Mục lục
Trang
Mở đầu
1
Chơng 1
Cơ sở khoa học xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể
5
I. Một số vấn đề cơ bản về lý luận xây dựng và phát triển
đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể
5
1. Một số khái niệm có liên quan
5
2. Một số vấn đề lý luận về công tác cán bộ nữ khối đảng,
đoàn thể 10
3. Vai trò của phụ nữ trong lịch sử dân tộc và trong đời
sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nớc 13
II. T tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà
nớc Việt Nam về vai trò, vị thế của phụ nữ trong lãnh
đạo, quản lý
18
1. T tởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị thế của phụ nữ trong
lãnh đạo, quản lý 18
2. Quan điểm của Đảng, Nhà nớc Việt Nam về vai trò, vị
thế của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý 20
III. Những điều kiện cần thiết để phụ nữ tham gia tích
cực vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nớc 25
1. Đợc xã hội tôn trọng và nam giới quan tâm
25
2. Đợc trang bị kiến thức, nâng cao học vấn
27
Phơng hớng, giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ
cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể đáp
ứng thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc
50
I. Phơng hớng
50
1. Mục tiêu tổng quát đến năm 2010
50
2. Những chỉ tiêu cơ bản
50
II. Giải pháp
51
1. Tiếp tục nâng cao nhận thức, quan điểm về bình đẳng
giới và công tác cán bộ nữ 51
2. Thực hiện quy hoạch cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu phát
triển bền vững đội ngũ cán bộ thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc 52
3. Thực hiện tốt công tác tạo nguồn cán bộ nữ và
phát triển đảng viên nữ 54
4. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo,
bồi dỡng cán bộ nữ 54
5. Đổi mới, đảm bảo cơ sở khoa học của công tác điều
động, luân chuyển cán bộ nữ 58
6. Xây dựng, bổ sung hoàn thiện chính sách nhằm tạo
điều kiện phát triển đội ngũ cán bộ nữ 60
7. Xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy đảm bảo thực hiện có
hiệu quả công tác cán bộ nữ 60
8. Đánh giá cán bộ nữ chính xác, khách quan
63
quyết đa ra làm kim chỉ nam cho nhận thức và hành động của các cấp, các
ngành đối với công tác cán bộ nữ, một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong toàn
bộ công tác cán bộ của Đảng. Những chủ trơng, chính sách của Đảng ra đời
nhìn chung đã tác động tích cực đến phụ nữ và công tác cán bộ nữ, đội ngũ
cán bộ nữ đợc trởng thành về số lợng và chất lợng.
Bên cạnh những kết quả đạt đợc, công tác cán bộ nữ vẫn còn nhiều hạn
chế, cha tơng xứng với vị thế của đội ngũ cán bộ nữ trong sự nghiệp đổi mới
đất nớc. Báo cáo tổng kết Chỉ thị 37 ngày 6/5/2002 nêu rõ: tỷ lệ nữ trong cán
bộ công chức chiếm 68,6%, trong đó cơ quan Trung ơng chiếm 35,7% nhng
cán bộ lãnh đạo quản lý nữ cha nơi nào đạt đợc 10%.Trong các cấp uỷ đảng
3
tỷ lệ cán bộ nữ rất thấp cha nhiệm kỳ nào đạt 15% đặc biệt là ở cấp Trung ơng
và cấp Xã. Trong các tổ chức chính trị xã hội nh: Công đoàn, Đoàn thanh
niên, Hội nông dân, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo là nữ cũng rất thấp. So với nam giới
trên tất cả các lĩnh vực, ở vị trí càng cao thì tỷ lệ nữ lãnh đạo quản lý càng
thấp. Đặc biệt là các vị trí ra quyết định thì không những ở vị trí cao mà ngay
cả ở vị trí thấp nh cấp phòng, ban, tỷ lệ cán bộ nữ cũng rất hạn chế.
Vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý nói
chung và xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý đảng, đoàn
thể nói riêng là vấn đề cấp thiết. Việc lựa chọn đề tài: Một số giải pháp xây
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn
thể" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở khoa học vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể và trên cơ sở đó đề xuất phơng hớng, giải
pháp nhằm nâng cao chất lợng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
khối đảng, đoàn thể đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ
- Tổng kết kinh nghiệm.
- Điều tra bằng phiếu hỏi.
- Lấy ý kiến chuyên gia (qua mạn đàm, trao đổi)
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn đợc kết cấu làm 3 chơng.
5
Chơng 1: Cơ sở khoa học xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể.
Chơng 2: Thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể.
Chơng 3: Phơng hớng, giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể đáp ứng thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
6
Chơng 1
Cơ sở khoa học xây dựng và phát triển đội ngũ cán
bộ nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể
I. Một số vấn đề cơ bản về lý luận xây dựng và phát triển
đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể
1. Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm cán bộ nữ
Cán bộ nữ chiếm một bộ phận trong đội ngũ cán bộ, công chức. Cùng
một lúc phụ nữ phải đảm nhận rất nhiều vai trò khác nhau, họ vừa phải tham
gia vào quá trình lao động xã hội, vừa phải giữ vai trò chính trong việc tái sản
xuất sức lao động, do đó họ cũng có những đặc điểm riêng biệt và có những
ảnh hởng nhất định đến quá trình công tác của họ. Chính vì vậy, để đảm bảo
cho phụ nữ có thể thực hiện tốt hai chức năng trên, trong lực lợng lao động nói
chung và đội ngũ cán bộ nữ nói riêng, ngời ta đã tách lao động nữ và cán bộ
nữ thành một bộ phận và qua đó để có những chính sách đặc thù dành cho lao
thể là, ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hội tụ 3 đặc điểm:
+ Có khả năng phân tích xác định vấn đề trong các tình huống, ngay cả
khi tình huống cha rõ ràng.
+ Có khả năng quan hệ rộng, gây ảnh hởng, có khả năng hớng dẫn,
kiểm soát ngời khác thực hiện công việc có hiệu quả.
+ Có khả năng giao tiếp, xúc cảm với trạng thái tâm lý ngời khác.
- Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể
Cán bộ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể là một bộ phận không thể
tách rời của đội ngũ đông đảo cán bộ, công chức nói chung và cán bộ lãnh đạo
và quản lý của hệ thống chính trị nói riêng. Theo quy định của Pháp lệnh Cán
bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), thì đây là đội ngũ cán
bộ tham gia lãnh đạo và quản lý trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội (gọi chung là Đảng và các đoàn thể).
8
- Khái niệm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo,
quản lý
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý đợc hiểu là
tạo dựng lên một đội ngũ cán bộ đông đảo các nhà lãnh đạo, quản lý nữ đồng
bộ về cơ cấu, có số lợng và chất lợng đảm bảo, đáp ứng những yêu cầu ngày
càng cao của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, vì
mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Khái niệm bình đẳng giới
Bình đẳng giới là không có sự phân biệt về vị thế, điều kiện, cơ hội phù
hợp và sự khác nhau về gíơi tính giữa nam và nữ trong quá trình thực hiện
quyền con ngời, quyền công dân, đóng góp và hởng lợi từ sự phát triển của gia
đình và đất nớc.
- Khái niệm lồng ghép giới trong phát triển
Lồng ghép giới là việc bảo đảm sự tham gia, kiểm soát các nguồn lực và
hởng lợi của nam, nữ đợc thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật,
chiến lợc, chính sách, chơng trình, kế hoạch, dự án và trong mọi hoạt động
mỗi ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý. Khi bàn về năng lực của ngời cán bộ lãnh
đạo, quản lý, A.I. Kitốp nhấn mạnh tới ba nhóm năng lực sau đây: những năng
lực chuẩn đoán; những năng lực sáng tạo và những năng lực tổ chức.
A.V.Beluaviskij cho rằng, năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý thể hiện ở khả
năng tiếp cận công việc phù hợp với hoàn cảnh xuất hiện và có cách giải quyết
nhanh nhất để đạt đợc mục tiêu mọt cách sáng tạo với hiệu quả cao bao gồm
hai yếu tố ấu thành là uy tín và năng lực tổ chức. Tóm lại tuy các cách tiếp cận
có khác nhau, nhng các tác giả đều thống nhất ở cấu trúc năng lực của ngời
cán bộ lãnh đạo, quản lý nh sau:
1. Tầm hiểu biết sâu rộng;
2. Có trình độ chuyên môn cần thiết trong hoạt động lãnh đạo, quản lý;
3. Có tri thức và kinh nghiệm về quản lý;
4. Có năng lực xác định mục tiêu, định hớng, dự đoán, vạch kế hoạch;
5. Khả năng liên kết, làm việc với con ngời;
10
6. Khả năng am hiểu tâm lý và tác động tâm lý tới ngời khác;
7. Có một số kỷ năng hiện đại ở mức độ cần thiết (giao tiếp, vi tính, ngoại ngữ).
8. Năng lực tổ chức (gồm năng lực tổ chức chung và năng lực tổ chức đặc biệt).
Trong đó, năng lực tổ chức là loại năng lực chuyên biệt của ngời làm
công tác lãnh đạo, nếu thiếu nó ngời cán bộ sẽ khó mà hoàn thành đợc nhiệm
vụ. V.I.Lênin đã từng nói, năng lực tổ chức của ngời cán bộ bao gồm sự nhạy
cảm về tổ chức, sự thấu đáo và năng lực điều khiển, sự am hiểu về con ngời,
tính cởi mở, óc sáng suốt, óc tháo vát, tính kiên nghị, khả năng chan hoà với
mọi ngời, khả năng thu hút quần chúng.
- Khái niệm vị thế, vai trò của ngời cán bộ nữ
+ Vị thế trớc hết là một vị trí xã hội, là vị trí của một cá nhân trong cơ
cấu tổ chức theo sự thẩm định, đánh giá của tổ chức xã hội đó. Vị thế xã hội
đợc hiểu là chỗ đứng của một cá nhân trong xã hội và mối quan hệ của cá
nhân đó với ngời khác. Vị thế xã hội của một cá nhân luôn gắn liền với những
trách nhiệm và quyền hạn nhất định của cá nhân đó. Vị thế xã hội còn là giá
khối đảng, đoàn thể
2.1. Quy hoạch và đào tạo cán bộ nữ một cách toàn diện
- Các cấp uỷ Đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng quy hoạch toàn
diện đối với cán bộ nữ. Quy hoạch cán bộ nữ khối đảng, đoàn thể phải đặt
trong quy hoạch tổng thể về cán bộ của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Công tác quy hoạch cần đợc triển khai đồng bộ ở tất
cả các cấp, các ngành, phát huy dân chủ, làm từng bớc, chặt chẽ, đúng nguyên
tắc, u tiên những ngành, lĩnh vực, vùng miền mà ở đó tỷ lệ cán bộ nữ còn thấp.
Quy hoạch phải gắn với kế hoạch đào tạo, bồi dỡng, sử dụng, luân chuyển và
đề bạt cán bộ nữ trên cơ sở phát huy thế mạnh, u điểm và phù hợp với đặc
điểm riêng của cán bộ nữ. Quy hoạch cán bộ nữ phải đợc rà soát, bổ sung và
điều chỉnh hàng năm.
- Các cấp uỷ Đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng chiến lợc đào tạo
cán bộ nữ theo từng lĩnh vực, trong các cơ quan đảng, các tổ chức đoàn thể
12
Kế hoạch đào tạo, bồi dỡng phải gắn với quy hoạch và việc bố trí sử dụng đội
ngũ cán bộ nữ. Cần đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ tham gia các khoá đào tạo tại các
trờng lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nớc từ 30% trở lên.
Trong quy hoạch và đào tạo, bồi dỡng cần chú trọng đội ngũ cán bộ nữ
trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, pháp luật, quản lý
nhà nớc và hoạt động chính trị; cán bộ nữ dân tộc ít ngời, tôn giáo, vùng sâu,
vùng xa.
- Đa dạng hoá các hình thức đào tạo phù hợp với đặc điểm giới; đào tạo
bồi dỡng có trọng tâm, trọng điểm, u tiên những vùng đặc biệt khó khăn; chủ
trọng nâng cao chất lợng đào tạo. Khuyến khích phong trào học tập trong cán
bộ nữ để nâng cao trình độ bằng nhiều hình thức: đào tạo tại chỗ, tập trung, tại
chức, từ xa, từ thực tiễn.
2.2. Lựa chọn, tạo nguồn cán bộ nữ và phát triển đảng viên nữ khối
đảng, đoàn thể
- Lựa chọn cán bộ là hoạt động của Đảng, đoàn thể nhằm tìm kiếm
ơng, tuổi bổ nhiệm lần đầu nói chung không quá 50 tuổi đối với nữ.
- Cán bộ các cơ quan quận, huyện và tơng đơng, tuổi bổ nhiệm lần đầu
nói chung không quá 45 tuổi (cả nam và nữ).
b) Về tuổi nghỉ hu: Thực hiện theo Luật Lao động: 60 tuổi đối với nam,
55 tuổi đối với nữ.
c) Về tuổi tham gia cấp uỷ:
Chỉ thị 54/CT/TW, ngày 22/3/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ, các cấp uỷ
cần có 3 độ tuổi và tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ là 15% trở lên. Hớng dẫn 14-
HD/TCTW, ngày 01/6/2000 của Ban Tổ chức Trung ơng cũng nêu cụ thể: trong
điều kiện hiện nay 3 độ tuổi ở cấp tỉnh là: dới 40, từ 40 đến 55 và trên 55 tuổi; ở
cấp huyện là: dới 35, từ 35 đến 50 và trên 50; ở cấp cơ sở nói chung độ tuổi
phải trẻ hơn cấp trên cơ sở.
Chính sách đối với cán bộ nữ là vấn đề lớn, cần sớm ban hành những
chính sách cụ thể. Trớc hết cần nghiên cứu để xây dựng, bổ sung hoàn thiện
các chính sách u đãi, hỗ trợ cán bộ nữ trong đào tạo, bồi dỡng nâng cao trình
14
độ và luân chuyển; đặc biệt cần có chính sách thoả đáng đối với cán bộ nữ
công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, dân tộc thiểu số, cán bộ nữ đi
học có con nhỏ. Nâng tuổi nghỉ hu của cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản
lý và nghiên cứu khoa học. Nhà nớc cần xây dựng chế độ chính sách chung về
những vấn đề trên để áp dụng thống nhất trong cả nớc.
2.4. Cơ chế đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác cán bộ nữ khối
đảng, đoàn thể
- Tăng cờng sự lãnh đạo toàn diện, đặc biệt trong kiểm tra, giám sát
việc thực hiện các chủ trơng của Đảng về công tác cán bộ nữ.
- Ban Tổ chức Trung ơng, Ban Tổ chức các tỉnh, thành uỷ, Ban Cán sự
Đảng, Đảng đoàn, Đảng uỷ trực thuộc trung ơng căn cứ chức năng, nhiệm vụ
của mình, chú trọng làm tốt công tác tham mu cho cấp uỷ chỉ đạo công tác
cán bộ nữ.
- Đảng đoàn Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban Quốc gia vì sự
Với trách nhiệm là ngời vợ, ngời mẹ, phụ nữ Việt Nam đã có những cống
hiến xuất sắc trong việc nuôi dỡng các thế hệ công dân của đất nớc, chăm lo
cho các gia đình Việt Nam theo chuẩn mực ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc. Phụ nữ còn là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp giữ gìn và phát triển
văn hoá mang bản sắc dân tộc Việt Nam và mang nhiều vinh quang về cho đất
nớc trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, quân sự, văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế,
thể thao, nghệ thuật.
3.2. Vị thế, vai trò của phụ nữ Việt Nam thời đại ngày nay
Ngày nay, phụ nữ đã đợc giải phóng hơn, bình đẳng hơn, có điều kiện
bộc lộ tài năng hơn nhiều so với phụ nữ trớc đây. Trong môi trờng thuận lợi,
phụ nữ đã phát huy khả năng to lớn của mình cho xã hội. Cùng với xu thế
chung của thời đại, thế giới, cha bao giờ ngời phụ nữ Việt Nam lại có đợc vị
thế cao, khẳng định vai trò lớn lao của mình trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã
hội nh hiện nay.
- Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
Trên thế giới phụ nữ chiếm trên 50% dân số và trên 55% lực lợng lao
động xã hội. Đặc biệt đối với nớc ta là nớc nông nghiệp, lực lợng lao động
16
nông nghiệp và nông thôn chiếm trên 80% lao động xã hội, trong đó lực lợng
lao động nữ chiếm vai trò chủ yếu. Bên cạnh lao động nông nghiệp, lao động
nữ có mặt và giữ vai trò nhất định trong tất cả các nghành kinh tế nh : thơng
mại dịch vụ, công nghiệp, khoa học kỹ thuật và quản lý.
ở nớc ta, 78,7% phụ nữ Việt Nam sống ở nông thôn. Đây là lực lợng
lao động to lớn và thực sự không thể thiếu đợc trong sự nghiệp phát triển nông
nghiệp và nông thôn nớc ta.
Trong suốt 2 cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực
dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, phụ nữ đã gánh vác gần nh toàn bộ công việc
sản xuất nông nghiệp. Phụ nữ không chỉ lo toan và xây dựng một hậu phơng
vững chắc làm ấm lòng các chiến sỹ nơi tiền tuyến mà còn cung cấp lơng
thực, thực phẩm và cả nhân lực cho chiến trờng, nhất là cho chiến trờng miền
phần xuất khẩu quan trọng. Riêng ngành dệt may hàng năm xuất khẩu 2-3 tỷ
đồng.
- Vai trò phụ nữ trong phát triển văn hoá xã hội
Cùng với phát triển về kinh tế, đời sống văn hoá ở nớc ta trong những
năm qua cũng phát triển mạnh mẽ đáp nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.
Giáo dục và y tế là hai ngành quan trọng vừa chăm sóc sức khoẻ cho
nhân dân vừa nâng cao dân trí, bồi dỡng nhân tài phục vụ công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc cả trớc mắt và lâu dài.
Có thể nói Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác phát triển giáo dục.
Sau năm 1945 nớc ta có tới 95% dân số không biết chữ. Bác Hồ đã coi giặc
dốt là kẻ thù nguy hiểm lâu dài, Bác kêu gọi phải tiêu diệt giặc dốt bằng
phong trào Bình dân học vụ . Phong trào này đợc toàn dân ủng hộ và tham
gia, trong đó phụ nữ lại là lực lợng dẫn đầu. Đến nay cả nớc ta đã thanh toán
xong nạn mù chữ, nhiều tỉnh thành phố đã phổ cập tiểu học và trung học cơ
sở.
Quy mô các ngành học và cấp học đều tăng lên đáng kể, cấp đại học và
trên đại học cũng phát triển ngày càng nhiều, phụ nữ và học sinh gái cũng đợc
tham gia ở tất cả các cấp học và bậc học. Ngành giáo dục,lao động nữ chiếm tới
18
85-90% nên kết quả trong ngành giáo dục cũng chính là kết quả đóng góp quan
trọng của phụ nữ.
Ngành y tế, chăm sóc sức khoẻ, tỷ lệ nữ cũng chiếm phần lớn và đạt đ-
ợc những thành tựu rất đáng phấn khởi. Tất cả các xã, phờng trong cả nớc đều
có trạm xá, để chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh cho ngời dân. Tất cả các
huyện, thị đều có bệnh viện. Trong đó bệnh viện chuyên khoa, phát triển
mạnh với phơng tiện và công nghệ cao đã làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ,
khám chữa bệnh cho nhân dân, nâng cao tuổi thọ trong cả nớc
Đặc biệt các tổ chức phụ nữ từ Trung ơng đến địa phơng đã phát động
phong trào nuôi con khoẻ dạy con ngoan, không sinh con thứ 3, chống suy
dinh dỡng ở trẻ em và chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phong trào phụ nữ giúp
hàn nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, anh hùng Hoàng Thị Miên cung giao thông
Cao Sơn, Cao Bằng, anh hùng Phí Vân Khanh hiệu trởng trờng Mẫu giáo
Chim Non quận Hai Bà Trng Hà Nội, anh hùng Phạm Thị Việt Nga giám đốc
xí nghiệp dợc phẩm Hậu Giang, anh hùng Nguyễn Thị Lệ Hoa giám đốc công
ty du lịch Hoà Bình Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt nam. Anh hùng Đoàn Hồng
Hoa thứ trởng bộ y tế, anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Phợng giám đốc bệnh viện
Từ Dũ TP Hồ Chí Minh và anh hùng Trần Thu Hà PGS - TS nhà giáo u tú
giám đốc nhạc viện Hà Nội. Phụ nữ Việt Nam thật xứng đáng đợc Bác Hồ
tặng Tám chữ vàng : Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang .
II. T tởng Hồ Chí Minh và Quan điểm của Đảng, Nhà nớc Việt
Nam về vai trò, vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
1. T tởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo,
quản lý
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những ngời Việt Nam đầu tiên đặc biệt
quan tâm đến vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nói
chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng.
20
Trong Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), đã có 100 bài viết trên tổng số
1941 bài Bác nhắc khá nhiều đến phụ nữ. Ngời khẳng định: Nói đến phụ nữ
là nói đến phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải
phóng một nửa loài ngời. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH
chỉ một nửa. Ngời còn đa ra nhận xét: Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng
có lần nào là không có đàn bà, cô gái tham gia, và An Nam cách mệnh cũng
phải có nữ giới tham gia mới thành công. Trong dịp kỷ niệm 56 năm ngày
thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ngời nói: Từ đầu thế kỷ thứ nhất,
Hai Bà Trng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu dân cho đến nay, mỗi khi đất n-
ớc gặp nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp giải phóng dân tộc . Trong th gửi phụ nữ nhân kỷ niệm Hai Bà Tr-
ng và ngày Quốc tế Phụ nữ năm 1952, Bác đã ca ngợi: Non sông gấm vóc n-
ớc Việt Nam do phụ nữ nớc ta, trẻ cũng nh già ra sức dệt thêu mà thêm tốt
phát triểnt ý chí tự cờng, tự lập . Phải đấu tranh để bảo vệ quyền lơi của
mình
2. Quan điểm của Đảng, Nhà nớc Việt Nam về vai trò, vị thế của
phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
Ngay từ những năm 1930, Luận cơng Chính trị của Đảng đã đề ra mục
tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ, thực hiện
nam nữ bình quyền. Nghị quyết Hội nghị Trung ơng Đảng cộng sản Đông D-
ơng cũng đề ra: Muốn thâu phục cho hết các phần tử phụ nữ thì ngoài sự
công tác của phụ nữ công nông ra, Đảng cần phải tổ chức ra các đoàn thể phụ
nữ, phụ nữ hiệp hội, mục đích chính là mu quyền lợi cho phụ nữ, là cho phụ
nữ triệt để đợc giải phóng. Trên quan điểm đó, Đảng đã lãnh đạo việc thành
lập tổ chức đại diện cho phụ nữ, đó là Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam.
Sau khi nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời một năm, Hiến pháp
năm 1946, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất của Nhà nớc đã quy định:
Điều 1: Nớc Việt Nam là một nớc dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính
trong nớc là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu
nghèo, giai cấp, tôn giáo.
Điều 9: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phơng diện.
22
Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1992 (sửa đổi), mặc dù đợc ban hành
vào những thời điểm khác nhau nhng quyền bình đẳng nam nữ đã trở thành
một nguyên tắc Hiến pháp và là nội dung xuyên suốt quá trình lập hiến, lập
pháp của Việt Nam. Nguyên tắc này không chỉ đợc quy định ở một điều luật
mang tính chất chung mà còn đề cập ở rất nhiều điều luật quy định về các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, gia đình. Nhà nớc và xã hội không thừa
nhận sự phân biệt, đối xử giữa nam và nữ trong gia đình cũng nh xã hội.
Trên cơ sở quy định của hiến pháp về vấn đề bình đẳng nam nữ và công
ớc Quốc tế về quyền con ngời mà Việt Nam ký kết gần 60 năm qua, đặc biệt
là trong những năm gần đây, một hệ thống các văn bản luật và dới luật đã
khẳng định cả nam và nữ đợc hởng quyền bình đẳng mọi mặt. Quyền bình
tạo bồi dỡng cán bộ, tạo điều kiện để cán bộ nữ cống hiến và trởng thành,
phấn đấu tăng tỷ lệ nữ trong các cấp ủy Đảng, cơ quan Nhà nớc, trong các lĩnh
vực quản lý kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, khoa học, nghệ thuật Chống coi
thờng, phân biệt đối xử khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ.
Cơng lĩnh Xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(năm 1991) và Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: Phơng thức lãnh
đạo của Đảng với nhà nớc, đoàn thể chính trị - xã hội là bằng cơng lĩnh chính
trị, chiến lợc, chính sách, chủ trơng, bằng công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra
giám sát việc thức hiện.
Tiếp đó, ngày 15/6 1994, Ban Bí th Trung ơng Đảng ban hành chỉ thị số
37/CT-TW về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới nhằm
nhấn mạnh việc tăng cờng cán bộ nữ vào các cơng vị lãnh đạo quản lý. Chỉ thị
nêu rõ: Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nớc, quản lý kinh
tế, xã hội là một yêu cầu quan trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng, dân
chủ của ngời phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa
vị xã hội của ngời phụ nữ chống những biểu hiện lệch lạc, coi thờng phụ nữ,
khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt phụ nữ.
24
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã đề cập đến
nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chiến lợc phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ
Việt Nam. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc IX(2001) cũng xác định : có
cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh
đạo và quản lý các cấp, các ngành.
Có thể nói, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân
tộc, dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn quan tâm đến sự phát
triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cũng nh sự bình đẳng và tiến bộ của phụ
nữ Việt Nam.
Trong điều kiện nhà nớc pháp quyền, để chủ trơng của Đảng đi vào
cuộc sống, Nhà nớc ta đã cụ thể hóa các quan điểm, đờng lối của Đảng thông
qua các hệ thống luật pháp, chính sách nhằm khẳng định vai trò, tầm quan