quyền của CQCM theo quy định của pháp luật và theo phân công của
UBND cấp huyện.
Bốn: Giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập
thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn
thuộc các lĩnh vực quản lý của CQCM theo quy định của pháp luật.
Năm: Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực quản lý của CQCM
cho cán bộ, công chức cấp xã.

phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ
các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong
các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử,
phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định
là cán bộ. Thực tế, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ;
hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành
viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành
tương ứng, hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật Cán bộ,
công chức quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính
trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của
Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể. Những ai là cán bộ trong
cơ quan nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội,
Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện
Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (nay
là Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực từ ngày 01/01/2016), Luật
Kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Cán bộ chủ chốt là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có
tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp
nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo,
quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu
trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao.
Từ những vấn đề trên có thể quan niệm: Đội ngũ CBCC của CPCMCH
cán ở tỉnh Sóc Trăng là một bộ phận đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước, đó
14


là tập hợp những công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
các chức vụ, chức danh trong biên chế CCPCM cấp huyện ở Tỉnh; là những
người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu giữ vai trò nòng cốt, có tác



Đội ngũ cán bộ chủ chốt phòng chuyên môn cấp huyện là những cán bộ
tham mưu cho UBND cấp huyện, thường xuyên tiếp xúc với dân và giải quyết
công việc của dân. Vì vậy, nếu đội ngũ này có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ vững vàng, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân thì mọi
công việc quản lý nhà nước ở địa phương sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần đẩy
mạnh cải cách hành chính. Thực tế cũng đã chỉ ra, chất lượng công tác của đội
ngũ cán bộ chủ chốt phòng chuyên môn gắn liền với chất lượng hoạt động của
các phòng chuyên môn và qua đó liên quan đến việc quán triệt, tổ chức thực
hiện đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước, kế
hoạch phát triển các mặt và các quy định của địa phương.
Hai là, đội ngũ CBCC của CPCMCH là lực lượng nòng cốt trong thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của phòng chuyên môn. Cán bộ chủ chốt phòng
chuyên môn là người trực tiếp tổ chức, điều hành phòng chuyên môn thực
hiện các công việc tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về các lĩnh vực, ngành ở địa phương và thực hiện một số
nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy
định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc
lĩnh vực công tác ở địa phương. Vai trò đó được xác định rõ ràng thành chức
trách nhiệm vụ của từng cán bộ trưởng, phó phòng. Nếu cán bộ chủ chốt có
trách nhiệm cao, có năng lực tốt, nhất là năng lực quản lý, điều hành, có kinh
nghiệm thực tiễn thì CQCM hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ và ngược lại.
Ba là, đội ngũ CBCC của CPCMCH là lực lượng nòng cốt trong xây
dựng CPCMCH vững mạnh. Qua đó góp phần xây dựng, nâng cao năng lực,
hiệu lực hoạt động của tổ chức chính quyền cấp huyện. Là những người đứng
đầu và phụ trách các phòng chuyên môn, đội ngũ cán bộ chủ chốt có ảnh
hưởng rất quan trọng trong quá trình xây dựng cơ quan vững mạnh về mọi
mặt. Cán bộ chủ chốt phòng chuyên môn cấp huyện là người chịu trách nhiệm
về việc lãnh đạo, quản lý, điều hành mọi hoạt động của phòng chuyên môn

ban hành các quyết định, chỉ thị nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước về một hoặc một số nhiệm vụ chuyên
môn được phân công phụ trách vào điều kiện cụ thể của huyện, thị, thành phố
trong tỉnh Sóc Trăng.
Hai là: Xây dựng các phương án, đề án, dự án, chương trình phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương để UBND, chủ tịch UBND cấp huyện quyết
định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện.
Ba là: Nghiên cứu, xây dựng các nội quy, quy chế quản lý đối với lĩnh
vực chuyên môn nghiệp vụ được giao nhằm đảm bảo sự quản lý thống nhất,
17


sự chỉ đạo, điều hành có hiệu quả của sở quản lý ngành và của UBND cấp
huyện trong tỉnh Sóc Trăng.
Bốn là: Tham mưu, đề xuất với Chủ tịch UBND cấp huyện và Giám
đốc Sở quản lý ngành trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc đơn
giản hóa thủ tục hành chính cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương;
phổ biến, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính
thuộc phạm vi quản lý của phòng.
Năm là: Tham gia với Sở quản lý ngành trong việc nghiên cứu những
đề tài khoa học liên quan đến chức năng quản lý của phòng, nhằm cải tiến nội
dung và phương pháp quản lý cho phù hợp với thực tiễn của địa phương.
Sáu là: Tổ chức hướng dẫn về nghiệp vụ và phổ biến kinh nghiệm
trong công tác cho công chức, viên chức cấp dưới trong ngành, cán bộ, công
chức chuyên môn nghiệp vụ ở UBND cấp xã;
Bảy là: Tham mưu giúp Chủ tịch UBND cấp huyện tổ chức việc phối
hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh tổ chức thực hiện những vấn đề
có liên quan, đảm bảo sự chỉ đạo thông suốt, nhịp nhàng, hiệu quả;
Tám là: Trực tiếp quản lý, phân công nhiệm vụ, thường xuyên hướng dẫn,
kiểm tra về nghiệp vụ đối với các phó trưởng phòng và công chức, viên chức

Cơ bản giống quan hệ của trưởng PCMCH cấp huyện, ngoài ra, trong
quan hệ với trưởng phòng là: chịu sự quản lý điều hành và quản lý điều hành;
quan hệ giữa các phó trưởng phòng là quan hệ phối hợp công tác.
* Năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ CBCC của CPCMCH ở
tỉnh Sóc Trăng
- Quan niệm tham mưu, đề xuất và năng lực của đội ngũ CBCC của
CPCMCH ở tỉnh Sóc Trăng
Quan niệm tham mưu, đề xuất của đội ngũ CBCC của CPCMCH ở tỉnh
Sóc Trăng. Theo Từ điển Tiếng Việt, tham mưu với nghĩa động từ là: giúp
người chỉ huy trong việc xếp đặt và tổ chức thực hiện các kế hoạch. Ví dụ:
ban tham mưu; sĩ quan tham mưu. Tham mưu với nghĩa của khẩu ngữ là: góp
ý kiến có tính chất chỉ đạo giúp cho cấp lãnh đạo. Ví dụ: tham mưu cho cấp
trên; đồng nghĩa với tư vấn. Đề xuất với nghĩa động từ là: Nêu ý kiến để xem
xét, giải quyết. Ví dụ: Đề xuất ý tưởng mới; đề xuất dự án trình lên hội nghị.
Tham mưu là hiến kế, kiến nghị, đưa ra các ý tưởng, đề xuất các phương
pháp, giải pháp sáng tạo có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu,
những dự báo chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho cơ quan cấp

19


trên, cho thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế
hoạch công tác ngắn hạn, dài hạn, với mục đích đạt kết quả cao nhất.
Theo đó có thể hiểu: Tham mưu, đề xuất của CBCC của CPCMCH ở tỉnh
Sóc Trăng là hoạt động hiến kế, góp ý, kiến nghị, đưa ra các ý tưởng, phương
án tối ưu, giải pháp hữu hiệu, những dự báo dài hạn, ngắn hạn cho UBND và
Chủ tịch UBND cấp huyện ở Tỉnh trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện
kế hoạch công tác ngắn hạn, dài hạn, với mục đích đạt kết quả cao nhất.
Tham mưu không chỉ là tham gia, đề xuất chủ trương, chính sách mà công
tác tham mưu còn là hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện về lĩnh vực mình đảm trách

UBND, HĐND các cấp.
Từ đó có thể quan niệm: Năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ
CBCC của CPCMCH ở tỉnh Sóc Trăng là tổng thể những yếu tố chủ quan, bao
gồm trình độ kiến thức và khả năng, kinh nghiệm nghiên cứu, tổng hợp, dự báo
tình hình của họ, hình thành và hiến kế, góp ý, kiến nghị cho UBND và Chủ
tịch UBND cấp huyện các ý tưởng, phương án, giải pháp tối ưu trong xây
dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác, để hoàn thành tốt nhiệm vụ quản
lý, điều hành về mặt nhà nước trên các lĩnh vực của UBND cấp huyện ở Tỉnh.
Từ quan niệm trên có thể chỉ ra những yếu tố cấu thành năng lực tham
mưu, đề xuất của cán bộ chủ chốt phòng chuyên môn cấp huyện ở tỉnh Sóc
Trăng như sau:
Một là, hệ thống tri thức đã được tích luỹ. Hệ thống tri thức gồm: hệ
thống kiến thức lý luận và những hiểu biết, kinh nghiệm thực tiễn về các lĩnh
vực xã hội mà CBCC của CPCMCH tích luỹ được qua khoảng thời gian nhất
định. Hệ thống kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm tham mưu, đề xuất là bộ
phân hữu cơ trong hệ thống tri thức của CBCC của CPCMCH được tích luỹ
thông qua học tập tại trường, bồi dưỡng tại chức và chủ yếu, quyết định nhất
vẫn là do quá trình tự học tập, tự bồi dưỡng và tích luỹ được thông qua hoạt
động thực tiễn, trong đó có thực tiễn công tác ở các phòng chuyên môn.
Hệ thống những kiến thức lý luận về chính trị - xã hội, khoa học quản lý,
pháp luật là yếu tố cơ bản, là cơ sở, điều kiện để đội ngũ CBCC của CPCMCH
tiến hành có hiệu quả các hoạt động tham mưu, đề xuất; giải quyết hài hoà các
mối quan hệ công tác. Trong đó nội dung rất quan trọng và trực tiếp liên quan
đến hoạt động tham mưu, đề xuất của CBCC của CPCMCH là kiến thức, hiểu
biết sâu sắc về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước về lĩnh vực chuyên môn phụ trách; am hiểu tình hình chính trị, kinh tế - xã
hội của đất nước và địa phương; nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật do
Trung ương và địa phương ban hành về lĩnh vực chuyên môn được giao.
21


Các bộ phận cấu thành hệ thống tri thức của đội ngũ CBCC PCMCH
luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau, tạo tiền đề cho sự
phát triển và hoàn thiện của trình độ tri thức. Do vậy, sự phân định kiến thức
22


lý luận và hiểu biết, kinh nghiệm thực tiễn hoạt động tham mưu, đề xuất cũng
chỉ là tương đối. Tri thức có vai trò rất quan trọng trong định hướng và hướng
dẫn hoạt động thực tiễn của bản thân CBCC PCMCH. Vì vậy, trong quá trình
công tác của CBCC PCMCH cần có sự quan tâm bồi dưỡng toàn diện của cấp
ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp. Đồng thời, điều có ý nghĩa
quyết định nhất là đội ngũ CBCC PCMCH phải chủ động, tích cực tự bồi
dưỡng, tự rèn luyện, phải coi sự làm giàu tri thức là một nhu cầu thiết yếu,
không thể thiếu được của bản thân, biến quá trình bồi dưỡng của tổ chức
thành quá trình tự bồi dưỡng của chính mình, bảo đảm cho bản thân có đủ khả
năng hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Năng lực tham mưu, đề xuất của CBCC PCMCH ở tỉnh Sóc Trăng có
ý nghĩa to lớn đối với bản thân người cán bộ và có vai trò quan trọng, quyết
định đến chất lượng công tác tham mưu, đề xuất của của phòng chuyên môn.
Năng lực tham mưu, đề xuất là một thành tố cơ bản tạo nên chất lượng người
CBCC PCMCH, làm cho họ thực hiện tốt nhiệm vụ, chức trách, có uy tín....
Biểu hiện của năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ CBCC
PCMCH ở tỉnh Sóc Trăng
Quan niệm về năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ CBCC của
CPCMCH ở tỉnh Sóc Trăng có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau theo nội
dung, theo từng mặt công tác, theo cương vị, chức trách được giao, theo yếu
tố tạo thành. Mỗi cách tiếp cận đều có góc độ riêng, song dù quan niệm thế
nào chăng nữa, năng lực tham mưu, đề xuất của đội ngũ CBCC của
CPCMCH ở tỉnh Sóc Trăng cũng gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ của
người họ. Theo đó có thể nêu lên biểu hiện của năng lực tham mưu, đề xuất

Ba là, khả năng, lựa chọn đúng, trúng vấn đề để tham mưu, đề xuất
với cấp trên giải quyết kịp thời, đem lại kết quả thiết thực, nhất là đối với vấn
đề mới, khó, trong tình huống phức tạp. Năng lực này bao gồm: năng lực phát
hiện, lựa chọn vấn đề tham mưu, đề xuất và tìm kiếm những chủ trương, giải
pháp sáng tạo, phù hợp; năng lực thực hiện các khâu, các bước thực hành
tham mưu, đề xuất. Khả năng này rất quan trọng, bảo đảm cho CBCC của
CQCM cấp huyện có năng lực thực tiễn tốt. Trong thực tiễn ở địa phương, rất
nhiều vấn đề đặt ra trong lĩnh vực, ngành mà CBCC của CQCM cấp huyện
phụ trách cần phải được giải quyết. Tuy nhiên, không thể nào giải quyết xong
đồng thời tất cả các vấn đề đó được. Do vậy, CBCC của CQCM cấp huyện
phải căn cứ tình hình và khả năng cụ thể của địa phương, ngành mình phụ
trách và chỉ đạo của trên để lựa chọn vấn đề cần thiết, cấp bách, nổi cộm nhất,

24


nhưng lại có được điều kiện cần và đủ để tham mưu với chính quyền những
giải pháp giải quyết hiệu quả, dứt điểm.

Bốn là, phương pháp tham mưu cho cấp trên khoa học, khéo léo,
linh hoạt. Trong thực tiễn, UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện phải đồng
thời ra các quyết định, giải pháp điều hành các cấp, các ngành, địa
phương, đơn vị giải quyết rất nhiều nhiệm vụ, trên các mặt công tác khác
nhau. Mặt khác, trong mỗi thời điểm, hoàn cảnh cụ thể ở địa phương lại
có những yêu cầu riêng đối với năng lực tham mưu, đề xuất của CBCC
của CQCM cấp huyện. Do vậy, trong thực tiễn CBCC của CQCM cấp
huyện cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp tham
mưu, đề xuất để nâng cao chất lượng và hiệu quả tham mưu, đề xuất. Đó
là khả năng phát huy, tập hợp trí tuệ của tập thể cán bộ, nhân viên của
phòng chuyên môn mình phụ trách thành ý kiến tối ưu; xác định phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status