một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể - Pdf 13

mở đầu
1. Lý do lựa chọn đề tài
Các nhà tơng lai học khi dự báo xu hớng phát triển của nhân loại ở thế
kỷ XXI đã nhận định: một trong những dấu hiệu nổi bật nhất của giai đoạn
văn minh đơng đại là lao động trí tuệ, nguồn lực con ngời, phụ nữ sẽ là
những động lực quan trọng quyết định tới sự thành công trên con đờng phát
triển của các quốc gia và của cả nhân loại. Việc giải phóng phụ nữ, phát huy
tiềm năng của phụ nữ là đòi hỏi khách quan và bức thiết của sự phát triển xã
hội, trong đó sự bình đẳng và tiến bộ về giới sẽ tạo điều kiện khai thác và phát
huy một cách có hiệu quả hơn tiềm năng của phụ nữ ở mức độ cao để phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Chiếm 50,8% dân số và 50,6% lực lợng lao động xã hội, phụ nữ Việt
Nam đã và đang tích cực tham gia vào hầu hết các lĩnh vực hoạt động, góp
phần đáng kể vào phát triển kinh tế- xã hội đất nớc
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nớc nhận thức rất rõ:
Tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nớc, quản lý kinh tế, xã hội là
điểm quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều
kiện để phát huy tiềm năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ. Các
quan điểm, t tởng cũng nh những chủ trơng, phơng hớng mà các chỉ thị, nghị
quyết đa ra làm kim chỉ nam cho nhận thức và hành động của các cấp, các
ngành đối với công tác cán bộ nữ, một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong toàn
bộ công tác cán bộ của Đảng. Những chủ trơng, chính sách của Đảng ra đời
nhìn chung đã tác động tích cực đến phụ nữ và công tác cán bộ nữ, đội ngũ
cán bộ nữ đợc trởng thành về số lợng và chất lợng.
Bên cạnh những kết quả đạt đợc, công tác cán bộ nữ vẫn còn nhiều hạn
chế, cha tơng xứng với vị thế của đội ngũ cán bộ nữ trong sự nghiệp đổi mới
đất nớc. Báo cáo tổng kết Chỉ thị 37 ngày 6/5/2002 nêu rõ: tỷ lệ nữ trong cán
bộ công chức chiếm 68,6%, trong đó cơ quan Trung ơng chiếm 35,7% nhng
cán bộ lãnh đạo quản lý nữ cha nơi nào đạt đợc 10%.Trong các cấp uỷ đảng
1
tỷ lệ cán bộ nữ rất thấp cha nhiệm kỳ nào đạt 15% đặc biệt là ở cấp Trung ơng

ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể.
5. Giả thiết khoa học
Công tác xây dựng đảng, đoàn thể đợc quyết định bởi đội ngũ cán bộ
lãnh đạo quản lý khối đảng đoàn thể nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo nữ
khối đảng đoàn thể nói riêng. Nếu có những giải pháp dựa trên những yêu cầu
cơ bản đối với đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo khối đảng, đoàn thể thì có thể nâng
cao chất lợng đội ngũ này ở cả 4 cấp từ Trung ơng đến cơ sở từ nay đến năm
2010 và những năm tiếp theo.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: 2001 - 2010; - Không gian: Toàn quốc.
7. Phơng pháp nghiên cứu
7.1. Phơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phơng pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu hệ thống tài liệu.
- Khái quát các nhận định độc lập nghiên cứu hồ sơ.
7.2. Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, khảo sát thực tế.
- Thống kê số liệu.
- Phân tích thực trạng.
- Tổng kết kinh nghiệm.
- Điều tra bằng phiếu hỏi.
- Lấy ý kiến chuyên gia (qua mạn đàm, trao đổi)
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn đợc kết cấu làm 3 chơng.
3
Chơng 1: Cơ sở khoa học xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể.
Chơng 2: Thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể.
Chơng 3: Phơng hớng, giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ

quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ chức; ngời cán bộ lãnh đạo cũng
5
phải thực hiện chức năng quản lý và ngời cán bộ quản lý cũng phải thực hiện
chức năng lãnh đạo, nên khó có thể phân biệt rạch ròi đâu là ngời lãnh đạo,
đâu là ngời quản lý.
Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn đồng nhất
với nhau. Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hớng cho khách
thể thông qua hệ thống cơ chế, đờng lối, chủ trơng, chính sách, định hớng hoạt
động của đối tợng và xã hội. Lãnh đạo là một quá trình thúc đẩy nhiều ngời đi
theo một chiều hớng nhất định nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra. Còn hoạt động
quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính
pháp lệnh đợc quy định từ trớc. Quản lý là điều hành một tổ chức, một nhóm
ngời thực hiện các nhiệm vụ nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra. Xét về tổng thể,
hoạt động quản lý là sự nối tiếp của hoạt động lãnh đạo, là khâu tất yếu để
thực hiện sự lãnh đạo.
ở cả hai phạm vi, ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý đều phải là ngời giỏi
chuyên môn nghiệp vụ, phải có đủ năng lực và phẩm chất để định hớng, điều
khiển, chỉ huy, phải có khả năng tổ chức công việc và đoàn kết cộng đồng. Cụ
thể là, ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hội tụ 3 đặc điểm:
+ Có khả năng phân tích xác định vấn đề trong các tình huống, ngay cả
khi tình huống cha rõ ràng.
+ Có khả năng quan hệ rộng, gây ảnh hởng, có khả năng hớng dẫn,
kiểm soát ngời khác thực hiện công việc có hiệu quả.
+ Có khả năng giao tiếp, xúc cảm với trạng thái tâm lý ngời khác.
- Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể
Cán bộ lãnh đạo, quản lý khối đảng, đoàn thể là một bộ phận không thể
tách rời của đội ngũ đông đảo cán bộ, công chức nói chung và cán bộ lãnh đạo
và quản lý của hệ thống chính trị nói riêng. Theo quy định của Pháp lệnh Cán
bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), thì đây là đội ngũ cán
bộ tham gia lãnh đạo và quản lý trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

+ Năng lực, theo Từ điển tiếng Việt là: 1. Khả năng, điều kiện chủ quan
hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 2. Phẩm chất tâm lý
7
và sinh lý tạo cho con ngời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó
với chất lợng cao.
+ Khái niệm năng lực cán bộ về cơ bản là nội hàm của khái niệm Tài
trong nhân cách của ngời cán bộ. Năng lực lãnh đạo quản lý (nhất là năng lực tổ
chức) không phải do bẩm sinh mà nó đợc hình thành, phát triển nhờ giáo dục,
tự giáo dục và rèn luyện, học tập, tu dỡng của chính bản thân ngời cán bộ lãnh
đạo, quản lý.
Theo L.I.Menxki và A.N.Lutônxkin, một ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý
đợc coi là có nhân cách hoàn thiện khi năng lực của ngời đó hội tụ đủ 3 yêú tố
sau đây: 1. Yếu tố cần nh: xu hớng nhân cách, quá trình đào tạo về quản lý và
các phẩm chất tâm lý cá nhân nh sự nhanh trí, tháo vát, có khả năng vận dụng
kiến thức, kinh nghiệm vào thực tiễn; tính cởi mở, tích cực giao tiếp; tự lập,
kiên trì, tự chủ ; 2. Yếu tố không thể thiếu đối với ngời cán bộ lãnh đạo, quản
lý là năng lực tổ chức; Yếu tố cá nhân, bao gồm những đặc điểm tâm sinh lý
của cá nhân nh lứa tuổi, sức khoẻ, khí chất, phong cách tạo nên nét riêng của
mỗi ngời cán bộ lãnh đạo, quản lý. Khi bàn về năng lực của ngời cán bộ lãnh
đạo, quản lý, A.I. Kitốp nhấn mạnh tới ba nhóm năng lực sau đây: những năng
lực chuẩn đoán; những năng lực sáng tạo và những năng lực tổ chức.
A.V.Beluaviskij cho rằng, năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý thể hiện ở khả
năng tiếp cận công việc phù hợp với hoàn cảnh xuất hiện và có cách giải quyết
nhanh nhất để đạt đợc mục tiêu mọt cách sáng tạo với hiệu quả cao bao gồm
hai yếu tố ấu thành là uy tín và năng lực tổ chức. Tóm lại tuy các cách tiếp cận
có khác nhau, nhng các tác giả đều thống nhất ở cấu trúc năng lực của ngời
cán bộ lãnh đạo, quản lý nh sau:
1. Tầm hiểu biết sâu rộng;
2. Có trình độ chuyên môn cần thiết trong hoạt động lãnh đạo, quản lý;
3. Có tri thức và kinh nghiệm về quản lý;

một nhóm xã hội nào đó phải thực hiện trên cơ sở vị thế xã hội của họ. Theo
các nhà xã hội học, hành vi con ngời thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh gắn
9
liền với vị trí xã hội của ngời hành động và hành vi phần nào đợc tạo ra bởi
sự mong đợi của ngời hành động và những ngời khác.
Vai trò xã hội tập hợp nh vai trò trên sân khấu, sự khác biệt là ở chỗ
trong vai trò xã hội cá nhân tự đóng vai mình . Vai trò chính là mặt động của vị
thế xã hội vì vị thế thuộc phạm trù cấu trúc, còn vai trò thuộc phạm trù hành động.
Vai trò xã hội đợc phân thành nhiều loại: Vai trò đơn giản, vai trò phức
tạp, vai trò chỉ định, vai trò lựa chọn Tùy mức độ cao hay thấp của giá trị xã
hội mà có những vai trò cao hoặc thấp khác nhau.Trong phức hợp vai trò của
một ngời luôn nổi lên vai trò then chốt, vai trò then chốt này không cố định
bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian.
+ Khái niệm vai trò của nữ cán bộ quản lý. Nói đến vị thế của nữ cán
bộ quản lý tức là nói đến chỗ đứng của họ trong tơng quan so sánh với nam
giới. Còn nói đến vai trò của nữ cán bộ quản lý là xem xét họ đang làm gì, với
lối c xử của họ nh thế nào để đợc mọi ngời chấp nhận.
2. Một số vấn đề lý luận về công tác cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
khối đảng, đoàn thể
2.1. Quy hoạch và đào tạo cán bộ nữ một cách toàn diện
- Các cấp uỷ Đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng quy hoạch toàn
diện đối với cán bộ nữ. Quy hoạch cán bộ nữ khối đảng, đoàn thể phải đặt
trong quy hoạch tổng thể về cán bộ của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Công tác quy hoạch cần đợc triển khai đồng bộ ở tất
cả các cấp, các ngành, phát huy dân chủ, làm từng bớc, chặt chẽ, đúng nguyên
tắc, u tiên những ngành, lĩnh vực, vùng miền mà ở đó tỷ lệ cán bộ nữ còn thấp.
Quy hoạch phải gắn với kế hoạch đào tạo, bồi dỡng, sử dụng, luân chuyển và
đề bạt cán bộ nữ trên cơ sở phát huy thế mạnh, u điểm và phù hợp với đặc
điểm riêng của cán bộ nữ. Quy hoạch cán bộ nữ phải đợc rà soát, bổ sung và
điều chỉnh hàng năm.

thể từ Trung ơng đến cơ sở qua con đờng bầu cử dân chủ; những ngời có trách
nhiệm, có năng lực và kinh nghiệm làm công tác tổ chức cán bộ phát hiện, đề
cử, tiến cử cán bộ cho Đảng và đoàn thể.
11
- Công tác tạo nguồn cán bộ nữ khối đảng, đoàn thể đạt trong chiến lợc
phát triển nguồn nhân lực của quốc giá. Cần u tiên tuyển dụng cán bộ nữ, lao
động nữ có trình độ đại học, trên đại học. các cơ quan đảng, đoàn thể cần đảm
bảo tỷ lệ nữ đợc tuyển dụng từ 35% trở lên. Chăm lo bồi dỡng tài năng nữ, đặc
biệt là các tài năng trẻ, các nhân tố điển hình là nữ, phụ nữ dân tộc. Bồi dỡng
phát triển đảng viên nữ cân đối giữa các khu vực, hàng năm đạt tỷ lệ từ 40%
trở lên trong tổng số đảng viên mới kết nạp; có kế hoạch bố trí, phân công
công tác để đảng viên nữ phấn đấu, rèn luyện và trởng thành.
2.3. Về chính sách tạo điều kiện phát triển đội ngũ cán bộ nữ khối
đảng, đoàn thể
a) Tuổi bổ nhiệm:
Thực hiện theo quy chế bổ nhiệm cán bộ ban hành kèm theo quyết định
số 51 QĐ/TW, ngày 03/5/1999 của Bộ Chính trị tại mục 3, điều 5 quy định:
- Cán bộ các cơ quan Trung ơng, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -
ơng, tuổi bổ nhiệm lần đầu nói chung không quá 50 tuổi đối với nữ.
- Cán bộ các cơ quan quận, huyện và tơng đơng, tuổi bổ nhiệm lần đầu
nói chung không quá 45 tuổi (cả nam và nữ).
b) Về tuổi nghỉ hu: Thực hiện theo Luật Lao động: 60 tuổi đối với nam,
55 tuổi đối với nữ.
c) Về tuổi tham gia cấp uỷ:
Chỉ thị 54/CT/TW, ngày 22/3/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ, các cấp uỷ
cần có 3 độ tuổi và tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ là 15% trở lên. Hớng dẫn 14-
HD/TCTW, ngày 01/6/2000 của Ban Tổ chức Trung ơng cũng nêu cụ thể: trong
điều kiện hiện nay 3 độ tuổi ở cấp tỉnh là: dới 40, từ 40 đến 55 và trên 55 tuổi; ở
cấp huyện là: dới 35, từ 35 đến 50 và trên 50; ở cấp cơ sở nói chung độ tuổi
phải trẻ hơn cấp trên cơ sở.

nghiệp nh chùa Bà Dâu, nghị lễ cúng mẹ Lúa đã phản ánh công lao và
vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong nghề nông thời cổ. Trong gia
đình truyền thống Việt Nam, ngời phụ nữ có một quyền lực rộng lớn và là ng-
ời cai quản chính trong gia đình.
13
Mở đầu cho trang sử chống ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho đất nớc
là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng. Đây là một hiện tợng hiếm có trong lịch sử
thế giới cổ đại. Trng Trắc là ngời phụ nữ Việt Nam đầu tiên đứng lên lãnh đạo
và quản lý đất nớc. Bà đã khẳng định đợc vị trí của ngời phụ nữ Việt Nam, với
sắc thái bình đẳng và đợc in đậm trong nền văn hoá dân tộc.
Bên cạnh các nữ tớng cầm quân đánh giặc, thời kỳ này chúng ta còn có
những tấm gơng phụ nữ tham gia quản lý đất nớc tài giỏi, đó là Thái hậu Dơng
Vân Nga, Nguyên Phi ỷ Lan Nối tiếp truyền thống anh hùng bất khuất của
các bạc tiền bối, các thế hệ phụ nữ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã có
những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc. Đó là các
chị Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị
Bình là các nữ anh hùng lực l ợng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động mà
tên tuổi cuả họ mãi mãi còn vang.
Với trách nhiệm là ngời vợ, ngời mẹ, phụ nữ Việt Nam đã có những cống
hiến xuất sắc trong việc nuôi dỡng các thế hệ công dân của đất nớc, chăm lo
cho các gia đình Việt Nam theo chuẩn mực ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc. Phụ nữ còn là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp giữ gìn và phát triển
văn hoá mang bản sắc dân tộc Việt Nam và mang nhiều vinh quang về cho đất
nớc trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, quân sự, văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế,
thể thao, nghệ thuật.
3.2. Vị thế, vai trò của phụ nữ Việt Nam thời đại ngày nay
Ngày nay, phụ nữ đã đợc giải phóng hơn, bình đẳng hơn, có điều kiện
bộc lộ tài năng hơn nhiều so với phụ nữ trớc đây. Trong môi trờng thuận lợi,
phụ nữ đã phát huy khả năng to lớn của mình cho xã hội. Cùng với xu thế
chung của thời đại, thế giới, cha bao giờ ngời phụ nữ Việt Nam lại có đợc vị

nhập khẩu lơng thực đã trở thành một cờng quốc xuất khẩu gạo, đứng vào
hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới. Thành tích vĩ đại đó có sự đóng góp to lớn
của lực lợng lao động nữ và các nhà khoa học nữ trong nông nghiệp nớc ta.
Trong sự nghiệp đổi mới, với cơ chế thị trờng và hội nhập quốc tế, chị
em phụ nữ lại một lần nữa thông minh, sáng tạo, nỗ lực, vợt mọi khó khăn.
Tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến tạo ra các giống cây, con mới,
15
sản phẩm chất lợng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trờng trong khu vực và
quốc tế. Điển hình là hàng loạt các nông sản xuất khẩu nh: cà phê, điều, tiêu,
cao su, chè và thuỷ sản đã làm tăng kim ngạch xuất khẩu, từng bớc giảm tỷ
lệ chênh lệch xuất, nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nớc ta. Riêng
năm 1995 giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chiếm 51% tổng giá trị xuất
khẩu của cả nớc, đây là nguồn thu ngoại tệ quan trọng để công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nền kinh tế nớc ta.
Bên cạnh ngành nông, lâm, thuỷ sản thì các ngành công nghiệp, thơng
mại và dịch vụ cũng phát triển mạnh mẽ. Trong đó có những nghành lao động
nữ chiếm tới 80- 90% nh công nghiệp dệt may, da giày và thơng mại, dịch vụ.
Những ngành này không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà còn góp
phần xuất khẩu quan trọng. Riêng ngành dệt may hàng năm xuất khẩu 2-3 tỷ
đồng.
- Vai trò phụ nữ trong phát triển văn hoá xã hội
Cùng với phát triển về kinh tế, đời sống văn hoá ở nớc ta trong những
năm qua cũng phát triển mạnh mẽ đáp nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.
Giáo dục và y tế là hai ngành quan trọng vừa chăm sóc sức khoẻ cho
nhân dân vừa nâng cao dân trí, bồi dỡng nhân tài phục vụ công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc cả trớc mắt và lâu dài.
Có thể nói Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác phát triển giáo dục.
Sau năm 1945 nớc ta có tới 95% dân số không biết chữ. Bác Hồ đã coi giặc
dốt là kẻ thù nguy hiểm lâu dài, Bác kêu gọi phải tiêu diệt giặc dốt bằng
phong trào Bình dân học vụ . Phong trào này đợc toàn dân ủng hộ và tham

đờng Trờng Sơn, cho tiền tuyến lớn Miền Nam. Đã có hàng trăm tấm gơng anh
hùng, bất khuất, nh anh hùng Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bởi, Bùi Thị Cúc, anh hùng
Nguyễn Thị Chiên, Lê Thị Hồng Gấm,Tạ Thị Kiều, Ngô Thị Tuyển và Má út
Tịch Không chỉ trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu mà ngay trong xây
dựng tổ quốc cũng có biết bao tấm gơng anh hùng trên mọi lĩnh vực nh trong
17
lĩnh vực thơng mại du lịch, trong giao thông vận tải, trong nghiên cứu khoa học
đến văn hoá giáo dục
Phụ nữ Việt Nam, trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và
trong công cuộc xây dựng đất nớc đã có 232 nữ anh hùng trên mọi lĩnh vực
trong tổng số 1896 anh hùng của cả nớc.
Điển hình là các bà Nguyễn Thị Bình phó chủ tịch nớc, Nguyễn Thị
Định, anh hùng Hồ Thị Bi đại tá quân đội nhân dân Việt Nam, anh hùng Đoàn
Thị Thu đại tá, trởng công an quận Tân Bình TP HCM anh hùng Phạm Thị
Vách, vắt đất ra nớc thay trời làm ma, anh hùng Phạm Thị Liên công nhân nhà
máy dệt Nam Định, anh hùng Nguyễn Thị Ngời công nhân cạo mủ cao su,
công ty cao su Đồng Nai, anh hùng Lê Thị Ngừng công nhân lái máy xúc
BKG tổng công ty xây dựng thuỷ điện Hoà Bình, anh hùng Cao Thị Ngoãn thợ
hàn nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, anh hùng Hoàng Thị Miên cung giao thông
Cao Sơn, Cao Bằng, anh hùng Phí Vân Khanh hiệu trởng trờng Mẫu giáo
Chim Non quận Hai Bà Trng Hà Nội, anh hùng Phạm Thị Việt Nga giám đốc
xí nghiệp dợc phẩm Hậu Giang, anh hùng Nguyễn Thị Lệ Hoa giám đốc công
ty du lịch Hoà Bình Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt nam. Anh hùng Đoàn Hồng
Hoa thứ trởng bộ y tế, anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Phợng giám đốc bệnh viện
Từ Dũ TP Hồ Chí Minh và anh hùng Trần Thu Hà PGS - TS nhà giáo u tú
giám đốc nhạc viện Hà Nội. Phụ nữ Việt Nam thật xứng đáng đợc Bác Hồ
tặng Tám chữ vàng : Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang .
II. T tởng Hồ Chí Minh và Quan điểm của Đảng, Nhà nớc Việt
Nam về vai trò, vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
1. T tởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo,

căn cứ vào trình độ của từng ngời và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều
hơn nữa, Phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ,
Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dỡng, cất nhắc và
giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công
việc lãnh đạo. Trong cuốn Đờng cách mệnh, ngay từ những năm 20 của thế
kỷ XX, Ngời đã nói: muốn thế giới cách mệnh thành công thì phải vận động
19
đàn bà, con gái công nông các nớc. Vì vậy đệ tam Quốc tế tổ chức phụ nữ
quốc tế Mỗi đảng cộng sản phải có một bộ phụ nữ trực tiếp thuộc về phụ nữ
quốc tế.
Đề cao vai trò của phụ nữ, tôn trọng phụ nữ song Bác cũng luôn nhắc
nhở chị em phải ý thức vai trò, vị thế của mình mà phấn đấu cho mình, cho
dân tộc. Bác viết: Đảng, Chính phủ và Bác mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn
nữa. Hiện nay trong các ngành, phụ nữ tham gia còn ít, Ngời lu ý phụ nữ:
Không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy
sáng kiến tin tởng vào khả năng của mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết
giúp đỡ nhau để giải quyết khó khăn trong công tác chính quyền, Phải nâng
cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập phấn đấu xoá bỏ t tởng bảo thủ, tự ty,
phát triểnt ý chí tự cờng, tự lập . Phải đấu tranh để bảo vệ quyền lơi của
mình
2. Quan điểm của Đảng, Nhà nớc Việt Nam về vai trò, vị thế của
phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
Ngay từ những năm 1930, Luận cơng Chính trị của Đảng đã đề ra mục
tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ, thực hiện
nam nữ bình quyền. Nghị quyết Hội nghị Trung ơng Đảng cộng sản Đông D-
ơng cũng đề ra: Muốn thâu phục cho hết các phần tử phụ nữ thì ngoài sự
công tác của phụ nữ công nông ra, Đảng cần phải tổ chức ra các đoàn thể phụ
nữ, phụ nữ hiệp hội, mục đích chính là mu quyền lợi cho phụ nữ, là cho phụ
nữ triệt để đợc giải phóng. Trên quan điểm đó, Đảng đã lãnh đạo việc thành
lập tổ chức đại diện cho phụ nữ, đó là Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam.

quyết 153 về: công tác cán bộ nữ.
Ngay sau khi đất nớc thống nhất, Đảng ta lại ban hành chỉ thị số 44-CT/TW
ngày 7-6 -1984: "về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ, yêu cầu
các cấp, các ngành thờng xuyên quan tâm đến công tác cán bộ nữ, nâng cao tỷ lệ
phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo, tăng cờng đội ngũ cán bộ nữ.
21
Năm 1988 Hội đồng bộ trởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết
định 163; ngày 7/3/2003 đợc sửa đổi thành nghị định 19/2003 NĐ/CP quy
định trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nớc các cấp trong việc bảo đảm
cho các cấp Hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý Nhà nớc.
Trong thời kỳ đổi mới, Ban chấp hành Trung ơng khóa VI lại ban hành
Nghị quyết số 8B/NQ-TW ngày 23/9/1990 về Đổi mới công tác quần chúng
của Đảng, tăng cơng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Tiếp đó, Bộ chính
trị ra Nghị quyết số 04 NQ/TW về: Đổi mới và tăng cờng công tác vận động
phụ nữ trong tình hình mới nhằm khẳng định lại vai trò và vị trí của phụ nữ
Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mới: đặt vấn đề xây dựng
đội ngũ cán bộ nữ thành nhiệm vụ có tính chiến lợc trong toàn bộ công tác cán
bộ của Đảng và Nhà nớc.Trên cơ sở quy hoạch, có kế hoạch tạo nguồn, đào
tạo bồi dỡng cán bộ, tạo điều kiện để cán bộ nữ cống hiến và trởng thành,
phấn đấu tăng tỷ lệ nữ trong các cấp ủy Đảng, cơ quan Nhà nớc, trong các lĩnh
vực quản lý kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, khoa học, nghệ thuật Chống coi
thờng, phân biệt đối xử khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ.
Cơng lĩnh Xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(năm 1991) và Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: Phơng thức lãnh
đạo của Đảng với nhà nớc, đoàn thể chính trị - xã hội là bằng cơng lĩnh chính
trị, chiến lợc, chính sách, chủ trơng, bằng công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra
giám sát việc thức hiện.
Tiếp đó, ngày 15/6 1994, Ban Bí th Trung ơng Đảng ban hành chỉ thị số
37/CT-TW về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới nhằm
nhấn mạnh việc tăng cờng cán bộ nữ vào các cơng vị lãnh đạo quản lý. Chỉ thị

Hớng dẫn số 07 HD/TC của Ban Tổ chức Trung ơng hớng dẫn công tác
nhân sự Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999-2004 về nhân sự đại biểu
Hội đồng nhân dân là nữ tăng khoảng 10% so với hiện nay và đạt ít nhất
không dới 20%, ở các thành phố, tỷ lệ này không dới 25%. Quan điểm từ
nhiều năm nay của Đảng ta tiếp tục đợc khẳng định trong báo cáo chính trị
Đại hội IX: Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác
23
cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và ngời đứng đầu các tổ
chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ và thc hiện tốt luật pháp,
chính sách bình đẳng giới, bồi dỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn,
có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan
lãnh đạo và quản lý các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ bà mẹ trẻ em; tạo
điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức ngời mẹ; xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khoá VIII đã ra
Nghị quyết về chiến lợc cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc. Bộ Chính trị ra các Nghị quyết quy định phân cấp quản lý,
đánh gía cán bộ, bổ nhịêm cán bộ trong đó có cán bộ nữ.
Ngày 21 tháng 7 năm 1997 Bộ Chính trị có quy định 07 về quy chế làm
việc của đảng đoàn và ngày 30 tháng 7 năm 1997 có Quy chế làm việc của
ban cán sự đảng Cách làm này vừa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát
huy đợc trách nhiệm của Nhà nớc và các đoàn thể chính trị xã hội trong công
tác cán bộ. Để thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ và
quản lý đội ngũ cán bộ, Thủ tớng chính phủ ra Quyết định số 27/2003 QĐ-
TTg ngày 19/2/2003 về quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với cán bộ công
chức làm cơ sở cho các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố thực hiện quy
hoạch đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý cho phù hợp với điều kiện thực tế.
Cấp ủy đảng các tỉnh, thành phố đã căn cứ vào các Nghị quyết, chỉ thị
của Trung ơng để cụ thể hóa công tác cán bộ nữ trong các nghị quyết, chỉ thị,
trong công tác vận động quần chúng, công tác tổ chức, cán bộ của Đảng;

này phải đợc xoá bỏ ngay trong mỗi gia đình, trong cơ quan và trong xã hội,
mà trớc hết là trong các cấp uỷ Đảng, trong tập thể lãnh đạo và ngời đứng đầu.
Vấn đề tôn trọng phụ nữ phải đợc thực hiện trớc hết ngay trong mỗi gia
đình vì đây là cái nôi của hạnh phúc, là tập trung của tính huyết thống và là tế
bào của xã hội. Tôn trọng phụ nữ trong gia đình phải đợc thực hiện bằng các
hành động và hành vi cụ thể: Nh không đợc chửi mắng, đánh đập, làm nhục vợ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status