ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
==============================
DƯƠNG THỊ HUYỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
Luận văn thạc sĩ Lịch sử
HÀ NỘI - 2012
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
==============================
DƯƠNG THỊ HUYỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
2.1. Yêu cầu tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ cơ sở của tỉnh và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên ............. 44
2.1.1. Yêu cầu tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ cơ sở ...................................................................................... 44
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên ...................................... 47
2.2. Đảng bộ tỉnh Hưng chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục lý luận chính
trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở ........................................................................ 52
1
2.2.1. Chỉ đạo xây dựng chương trình hành động, kế hoạch và đề án về
công tác giáo dục lý luận chính trị .......................................................... 52
2.2.2. Chỉ đạo hoạt động của Trường chính trị Nguyễn Văn Linh và các
Trung tâm bồi dưỡng chính trị ở các huyện, thị xã ................................. 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................. 70
Chương 3: NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
CHỦ YẾU....................................................................................................... 72
3.1. Nhận xét tổng quát ............................................................................... 72
3.1.1. Một số thành tựu trong sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác
giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở ............................... 72
3.1.2. Một số hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác
giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở ............................... 80
3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu ................................................................ 84
3.2.1. Hoạch định chủ trương giáo dục lý luận chính trị cần bám sát vào
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, yêu cầu, nhiệm vụ của tỉnh và
đặc điểm của đội ngũ cán bộ cơ sở ......................................................... 84
3.2.2. Phải có sự phối kết hợp của các ban ngành, đoàn thể để tiến hành
công tác giáo dục lý luận chính trị một cách thực chất, tránh hình thức 86
3.2.3. Phải có sự chỉ đạo sát sao, nhạy bén để tạo lập đồng bộ các yếu tố
:
Giáo dục lý luận chính trị
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
KT,VH,XH
:
Kinh tế, văn hóa, xã hội
LLCT
:
Lý luận chính trị
TBCN
:
Tư bản chủ nghĩa
TTBDCT
cảnh khác nhau, Đảng luôn chăm lo đến công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng
viên. Công tác GDLLCT đã góp phần quan trọng làm cho chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng và nền
tảng tinh thần của xã hội; nâng cao tính tự giác chính trị của cán bộ, đảng viên
và các tầng lớp nhân dân trong việc kiên định và quyết tâm thực hiện thắng
lợi mọi chủ trương, đường lối, cương lĩnh chính trị của Đảng.
Ngày nay, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành
được những thành tựu quan trọng. Đất nước đang chuyển sang thời kỳ phát
triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng cơ sở vật chất
cho CNXH. Thực tiễn đó đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt
của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
nam. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
cơ sở lý luận khoa học của cách mạng, nền tảng tư tưởng của Đảng và của
cách mạng Việt Nam. Đó cũng là kết quả và thắng lợi của quá trình tổ chức
giáo dục truyền bá hệ tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng,
trong đó GDLLCT giữ vai trò quan trọng nhằm nâng cao nhận thức chính trị,
4
ý thức tự giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia vào công cuộc đấu
tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là dưới những biến động lớn
về kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới và khu vực, nhất là sau sự sụp đổ của
Liên Xô và các nước Đông Âu, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bên
cạnh mặt tích cực còn có những mặt tiêu cực tác động mạnh mẽ đến đội ngũ
cán bộ, đảng viên và nhân dân; dẫn đến hậu quả là, một số bộ phận không nhỏ
cán bộ chạy theo lợi ích kinh tế, ít quan tâm đến chính trị, một số thoái hóa
về phong cách, lối sống, phai nhạt lý tưởng, thậm chí có người phản bội sự
nghiệp cách mạng làm mất niềm tin trong nhân dân; một bộ phận cán bộ đảng
viên vẫn còn mắc bệnh độc đoán chuyên quyền, phong cách làm việc thiếu
khoa học, thiếu dân chủ... Sự nghiệp đổi mới của nước ta đang đứng trước
Trước tình hình ấy, việc nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
lãnh đạo công tác nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở, đúc rút
kinh nghiệm từ quá trình đó, đang trở thành một yêu cầu cấp thiết. Đó là
những lý do chủ yếu để tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo
công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997
đến năm 2006” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt nam
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Công tác GDLLCT được Đảng ta xác định đây là một trong những công
tác trọng tâm, đặc biệt công tác này ở các địa phương càng có vị trí, vai trò
quan trọng. Do đó Đảng ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách và những
yêu cầu, quy định về trình độ LLCT đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp,
các ngành. Đây là những định hướng quan trọng góp phần nâng cao trình độ
LLCT cho đội ngũ cán bộ.
6
Trong những năm vừa qua, lĩnh vực này đã có nhiều tác giả, nhiều
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, cụ thể:
- Các công trình tham khảo, chuyên khảo
“Thế giới quan khoa học và những vấn đề lý luận của việc xây dựng
thế giới quan khoa học trong xã hội xã hội chủ nghĩa" (1975), V.I.Vaxilenco,
Nxb Matxcova.
“Một số vấn đề về công tác tư tưởng trong tình hình mới” của tác giả
Hữu Thọ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
“Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin" (2010),
GS,TS. Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
“Đổi mới và phát triển - những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2006),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội …
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác
GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2006, từ đó rút ra
một số kinh nghiệm, góp phần đẩy mạnh công tác GDLLCT cho đội ngũ cán
bộ cơ sở ở Hưng Yên thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích hệ thống quan điểm của Đảng và những chủ trương, giải pháp
của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ
sở.
- Làm rõ sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quan điểm của Đảng về
công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở vào thực tiễn địa phương.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở địa phương.
8
- Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh
đạo công tác GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2006.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác GDLLCT cho
đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Luận văn nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Hưng Yên, nhưng có
nghiên cứu ở mức độ nhất định các tỉnh lân cận để so sánh.
- Thời gian: Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
đối với công tác GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2006, có phần liên hệ với
thời gian trước để so sánh.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
đối với công tác GDLLCT, góp phần thực hiện tốt hơn nữa công tác
GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở thời gian tới.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và tuyên truyền về
lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác giáo dục lý luận
cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2001
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tăng cường lãnh đạo công tác giáo
dục lý luận cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2006
Chương 3: Nhận xét tổng quát và kinh nghiệm chủ yếu
10
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2001
1.1. Tỉnh Hưng Yên và công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Hưng Yên trước năm 1997
1.1.1. Vài nét khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử
tỉnh Hưng Yên
Đặc điểm tự nhiên
Hưng Yên nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc châu thổ Đồng Bằng Bắc
Bộ, có tọa độ địa lý từ 20°36′-21°01′ độ vĩ Bắc và 105°53′-106°17′ độ kinh
Đông. Cũng như các tỉnh khác thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên
chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều nắng và có
mùa đông lạnh. Hàng năm có hai mùa nóng và lạnh rõ rệt.
lập gồm tám huyện [35, tr.10]. Sau khi nhập các huyện Văn Lâm, Yên Mỹ,
Mỹ Hào, Văn Giang về thì Hưng Yên có mười huyện như ngày nay [35,
tr.16].
Ngày 26 tháng 01 năm 1968, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị
quyết số 504 – NQ/TVQH phê chuẩn việc hợp nhất hai tỉnh Hải Dương và
Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, đặt tỉnh lỵ tại thị xã Hải Dương [2, tr.12].
Sau gần 30 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương, ngày 06 tháng 11 năm
1996, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việc chia tỉnh Hải Hưng
thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh
Hưng Yên được tái lập, gồm sáu đơn vị hành chính cấp huyện, với 160 xã
phường, thị trấn. Ngày 24 tháng 7 năm 1997, Chính phủ ra Nghị định số
17/CP chia huyện Phủ Tiên thành huyện Phủ Cừ và Tiên Lữ. Ngày 24 tháng
7 năm 1999, Chính phủ duyệt cho hai huyện Châu Giang và Mỹ Văn chia tách
12
thành năm huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ hào, Văn Lâm, Yên Mỹ. Ngày
nay Tỉnh Hưng Yên được phân chia thành 10 đơn vị hành chính bao gồm
thành phố Hưng Yên và 9 huyện; Trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Hưng Yên;
toàn tỉnh có 163 xã, phường, thị trấn (gồm 148 xã, 7 phường, 9 thị trấn).
Hưng Yên là tỉnh khá đông dân, tính đến cuối năm 2004 dân số có
1.089.156 người; lực lượng lao động chiếm hơn 50%; mật độ dân số là 1200
người/km2 [2, tr.13].
Hưng Yên có phố Hiến, xưa là chốn phồn hoa đô thị chỉ đứng sau thủ
đô Hà Nội, vốn là thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài.
Thuyền bè ngược Sông Hồng lên Thăng Long “Kẻ chợ” đều phải dừng ở phố
Hiến đợi giấy phép, tấp nập tầu thuyền của ngoại quốc ra vào buôn bán. Các
nước Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp... Đã dựng nhiều thương điếm làm cho phố
xã càng tấp lập đông vui, đúng như câu ca: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố
Hiến”.
chuyển biến tích cực. Cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư và nâng cấp. Hoạt
động thể dục, thể thao, rèn luyện sức khỏe của nhân dân được chú ý phát
triển. Bộ máy chính quyền các cấp được kiện toàn theo hướng tinh giảm, nâng
cao hiệu quả, hiệu lực điều hành quản lý xã hội.
Kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải
thiện, số hộ nghèo giảm từ 8,54% năm 2001 xuống còn 3% năm 2005 (tương
đương 13% theo tiêu chí mới), tháng 4 năm 2005 đã xóa xong nhà tranh tre
vách đất cho hộ nghèo. Phong trào đền ơn đáp nghĩa và giúp giúp đỡ các gia
đình chính sách khó khăn đạt kết quả cao, góp phần ổn định đời sống các đối
tượng bảo trợ xã hội [12, tr.23]. Diện mạo của Hưng Yên có sự thay đổi căn
bản, tiềm lực và vị thế của tỉnh trong khu vực và cả nước ngày càng được tăng
cường.
Truyền thống lịch sử
14
Người dân Hưng Yên có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động,
đoàn kết, anh dũng trong đấu tranh chống lại sự áp bức bất công của thế lực
phong kiến và kẻ thù xân lược.
Nơi đây là vùng đất địa linh nhân kiệt, sinh ra những con người tài
năng có học vấn uyên thâm được sử sách ca ngợi, nhân dân truyền tụng như
Phạm Ngũ Lão, Lê Như Hổ, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng
Phụng, Dương Phúc Tư, Phạm Công Trứ… có nhiều đóng góp cho quê hương
đất nước. Đó chính là điểm tựa cho lòng tự hào và chiến lược con người của
Hưng Yên trong tương lai [2, tr.22 – 23].
Vùng đất Hưng Yên vốn có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp đánh giặc
giữ nước. Tuy chưa phải là một trung tâm kinh tế mạnh hoặc có lực hút của
một vùng đô hội nhưng với vị trí của mình, mảnh đất này đủ sức chặn đứng
các hướng tấn công của kẻ thù từ biển đông qua cửa Diêm Điền, Ba lạt vào
sông Luộc, Sông Hồng đến Thăng Long và vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ.
mạnh mún, hàng hóa nông nghiệp ít, chất lượng chưa cao, công nghiệp nhỏ
bé, nguồn thu ngân sách ít. Đời sống nhân dân ở một số vùng còn gặp nhiều
khó khăn, hàng vạn người thiếu việc làm,bộ máy tổ chức chưa hoàn thiện, đội
ngũ cán bộ, viên chức còn thiếu chưa đồng bộ, trật tự kỷ cương còn lỏng lẻo,
năng lực lãnh đạo và quản lý, trình độ cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức
chưa đáp ứng được những đòi hỏi của giai đoạn mới, một bộ phận cán bộ,
đảng viên tính chiến đấu giảm sút, suy thoái đạo đức ...
Trụ sở và điều kiện làm việc của các cơ quan còn quá chật chội thiếu
thốn, ngân sách hạn hẹp, phần lớn cán bộ nhân viên thiếu chỗ ở; việc đi lại về
gia đình khó khăn.
Việc chia tỉnh, tái lập tỉnh mới, nhìn chung cán bộ, đảng viên và nhân
dân phấn khởi. Song đây là việc lớn, tác động đến tâm tư, tình cảm, công tác,
16
đời sống của cán bộ, công nhân viên của các nghành, đoàn thể ở tỉnh. Do vậy,
tiếp tục làm tốt công tác tư tưởng nói chung, công tác GDLLCT nói riêng để
mọi người nhận thức đúng đắn việc chia tỉnh thấy hết sức khó khăn, hiểu rõ
thuận lợi, tăng cường đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn ở từng cơ quan, đơn
vị, phát huy những thuận lợi, để sớm ổn định mọi mặt, quyết tâm xây dựng
tỉnh phát triển nhanh hơn [32, tr.1-2].
1.1.2. Công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở
tỉnh Hưng Yên trước năm 1997
Đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Hưng Yên đa số được trưởng thành trong
kháng chiến, trong hoạt động sản xuất, trong thực tế lãnh đạo quản lý, có ý
chí tự lực, tự cường; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức
trong sáng, luôn kiên định lập trường mục tiêu lý tưởng XHCN, quyết tâm
thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Trong những năm trước đổi mới, trước những biến động của tình hình
thế giới, bên cạnh mặt tích cực, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu rèn
viên và bí thư chi bộ cơ sở.
Nhằm tăng cường và thống nhất sự lãnh đạo, quản lý của tỉnh, Thành
ủy và UBND các tỉnh, thành phố đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
ngày 6 tháng 9 năm 1994, Ban Bí thư ra Quyết định số 88 – QĐ/TW về việc
“Thành lập Trường Chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”
(gọi tắt là Quyết định 88) trên cơ sở thống nhất Trường Đảng và Trường
Hành chính hoặc Trường Quản lý Nhà nước của tỉnh, thành phố, gọi là
Trường Chính trị tỉnh, thành phố, có chức năng nhiệm vụ:
- Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, chính quyền và
các đoàn thể nhân dân ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương
đương: trưởng, phó phòng huyện; trưởng, phó, phó trưởng các ban, ngành cấp
tỉnh và cán bộ dự nguồn các chức danh trên).
18
- Bồi dưỡng ngắn hạn các đối tượng trên về LLCT, đường lối chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, về
quản lý hành chính Nhà nước và công tác vận động quần chúng.
- Tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn ở địa phương
[29, tr.230].
Trên cơ sở Quyết định số 88 – QĐ/TW, ngày 6/9/1994 của Ban Bí thư,
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã cụ thể hóa ở địa phương. Ngày 1/1/1995, Trường
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính thức được đổi tên là Trường Chính trị tỉnh
Hải Hưng. Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được thành lập trên cơ sở hợp
nhất Trường Đảng tỉnh Hải Hưng và Trường Hành Chính, theo Quyết định số
11 – QĐ/TU, ngày 01/01/1991 của UBND tỉnh Hải Hưng về việc thành lập
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh Hải Hưng.
Thực hiện nhiệm vụ giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên, những năm
1991 – 1996, Trường Chính trị tỉnh Hải Hưng đã mở được 01 lớp đại học
phố) có nhiệm vụ và tổ chức như sau:
Về nhiệm vụ:
- Tổ chức bồi dưỡng về LLCT, nội dung các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ trên địa bàn huyện( quân, thị xã,
thành phố) không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của trường tỉnh, trước
hết là bí thư chi bộ, trưởng thô, trưởng bản, các đối tượng phát triển đảng
viên, đảng viên mới...
- Tổ chức thông tin khoa học, thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo
viên ở cơ sở để thông qua đó thông tin cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn
huyện.
- Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dưỡng khác xuất phát từ nhu cầu thực
tế của địa phương, do cấp ủy quy định.
20
Về mặt tổ chức:
- Bộ máy TTBDCT có giám đốc (có thể bố trí trưởng Ban Tuyên giáo
kiêm giám đốc trung tâm), giáo vụ, hành chính với biên chế gọn nhẹ không
quá 5 người, điều chỉnh trong số cán bộ hiện có trong biên chế của cơ quan
Đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị (không tăng thêm tổng số biên chế). Các
Trung tâm có đội ngũ giảng viên kiêm chức và có chế độ mới cộng tác viên.
- TTBDCT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc huyện, thị ủy có vị trí tương
đương các phòng, ban của huyện thị, có tài khoản và con dấu riêng. Kinh phí
hoạt động của Trung tâm thuộc ngân sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hằng
năm và dài hạn của Nhà nước [13, tr.1]
Căn cứ vào Quyết định số 100 – QĐ/TW, ngày 3/6/1995, của Ban Bí
thư Trung ương Đảng (khóa VII), Hướng dẫn Liên ban số 08 – HDLB/TCTW
–TTVHTW, ngày 26/8/1995, của Ban Tổ chức – Ban Tư tưởng văn hóa
Trung ương “Về việc tổ chức trung tâm bối dưỡng chính trị cấp huyện”, Ban
thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định số 28 – QĐ/TU, ngày 11/01/1996, “Về việc
hơn, tránh tình trạng “lấn sân” giữa Trường và Trung tâm [9, tr.29].
Nếu như trước đây cả Trường Chính trị và các Trung tâm đều triển khai
nghị quyết của Đảng sau mỗi kỳ Đại hội, mở lớp đối tượng Đảng thì nhiệm vụ
này bây giời chỉ giao cho các TTBDCT huyện, thị xã..
Có thể nói Quyết định 88 và Quyết định số 100 của Ban bí thư đã tạo
một bước ngoặt trong công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở, phân
công, phân nhiệm rõ ràng hơn, tạo điều kiện cho mỗi đơn vị hoạt động có hiệu
quả hơn. Sự ra đời của các TTBDCT cấp huyện theo Quyết định 100 –QĐ/TW
và Quyết định 28 – QĐ/TU đã đáp ứng yêu cầu về thông tin và học tập LLCT
của cán bộ, đảng viên cơ sở ngày càng tăng lên, được các địa phương hoan
nghênh đón nhận và nhanh chóng triển khai.
22
Như vậy, nhờ sự định hướng tích cực của Tỉnh ủy, sự chủ động sáng
tạo của các cấp ủy, Ban giám đốc Trường Chính trị tỉnh và Ban giám đốc
Trung tâm các huyện, thị, công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh
Hưng Yên trước năm 1997 đã thu được những kết quả nhất định. Những kết
quả đó, mặc dù còn nhiều hạn chế do những nguyên nhân chủ quan và khách
quan khác nhau, song đã góp phần quan trọng thực hiện những mục tiêu và
nhiệm vụ chính trị mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
1.2. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác giáo
dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2001
1.2.1. Đặc điểm tình hình và yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục
lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Hưng Yên
Cuối thập kỷ 90 (XX), tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có
những biến động với cả thuận lợi và khó khăn. Liên Xô và các nước XHCN
Đông Âu sụp đổ khiến CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó
không làm thay đổi tính chất của thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các