LUẬN VĂN:
Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo công tác giáo
dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ
sở từ năm 1996 đến 2006
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang thu được
nhiều thành tựu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để đất nước bước vào một giai
đoạn phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH), xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Trong tình hình đó, đòi hỏi Đảng, Nhà
nước và mọi cán bộ, đảng viên phải đổi mới tư duy, nâng cao trình độ lý luận chính
trị của mình lên một tầm cao mới. Đặc biệt, người cán bộ cơ sở phải có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, năng lực trí tuệ nhất định. Theo
V.I. Lênin chỉ có Đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả
năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong.
Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến cơ sở là yêu cầu cấp
thiết cho mọi cán bộ chứ không phải chỉ riêng ở cán bộ nghiên cứu hay người làm
công tác lý luận như trước đây thường quan niệm.
Mặt khác, những biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới
và khu vực cùng với sự yếu kém của nền kinh tế nước ta đã và đang làm nảy sinh
nhiều vấn đề mới phức tạp. Có những vấn đề đơn giản nhận thức được bằng trực
giác nhưng cũng có những vấn đề đòi hỏi phải có sự khái quát, phân tích bằng tư
duy lý luận thì mới có thể nhận thức và giải quyết được. Điều đó đòi hỏi người
cán bộ cơ sở phải có trình độ lý luận chính trị đáp ứng nhiệm vụ được giao.
Hơn nữa, năng lực và trình độ lý luận chính trị của cán bộ cơ sở có tác
dụng quan trọng trong lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự ở địa
phương, thúc đẩy sự phát triển chung cho cả tỉnh, vùng và cả nước. Trình độ lý
bộ ở một cơ sở cụ thể, qua đó khắc phục những hạn chế, yếu kém về năng lực, trình
độ lý luận chính trị cũng như chỉ đạo thực tiễn của đội ngũ cán bộ tỉnh Bến Tre.
3. Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trình bày có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre vận dụng chủ
trương của Đảng để lãnh đạo công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ cơ sở (1996 – 2006). Phân tích những kết quả bước đầu và đúc kết một số
kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác này đối với đội ngũ cán bộ ở địa
phương.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ
trương của Đảng về công tác giáo dục lý luận chính trị để đào tạo lý luận chính
trị cho đội ngũ cán bộ (1996 – 2006).
- Đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế trong công
tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ ở Bến Tre.
- Đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh
đạo công tác giáo dục lý luận chính trị từ năm 1996 đến 2006 và đề ra một số
kiến nghị, giải pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre đối
với công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ ở địa phương từ năm
1996 đến 2006.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre đối
với công tác giáo dục lý luận chính trị từ năm 1996 đến 2006.
Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Bến Tre, có
nghiên cứu ở mức độ nhất định ở các tỉnh lân cận để so sánh.
cho đội ngũ cán bộ cơ sở (1996-2006)
1.1. quan điểm của chủ nghĩa mác-lênin, tư tưởng hồ chí minh, đảng
cộng sản việt nam về giáo dục lý luận chính trị và đặc điểm của tỉnh bến tre
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục lý luận chính trị
Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng, từ khi xã hội có sự phân
chia giai cấp thì bất kỳ một giai cấp, một chính đảng nào muốn nắm vững vai trò
thống trị của mình đối với xã hội thì trước tiên phải có trình độ lý luận trí tuệ để
nhằm tuyên truyền những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách… nhằm
bảo vệ sự thống trị của giai cấp mình. V.I.Lênin đã khẳng định: “Chỉ Đảng nào
được một lý luận tiền phong hướng dẫn, thì mới có khả năng làm tròn vai trò
chiến sĩ tiền phong” [28, tr.32].
Để hiểu bản chất của lý luận chính trị, trước hết cần tìm hiểu một số khái
niệm có liên quan.
“Lý luận” theo tiếng Hy Lạp “Theo rie” với nghĩa sơ khai của nó là quan
sát, nghiên cứu. Nhưng con người không chỉ dừng lại ở sự hiểu biết đó, mà con
người ngày càng tìm kiếm, bổ sung, phát triển khái niệm lý luận làm cho nó ngày
càng đầy đủ hoàn thiện hơn.
Ngày nay, lý luận được hiểu là tập hợp các khái niệm, phạm trù quy luật
được khái quát từ việc đúc rút những kinh nghiệm, hoạt động hằng ngày của con
người. Hay nói khác đi, lý luận là hệ thống các quan điểm, tư tưởng được khái
quát từ thực tiễn khách quan.
Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm
của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá
trình lịch sử. Lý luận chân chính là “đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm,
trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi
lại đem nó chứng minh trong thực tế” [30, tr.233].
- xã hội. Sự tác động của chính trị đối với cơ sở kinh tế thường diễn ra theo hai
hướng: nếu tư tưởng, quan điểm chính trị nào phản ánh đúng đắn sự vận động,
phát triển khách quan thì nó thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Ngược lại, nó
làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. V.I.Lênin khẳng định: “Chính trị
không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế”. Ưu tiên cho chính trị, là ưu
tiên cho việc giành lấy quyền lực chính trị và cho xây dựng các quyết sách chính
trị đúng. Để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế thì phải thông qua một hệ thống
chính trị như chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật nhà nước một cách
đúng đắn khoa học, không được sai lầm, mơ hồ về chính trị. Chính trị là một lĩnh
vực rất tinh tế, nhạy cảm, nó biểu hiện trên cơ sở các tri thức được tích luỹ trong
quá trình lịch sử và những quan hệ gắn với con người, với giai cấp, dân tộc và thời
đại. Do tính phức tạp, nhạy bén, năng động nên chính trị không có một công thức
chung, cách thức chung duy nhất nào cả và nó cũng không phải là con đường
thẳng tắp, thuận lợi, dễ đi mà nó là con đường quanh co phức tạp. V.I.Lênin cho
rằng chính trị giống đại số hơn là số học, càng giống toán học cao cấp hơn toán
học sơ cấp, chính trị là vận mệnh thực tế của hàng triệu con người.
Với góc độ tiếp cận khái niệm lý luận và khái niệm chính trị ở trên đây, có
thể đưa ra một khái niệm lý luận chính trị như sau: Lý luận chính trị là lý luận
trong lĩnh vực chính trị. Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu
tranh giai cấp để đại diện cho một lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định
trong xã hội. Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối,
chính sách của một Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà
nước.
Như vậy, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giai
cấp vô sản, là hệ tư tưởng chân chính nhất của giai cấp vô sản và chính đảng của
mình - Đảng Cộng sản. Đó là kim chỉ nam của giai cấp vô sản trong cuộc đấu
tranh giải phóng mình, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột của giai
cấp tư sản và trả con người về đúng vị trí của nó.
Như vậy, Hồ Chí Minh là người đầu tiên quan tâm tới lý luận cách mạng
và thực hành kiên trì, bền bỉ việc giáo dục lý luận chính trị cho các thế hệ người
Việt Nam yêu nước. Người đã để lại cho cách mạng Việt Nam cả một di sản to
lớn về giáo dục lý luận chính trị. Đó là cả một hệ thống quan điểm của Người về
khái niệm giáo dục lý luận chính trị, về vị trí và mục đích của giáo dục lý luận
chính trị, cũng như về nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục lý luận
chính trị.
Trong đào tạo - giáo dục các thế hệ cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh
đặc biệt quan tâm công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Đó
là một trong những vấn đề xuyên suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của
Người.
Tư duy nhất quán và nổi trội ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là sau khi tìm ra
con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam, Người xác định: Cách mệnh trước
hết phải có cái gì? và Người trả lời: Trước hết phải có đảng cách mệnh. Theo
Hồ Chí Minh, đảng cách mệnh có sứ mệnh lịch sử là “để trong thì vận động và tổ
chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi
nơi” [30, tr.267-268] mà đưa cách mạng của dân tộc đến thành công. Cách mạng
muốn thành công, theo Hồ Chí Minh, là đảng phải vững mạnh, đảng muốn vững
mạnh phải có lý luận soi đường và tất cả cán bộ, đảng viên cần phải hiểu và thực
hành theo lý luận đó. Người viết: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công,
cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có
chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy.
Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có
bàn chỉ nam” [30, tr.268]. Như vậy, đảng cách mạng trước hết phải được võ
trang bởi một lý luận tiền phong. Và để “trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng
phải theo” lý luận tiền phong ấy thì giáo dục lý luận chính trị là nhân tố không
thể thiếu được. Hồ Chí Minh đã tuyên truyền lý luận chính trị để sinh ra Đảng.
Và Người cùng với Đảng liên tục giáo dục lý luận chính trị cho các đối tượng
người Việt Nam yêu nước, dẫn đến Cách mạng tháng Tám thành công, thành lập
cách mạng cụ thể, nhất định. Do vậy, công tác giáo dục lý luận chính trị phải
được trình bày một cách khoa học, tâm lý, nghệ thuật, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ,
dễ thuyết phục, dễ phổ biến.
Trong tình hình mới hiện nay, với việc thực hiện cơ chế thị trường định
hướng XHCN, Đảng ta rất coi trọng việc học tập, nghiên cứu lý luận trong tình
hình mới:
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta;
đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; xây dựng, chỉnh đốn Đảng
trong điều kiện mới, phát triển văn hoá; con người và nguồn nhân lực;
đặc điểm, nội dung của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại
và sự phát triển kinh tế tri thức, những tác động nhiều mặt của quá
trình toàn cầu hoá, dự báo xu thế, phát triển chủ yếu của thế giới và
khu vực; những vấn đề lý luận phục vụ quốc phòng, an ninh đối ngoại,
đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực
thù địch [16, tr.135].
Để công cuộc đổi mới nhanh chóng đi đến thắng lợi, CNXH sớm trở thành
hiện thực, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX một lần nữa Đảng ta khẳng
định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con
đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh” [15, tr.83].
Đảng ta rất coi trọng việc học tập, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo học
thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh vào từng điều kiện cụ thể mà thời đại
đặt ra. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng tiếp tục khẳng định:
Phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng,
kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo
trong hoạt động thực tiễn của Đảng. Nâng cao chất lượng nghiên cứu
lý luận và đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, công tác tư
dài bờ biển 65 km.
Điểm cực Nam của tỉnh nằm trên vĩ độ 9048’ Bắc, cực Bắc nằm trên vĩ độ
10020’ Bắc, điểm cực Đông nằm trên kinh độ 106048’ Đông, điểm cực Tây nằm
trên kinh độ 105057’ Đông.
Đường bộ nối liền thị xã Bến Tre với thành phố Hồ Chí Minh (qua Tiền
Giang, Long An) dài 86 km.
Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển nên có địa hình bằng phẳng, rải
rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có
một số rừng chồi, những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông. Bốn bề
đều có sông nước bao bọc, Bến Tre có một hệ thống đường thủy gồm những
sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa
Hàm Luông và cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận biên giới
Campuchia và một hệ thống kênh, rạch chằng chịt đan vào nhau như những
mạch máu chảy khắp ba dải cù lao, rất thuận tiện cho giao thông vận tải cũng
như thủy lợi. Tàu bè từ thành phố Hồ Chí Minh đi về miền Tây và ngược lại đều
đi qua đất Bến Tre. Tuy có hệ thống đường thủy thuận lợi nhưng hệ thống đường
bộ gặp nhiều khó khăn do bị chia cắt bởi nhiều sông rạch chằng chịt. Điều kiện
địa lý cách trở làm cho vùng đất cù lao Bến Tre trở nên biệt lập từ bao đời nay,
không chỉ giữa Bến Tre với các tỉnh bạn mà sự biệt lập này diễn ra ngay trong
địa bàn của tỉnh bởi sự chia tách của hàng chục những cồn lớn, nhỏ khác nhau.
Chính điều kiện địa lý tự nhiên ấy đã hình thành nên một số nét tính cách
và tâm lý của con người Bến Tre. Điểm nổi bật của con người nơi đây là ý chí tự
lực, tự cường. Bởi lẽ, giữa bốn bề sông nước họ khó có thể dựa vào ai, chỉ có thể
dựa vào sức mình là chính. Tinh thần đó không chỉ thể hiện trong sản xuất mà
còn trong tổ chức đời sống xã hội và đặc biệt là trong chiến đấu.
Tuy nhiên, khi đề cập đến vùng đất này các nhà nghiên cứu thường hay
nói đến tính chất bảo thủ, ngưng đọng, nhịp sống trì trệ, chậm thay đổi… Do
điều kiện địa lý cách trở, giao lưu không thuận tiện có ảnh hưởng nhất định đến
hóa - Thông tin - Du lịch công nhận 13 di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.
Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
xâm lược, quân và dân Bến Tre đã kiên cường chiến đấu và chiến thắng, góp
phần vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Chính trong đau thương, gian khổ của
cuộc chiến tranh đã làm xuất hiện những sự kiện lịch sử độc đáo gắn liền với tên
đất, tên người Bến Tre.
Càng không thể quên những sáng tạo trong hai cuộc kháng chiến
mới đây: vượt biển đầu tiên, ngay từ 1946, ra Phú Yên và đi Hà Nội
gặp Trung ương, Bác Hồ rồi mở đường Hồ Chí Minh trên biển, làm
đầu cầu tiếp nhận vũ khí từ Bắc vào, phân phối cho cả miền, gần như
tay không nổi lên Đồng khởi, chuyển ngoặt tình hình; đấu tranh chính
trị bằng “đội quân tóc dài” độc nhất vô nhị xưa nay… đều từ Bến Tre
[21, tr.11-12].
Chính vì thế, trong Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do
Trung ương cục miền Nam và Quân ủy Miền chủ trì (1968), Bến Tre được phong
tặng 8 chữ vàng “ANH dũng đồng khởi, thắng mỹ, diệt ngụy”. Kết thúc cuộc kháng
chiến, Bến Tre là tỉnh anh hùng được Nhà nước phong tặng 14 vị tướng, 53 anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 2.067 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 84 đơn vị xã,
phường anh hùng và 8/8 huyện, thị anh hùng. Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có
quyền tự hào về điều này.
Là tỉnh có diện tích tự nhiên không lớn chỉ 2.315,01 km2 nhưng 70% diện
tích là đất nông nghiệp, cùng với 65 km bờ biển và hệ thống sông ngòi chằng
chịt đã cho Bến Tre lợi thế phát triển mạnh về kinh tế vườn và kinh tế thủy sản,
cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Trong
những năm gần đây, kinh tế Bến Tre có bước phát triển khá. Giai đoạn 19962000, tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn chỉ tăng bình quân 6,18%/ năm nhưng
đến năm 2006 đã đạt 10,8%. Theo đánh giá của UBND tỉnh, trong những năm
qua cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây
dựng và dịch vụ trong GDP tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm dần. Các ngành
càng gay gắt, nổi lên là vấn đề lao động, việc làm, thu nhập cá nhân, những vấn
đề về tệ nạn xã hội… Những nhân tố đó đã gây nên nhiều trở ngại không nhỏ
trong việc giáo dục lý luận chính trị cho người cán bộ cơ sở.
Mặt khác, Bến Tre là một trong những tỉnh bị chiến tranh tàn phá nặng nề
nhất của cả nước cho nên phải gánh chịu những hậu quả hết sức to lớn của cuộc
chiến tranh, đặc biệt là về mặt xã hội. Với hơn 35.000 liệt sĩ, trên 18.000 thương
binh, 2.067 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (hiện còn sống 402 mẹ), gần 15.000
người bị nhiễm chất độc hóa học… Tất cả điều đó đã nói lên tính chất khốc liệt
của cuộc chiến tranh trên mảnh đất này. Đối với Bến Tre bao nhiêu anh hùng là
bấy nhiêu đau thương, bao nhiêu niềm vinh quang là bấy nhiêu nỗi bất hạnh. Vì
thế, những thế hệ người Bến Tre hôm nay mặc dù đời sống kinh tế vẫn còn
nghèo nàn, lạc hậu nhưng vẫn không ngừng phấn đấu vươn lên, khắc phục những
khó khăn thử thách, sống xứng đáng với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Có thể nói, quá trình quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Bến Tre và
quá trình giáo dục lý luận chính trị cho người cán bộ cơ sở có quan hệ gắn bó với
nhau. Đời sống kinh tế phát triển thì người cán bộ có điều kiện để học tập, tiếp
thu những giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương,
đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời sau khi tiếp thu được
những kiến thức đó họ có thể vận dụng vào thực tế của địa phương và làm cho
địa bàn mình phụ trách phát triển về mọi mặt. Vì vậy, để việc lãnh đạo công tác
giáo dục lý luận chính trị của đảng bộ tỉnh Bến Tre có hiệu quả trước hết phải
chú trọng đến phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của người dân, đặc biệt là người cán bộ cơ sở.
Cấp cơ sở là cấp có vị trí quan trọng trong mối quan hệ với cấp huyện và
cấp tỉnh. Cấp cơ sở là nơi cụ thể hóa các nghị quyết, nghị định, hướng dẫn của
cấp tỉnh và cấp huyện, sâu sát với địa phương, trực tiếp lãnh đạo, quản lý địa
phương về mọi mặt. Chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở quyết định năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu và năng lực quản lý của đảng bộ, chính quyền cơ sở; quyết
năm 10,36%.
Thời gian giữ chức danh: dưới 5 năm 68,43%; trên 5 năm 31,57% [42, tr.2].
Với thực trạng về trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý,
giới tính, độ tuổi, thâm niên công tác… của đội ngũ cán bộ công chức xã nói riêng,
cán bộ cơ sở Bến Tre nói chung, để đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ trong thời kỳ
mới cần phải được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thêm về nhiều mặt. Trong đó, việc
giáo dục lý luận chính trị là một mặt hết sức quan trọng nhằm bồi dưỡng nâng cao
năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ này.
1.2. Công tác giáo dục lý luận chính trị ở tỉnh Bến Tre (1996 – 2006)
1.2.1. Khái quát công tác giáo dục lý luận chính trị ở tỉnh Bến Tre trước
1996
Công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ là công tác rất
được Đảng ta đặc biệt quan tâm từ khi mới thành lập và cả trong quá trình lãnh
đạo của mình. Trong tình hình hiện tại, ngày 2 tháng 1 năm 1983, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã ra Quyết định số 15-QĐ/TW “ Về công tác các trường
Đảng”.
Nhiệm vụ cách mạng hiện nay đòi hỏi phải tiến hành cải cách
giáo dục lý luận chính trị, trước hết là cải cách công tác đào tạo cán bộ,
nhất là cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chủ chốt của Đảng và Nhà
nước làm cho đội ngũ đủ phẩm chất và năng lực, nhất là năng lực tổ
chức thực tiễn [28, tr.217].
Nội dung chủ yếu của Quyết định số 15: Trung ương quy định nhiệm vụ
các Trường Đảng trong giai đoạn mới, tổ chức lại hệ thống Trường Đảng các cấp
và cải tiến chương trình, phương pháp học tập, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên.
Trong đó, BCHTW Đảng còn quy định chức năng của Trường Đảng
huyện, quận, thị xã vừa mở lớp tập trung vừa mở lớp tại chức bồi dưỡng các
Đảng ủy viên và Bí thư chi bộ cơ sở:
- Mở các lớp tập trung bồi dưỡng một cách cơ bản về chính trị và công tác
c) Bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, về
quản lý hành chính Nhà nước và công tác vận động quần chúng.
d) Tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn ở địa phương [28, tr.233-234].
Trên cơ sở quyết định số 88-QĐ/TW ngày 6/9/1994 của Ban Bí thư và cụ
thể hóa ở Bến Tre, ngày 25/10/1994, Tỉnh ủy Bến Tre đã ban hành Quyết định số
465-QĐ/TU “Về việc hợp nhất Trường Đảng Trần Phú và Trường Hành chánh
tỉnh thành Trường Chính trị tỉnh”.
Như vậy, Trường Chính trị Bến Tre ra đời trên cơ sở hợp nhất Trường Đảng
Trần Phú và Trường Hành chánh tỉnh với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về
lý luận chính trị, kiến thức xây dựng Đảng, quản lý hành chính Nhà nước và về
công tác dân vận, ngoài ra Trường còn có chức năng nghiên cứu khoa học.
Thực hiện nhiệm vụ trên, ngay từ đầu năm 1995, Trường Chính trị Bến Tre
đã tiến hành mở 1 lớp đào tạo cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể. Lớp đào tạo
chương trình trung học chính trị, hệ chính quy có 64 học viên, chương trình học
gồm có 11 phần học, thời gian học là 14 tháng, tương đương với 2.874 tiết học.
Đối với loại hình này, học viên phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có trình độ học vấn
tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc bổ túc, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Nam tuổi đời dưới 35, có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, được địa phương
chọn lựa gửi đào tạo và phải thông qua Hội đồng duyệt sinh gồm có đại diện Ban
Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Chính quyền tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy,
Trường Chính trị tỉnh.
Ngoài lớp đào tạo chương trình trung học chính trị hệ chính quy, 14 tháng,
Trường Chính trị Bến Tre còn mở lớp đào tạo chương trình trung học chính trị hệ
tại chức tại trường và huyện trong tỉnh cho cán bộ chủ chốt ở các tổ chức cơ sở
Đảng và các đơn vị tương đương với hình thức tập trung theo từng đợt trong
tháng hoặc theo tháng trong từng quý của năm học, mỗi đợt tập trung từ 10 đến
15 ngày. Học viên tham gia lớp học này đảm bảo các tiêu chuẩn như hệ chính
là bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản, các đối tượng phát triển đảng viên,
đảng viên mới…
b) Tổ chức thông tin khoa học, thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên
ở cơ sở để qua đó thông tin cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện.
c) Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dưỡng khác xuất phát từ nhu cầu thực
tế của địa phương, do cấp ủy quy định.
Sau khi tiếp thu Quyết định số 88-QĐ/TW và Quyết định số 100-QĐ/TW
của Ban Bí thư, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bến Tre đã quán triệt và thực hiện 2 quyết
định trên một cách nghiêm túc nhằm năng cao chất lượng công tác giáo dục lý
luận chính trị ở tỉnh nhà.