Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trường Đại học dân lập quản lý và kinh doanh Hà Nội - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
LƯU HOÀI NAM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP
QUẢN LÝ VÀ KINH DOANH HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2004

2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
ĐH
Đại học
ĐHDL
Đại học dân lập
ĐHCL
Đại học công lập
ĐNGV
Đội ngũ giảng viên
GD - ĐT
Giáo dục - Đào tạo
GV
Giảng viên
GVCH
Giảng viên cơ hữu
GVTG
Giảng viên thỉnh giảng
GDTC
Giáo dục thể chất
KHXH
Khoa học xã hội
HN
Hà Nội
NC
Nghiên cứu
QLGD
Quản lý giáo dục
QLDN
Quản lý doanh nghiệp
QL&KD

3.2. Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng giảng viên của
trường ĐHDL QL&KD HN
3.3. Điều kiện để thực hiện các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ
giảng viên trường ĐHDL QL&KD Hà Nội
3.4. Kiểm chứng sự nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
5
5
6
14

22

24

32
32
34
36

50

53

58


giải pháp đồng bộ về đổi mới mục tiêu đào tạo, đổi mới thi cử, đổi mới nội
dung, phương pháp dạy học và việc đánh giá kiểm định chất lượng đào tạo…
trong đó khâu đột phá là đội ngũ giảng viên.
Đội ngũ giảng viên có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục đại học, đưa giáo dục đại học Việt Nam ngang tầm với khu
vực và thế giới. Các trường đại học trong hệ thống giáo dục nước ta cũng đã có
những biện pháp nhằm xây dựng và phát triển ĐNGV của trường mình. Tuy
nhiên, cho đến nay, ĐNGV vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của chính
ngành giáo dục và của xã hội.

7
Với tư cách là một giảng viên Trường ĐHDL Quản lý và Kinh doanh Hà
Nội (ĐHDL QL&KD HN), trực tiếp tham gia trong đội ngũ giảng viên và hiểu
được nỗi trăn trở của lãnh đạo nhà trường, tác giả nhận thấy tầm quan trọng và
sự cần thiết phải xây dựng một ĐNGV đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, phù
hợp về cơ cấu đáp ứng yêu cầu giảng dạy của nhà trường. Vì vậy, tác giả chọn
đề tài “Một số biện pháp xây dựng và phát triển ĐNGV của trƣờng ĐHDL
Quản lý và Kinh doanh Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp khóa đào tạo Thạc sỹ
quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm - ĐH Quốc gia Hà Nội.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng ĐNGV của Trường ĐHDL QL&KD Hà
Nội, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp xây dựng và phát triển
ĐNGV tại Trường ĐHDL QL&KD Hà Nội góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu: ĐNGV trong truờng ĐHDL.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu: ĐNGV của trường ĐHDL QL&KD Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học:
Đội ngũ GV đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đào tạo của một
trường đại học. Do đó, nếu vận dụng đồng bộ những biện pháp quản lý, quán

cầu nâng cao chất lượng đào tạo của Trường.
9. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu (4 trang), và phần kết luận (3 trang), luận văn được
cấu trúc thành 3 chương:

9
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu (27 trang)
Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên của trƣờng ĐHDL
QL&KD Hà Nội (26 trang)
Chƣơng 3: Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng
viên của trƣờng ĐHDL QL&KD Hà Nội (25 trang)
Cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục.
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong tình hình hiện nay, nước ta đang đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và tiến hành đổi mới cơ chế kinh tế. Xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh
mẽ, khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng. Giáo dục và đào tạo đang
phải thực thi một trọng trách vô cùng to lớn là vừa phải phát triển nguồn nhân
lực xã hội đáp ứng yêu cầu mới, vừa phải phát triển nguồn nhân lực của chính
mình để đảm đương nhiệm vụ.
Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010 đặt mục tiêu tăng cả
về quy mô và chất lượng đào tạo đại học. Do vậy, xây dựng và phát triển ĐNGV
đại học là một việc quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay.
Đến nay, đã có nhiều quan điểm chỉ đạo, định hướng; nhiều công trình

* Quản lý
Từ xa xưa, khi các hoạt động trong xã hội loài người còn tương đối đơn
giản với quy mô chưa lớn, công việc quản lý được thực hiện trên cơ sở kinh
nghiệm với sự linh hoạt, nhạy bén của người đứng đầu tổ chức. Kinh nghiệm
ngày càng phong phú và người ta rút ra những điều mang tính quy luật có thể
vận dụng trong nhiều tình huống tương tự. Ngày nay, quản lý vừa là một khoa
học, vừa là một nghệ thuật. Nó có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất
bại trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Đề cập đến vấn đề quản lý, Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội
trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít
nhiều cũng cần phải có một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm
thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể

12
sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người
độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trưởng” [28,480]
Ngoài ra, từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, xuất hiện rất nhiều quan
điểm về quản lý, đặc biệt ở các nước Phương Tây.
F.W.Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì
cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [13]
Harold Koontz trong "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" thì cho rằng:
"Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân
nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất
mãn ít nhất”. [24,33]
Henry Fayol là người đầu tiên chỉ ra chức năng của quản lý gồm: "dự
đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra" [13,15]
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý
nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [32,47]

đồng thời, đan xen với nhau.
* Quản lý giáo dục
Giáo dục là sự hình thành có mục đích và tổ chức những sức mạnh thể
chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị
hiếu thẩm mỹ cho con người. Hay nói cách khác, giáo dục là quá trình tác động
đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất và nhân cách.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính
chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học,

14
giáo dục thế hệ trẻ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”
[32,12]
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến các đối
tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục đích đã định. Quan hệ
trong quản lý giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học
trong các hoạt động giáo dục.
Với nghĩa tổng quát hơn: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp ứng
nhu cầu phát triển xã hội ngày một cao” [14]
Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục hiện nay ở nước ta được mở rộng
không chỉ đơn thuần là các hoạt động quản lý trong ngành giáo dục - đào tạo mà
là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục đào tạo thực
hiện lời Bác Hồ “giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”
* Quản lý nguồn nhân lực
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý nguồn nhân lực là chức năng
quản lý giúp cho người quản lý tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các
thành viên của tổ chức”[25]
Quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động như: Kế hoạch

tại Điều 61 nêu rõ khái niệm Nhà giáo "là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo
dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
o Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt
o Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
o Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp

16
o Lý lịch bản thân rõ ràng
Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục
nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là
GV”[3]
Như vậy, GV chính là những nhà giáo làm công tác giảng dạy trong các
trường đại học, cao đẳng. Họ không chỉ có trách nhiệm truyền thụ kiến thức
khoa học, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho SV mà họ còn là những người “Dạy
cho học sinh, SV cách học và cách đưa ra sáng kiến trong công việc”; xây dựng
nhân cách cho SV nhằm đạt được mục tiêu giáo dục là “Đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
* Đội ngũ giảng viên:
Theo Từ điển Tiếng Việt, "đội ngũ là khối đông người cùng chức năng
nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng".[17]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, "đội ngũ là một tập thể người gắn kết với
nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và
hoạt động theo một nguyên tắc" [6]
Với nhiều cách diễn đạt khác nhau, các định nghĩa đều nêu rõ đội ngũ là
một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một
hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nhau về công việc
nhưng cùng chung một mục đích nhất định và cùng hướng tới mục đích đó.
Từ đó cho thấy, ĐNGV là tập hợp những GV được tổ chức thành một lực

Nhà trường là một đơn vị sự nghiệp hành chính, được thiết lập theo thiết
chế xã hội – có quy tắc, có luật lệ; là một tổ chức có bộ máy, có nhân sự, hoạt
động theo những mục đích, mục tiêu đã được đặt ra. Nhà trường là cơ sở đào tạo

18
của ngành giáo dục, nơi trực tiếp giáo dục học sinh, SV; nơi thực thi mọi chủ
trương, đường lối, chính sách, nội dung, phương pháp giao dục; nơi diễn ra lao
động dạy của thầy, lao động học của trò và lao động của bộ máy quản lý trường
học.
Theo từ điển Giáo dục học: “Trường đại học là cơ sở giáo dục thuộc bậc
đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, có thể đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ
khi được Thủ tướng Chính phủ giao” [23]
Khác với nhà trường phổ thông, trường đại học còn có nhiệm vụ và quyền
hạn trong nghiên cứu khoa học, phụ vụ xã hội như:
- Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển
công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế - xã hội của địa phương
và đất nước;
- Thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh
doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, trường đại học còn có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong
việc xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các
ngành nghề được phép đào tạo; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu, tổ chức quá
trình đạo tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng theo thẩm quyền; tổ chức bộ
máy nhà trường; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục
tiêu giáo dục; hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục, thể
thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước theo quy định của
Chính phủ.
* Trường Đại học dân lập:
Trường ĐHDL trước hết là một trường đại học, bình đẳng với các trường
đại học công lập về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường, của GV và SV,

để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình. Giữ gìn và phát huy truyền thống quý

20
trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học.
Dù trong thời điểm nào, nghề giáo vẫn luôn được tôn vinh và vị trí người
giáo viên luôn được đề cao. “Chúng ta có đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng
cốt trong sự nghiệp giáo dục; người thầy giáo là chiến sỹ cách mạng trên mặt
trận tư tưởng – văn hoá. Đó là những người truyền thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và
đạo đức cách mạng, bồi đắp cho các em nhân cách văn hoá đậm đà bản sắc dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, dạy cho các em có tri thức và kỹ năng
lao động nghề nghiệp, tạo nên lớp người có ích cho đất nước” [7,135]
Ngoài ra, trong công cuộc CNH-HĐH đất nước, người giáo viên nói
chung và người GV đại học nói riêng luôn đóng vai trò quan trọng, góp phần
nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia; xây dựng và phát triển nền văn
hoá đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời tham gia vào xây dựng kinh tế đất nước.
Chính vì vậy, trong tất cả các giai đoạn xây dựng và phát triển của lịch sử dân
tộc, vị trí người giáo viên nói chung và người GV đại học nói riêng luôn được
tôn vinh và quý trọng.
* Nhiệm vụ của giảng viên
GV trước hết là nhà giáo, họ có những nhiệm vụ được xác định trong điều
63 Luật Giáo dục:
“1. Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục.
2. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và
điều lệ của nhà trường.
3. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn vinh nhân cách
người học; đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính
đáng của người học.
4. Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người học.
5. Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật”.

- Được ký hợp đồng giảng dạy, khoa học và công nghệ với các cơ sở đào
tạo, cơ sở nghiên cứu, cơ sở sản xuất và các tổ chức kinh tế khác theo quy định
của Bộ Luật Lao động, Quy chế thỉnh giảng và kiêm nhiệm do Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành và các quy định có liên quan của nhà nước sau khi đã được sự
đồng ý của các cấp có thẩm quyền theo quy định của Hiệu trưởng;
- Được đăng ký xét công nhận, được bổ nhiệm chức danh GS, PGS theo
quy định của nhà nước; được Nhà nước xét tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân,
Nhà giáo ưu tú;
- Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm theo quy định của Bộ
GD-ĐT;
- Được tham dự các hội nghị, hội thảo khoa học trong và ngoài nước theo
quy định để công bố các công trình nghiên cứu khoa học, giáo dục”.
Như vậy, đối với GV đại học, giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai
nhiệm vụ không thể thiếu, chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Mức độ cân bằng
giữa hai nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu cũng giao động tùy thuộc vào từng
trường đại học. Trong một số trường đại học nghiên cứu, tỷ lệ GV tham gia
giảng dạy sau đại học và nghiên cứu nhiều hơn ở một số trường đại học khác.
Ngược lại, ở một số trường đại học khoa học xã hội và nhân văn hay đại học
cộng đồng các GV được khuyến khích tăng cường công tác nghiên cứu hơn nữa.
Bên cạnh đó, GV cần phải có trách nhiệm quan tâm đúng mức đến quá trình học
tập và tiến bộ của SV và mở rộng môi trường làm việc của mình vượt khỏi phạm
vi nhà trường, với các trường đại học khác, với các địa phương khác, thậm chí
với các đồng nghiệp ở nước ngoài.
Một số quan điểm khác (Bowen & Schuster, 1989; Rhodes, 1990; Rice,
1991; Boyer, 1990) cho rằng nhiệm vụ của GV bao gồm 4 loại công việc như:.
- Giảng dạy
- Nghiên cứu

23
- Dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng

trong thực tế cuộc sống”[17]
Kiến thức chuyên môn của GV là những điều hiểu biết của GV đó về một
hoặc một số môn học mà họ đảm nhận, thông qua học tập trong trường, nghiên
cứu sách vở và thực tiễn cuộc sống.
Tuy người GV không phải là nguồn kiến thức độc tôn đối với người học,
song nhiệm vụ quan trọng của họ vẫn là cung cấp kiến thức một cách chính xác,
có hệ thống, đồng thời giúp người học biết cách tự học, biết cách nghiên cứu
khoa học, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
Do vậy, yêu cầu đầu tiên đối với một người GV khi bước lên bục giảng là họ
phải có một lượng tri thức tương đối rộng, học sâu một số môn chuyên ngành.
Bên cạnh đó, GV phải có kiến thức về một số môn học khác để phục vụ việc
hiểu biết sâu hơn những môn chuyên ngành và giải đáp thắc mắc của SV và lựa
chọn nội dung phù hợp với chương trình và mục tiêu đào tạo.
Đặc thù của giáo dục đại học là đào tạo ra những người lao động, có trình
độ từ cao đẳng trở lên, nắm vững kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng được yêu cầu
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.[36]. Chính vì vậy, giáo dục đại học phải
đảm bảo thống nhất giữa dạy lý thuyết và thực hành, gắn tri thức lý luận với
thực tiễn cuộc sống, làm cho SV trở thành người hiểu sâu, biết rộng, biết nói,
biết làm.
Vì vậy, GV không chỉ là người có kiến thức chuyên môn mang tính lý
luận, sách vở sâu, rộng mà còn phải có kinh nghiệm giải quyết những vấn đề nảy
sinh trong thực tiễn. Một người GV giỏi phải là người tinh thông lý luận, nhuần
nhuyễn thực tiễn, là điểm tựa cho SV.
* Năng lực sư phạm
Năng lực sư phạm là yếu tố cấu thành cơ bản tạo nên tư chất người GV.

25
Năng lực sư phạm là tổng hợp những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng nhu cầu
của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công trong việc nắm vững hoạt
động ấy. [35]

giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không
tốt”.
Với người GV, có nhận thức chính trị đúng chưa đủ mà còn phải có khả
năng xử lý được những tình huống chính trị và định hướng nhận thức chính trị -
xã hội cho SV, là tấm gương đạo đức cho SV noi theo. Đặc biệt trong nền kinh
tế thị trường, người GV càng cần gìn giữ phẩm chất chính trị, đạo đức nghề
nghiệp của mình.
1.3.3. Những yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên
* Số lượng
Số lượng là biểu thị về mặt định lượng của ĐNGV. Mỗi trường đại học
phải có đủ số lượng GV tương ứng với số lượng SV và chương trình đào tạo của
trường theo một tỷ lệ nhất định. Dựa vào đó mà mỗi trường lập quy hoạch xây
dựng và phát triển ĐNGV của mình sao cho vừa đảm bảo chất lượng giảng dạy,
đảm bảo quy định của nhà nước về tỷ lệ SV/GV và vừa đảm bảo đời sống cho
GV.
Số lượng GV trong các trường đại học công lập bị điều chỉnh bởi chỉ tiêu
biên chế của Nhà nước; trong khi đó, các trường ngoài công lập (trong đó có các
trường ĐHDL) có quyền tự chủ hơn.
* Chất lượng
Chất lượng của ĐNGV là một trong những điều kiện quyết định chất
lượng đào tạo của một trường đại học. Chất lượng của ĐNGV bao hàm nhiều
yếu tố: trình độ đào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên làm việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status