Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác giáo
dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ sở từ
năm 1997 đến năm 2006
Dương Thị Huyền
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Luận văn Thạc sĩ ngành:
Lịch sử ĐCSVN; Mã số: 60 22 56 Người hướng dẫn: PGS. TS. Hồ Khang Năm bảo
vệ: 2012
Abstract: Phân tích hệ thống quan điểm của Đảng và những chủ chương, giải pháp của
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác giáo dục lý luận chính trị (GDLLCT) cho đội
ngũ cán bộ cơ sở. Làm rõ sự vân dụng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quan điểm của Đảng
về công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở vào thực tiễn địa phương. Đánh giá những
thành tựu, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong công tác
GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở địa phương. Đúc kết những kinh nghiệm từ quá
trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2006.
Keywords: Lịch sử Đảng; Giáo dục lý luận chính trị; Đội ngũ cán bộ; Đường lối lãnh đạo;
Đảng bộ tỉnh
Content MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên là một bộ phận của công tác tư tưởng, lý luận
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lãnh đạo thực hiện công tác GDLLCT là một khâu quan trọng
trong lãnh đạo công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Công tác tư tưởng muốn làm tốt trước hết
phải làm tốt công tác GDLLCT. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì không có
phong trào cách mạng” và “chỉ Đảng nào có lý luận tiên phong hướng dẫn, thì mới có khả năng
làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong " .
Trải qua gần 80 năm hoạt động và trưởng thành, trong các thời điểm, hoàn cảnh khác
nhau, Đảng luôn chăm lo đến công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên. Công tác GDLLCT đã
góp phần quan trọng làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư
tưởng của Đảng và nền tảng tinh thần của xã hội; nâng cao tính tự giác chính trị của cán bộ, đảng
viên và các tầng lớp nhân dân trong việc kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi chủ
trương, đường lối, cương lĩnh chính trị của Đảng.
Ngày nay, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những
kinh viện, giáo điều, điều hành công tác lãnh đạo, quản lý cũng như xử lý công việc một cách máy
móc, kém hiệu quả, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tổ chức thực tiễn ở địa phương.
Trước tình hình ấy, việc nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công
tác nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở, đúc rút kinh nghiệm từ quá trình đó, đang
trở thành một yêu cầu cấp thiết. Đó là những lý do chủ yếu để chúng tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997
đến năm 2006" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt nam
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Công tác GDLLCT được Đảng ta xác định đây là một trong những công tác trọng tâm,
đặc biệt công tác này ở các địa phương càng có vị trí, vai trò quan trọng. Do đó Đảng ta đã đưa ra
nhiều chủ trương, chính sách và những yêu cầu, quy định về trình độ LLCT đối với cán bộ lãnh
đạo, quản lý các cấp, các ngành. Đây là những định hướng quan trọng góp phần nâng cao trình độ
LLCT cho đội ngũ cán bộ.
Trong những năm vừa qua, lĩnh vực này đã có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, cụ thể:
-
Các công trình tham khảo, chuyên khảo
“Thế giới quan khoa học và những vấn đề lỷ luận của việc xây dựng thế giới quan khoa
học trong xã hội xã hội chủ nghĩa" (1975), V.I.Vaxilenco, Nxb Matxcova.
“Một số vấn đề về công tác tư tưởng trong tình hình mới” của tác giả Hữu Thọ, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
“Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênirì" (2010), GS,TS. Hoàng
Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
“Đổi mới và phát triển - những vấn đề lỷ luận và thực tiễn” (2006), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội ...
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Phân tích hệ thống quan điểm của Đảng và những chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên đối với công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
-
Làm rõ sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quan điểm của Đảng về công tác
GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở vào thực tiễn địa phương.
-
Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên công
tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở địa phương.
-
Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác
GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2006.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ
sở của tỉnh.
4.2.
-
GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2006; những báo cáo tổng kết thực tiễn công tác GDLLCT của
Ban tư tưởng - văn hóa Trung ương và các cơ quan có liên quan.
5.3.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn là kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp
logic để làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác GDLLCT cho đội ngũ
cán bộ cơ sở. Ngoài ra, luận văn còn kết hợp phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh để
dựng lại bức tranh lịch sử về công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên từ
năm 1997 đến năm 2006 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh. Để luận giải và rút ra những kinh
nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn phục vụ hiện tại, luận văn sử dụng chủ yếu phương
pháp logic - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
-
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác GDLLCT cho đội ngũ
cán bộ cơ sở (1997 - 2006) trên cơ sở đó nêu rõ những thành tựu và hạn chế về sự lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
-
Rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác
GDLLCT, góp phần thực hiện tốt hơn nữa công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở
thời gian tới.
-
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và tuyên truyền về lịch sử Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên thời kỳ đổi mới.
•
CT
•
sở tỉnh Hưng Yên trước năm 1997
1.1.1.
Yên
Vài nét khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử tỉnh Hưng
Đặc điểm tự nhiên
Hưng Yên có vị trí địa lý khá quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và
tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Hưng Yên, với đặc trưng của một tỉnh đồng bằng, đất đai trù phú, không có đồi, núi và
biển; địa hình tương đối bằng phẳng, tập đoàn cây trồng và vật nuôi đa dạng, toàn bộ diện tích
trên đều có khả năng khai thác và phát triển sản xuất nông nghiệp. Thiên nhiên, đất đai sông nước
đã ban tặng cho người Hưng Yên những sản vật quý giá.
Đặc điểm kinh tế - xã hội
Sau gần 30 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương, ngày 06 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khóa
IX kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việc chia tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên.
Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập, gồm sáu đơn vị hành chính cấp huyện,
với 160 xã phường, thị trấn.
Hưng Yên là tỉnh khá đông dân, tính đến cuối năm 2004 dân số có 1.089.156 người; lực
lượng lao động chiếm hơn 50%; mật độ dân số là 1200 người/km 2 [25, tr.13].
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng
hiện nay, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên tiếp tục phát huy truyền thống văn hiến cách mạng,
thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết tâm phấn đấu xây dựng Hưng Yên thành một
tỉnh giàu đẹp văn minh. Bên cạnh việc phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục
các huyện trong tỉnh.
Căn cứ vào Quyết định số 100 - QĐ/TW, ngày 3/6/1995, của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khóa VII), Hướng dẫn Liên ban số 08 - HDLB/TCTW -TTVHTW, ngày 26/8/1995, của Ban Tổ
chức - Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương “Về việc tổ chức trung tâm bối dưỡng chính trị cấp
huyện”, Ban thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định số 28 - QĐ/TU, ngày 11/01/1996, “Về việc thành
lập trung tâm bối dưỡng chính trị cấp huyện, thị xã” [344, tr. 1], theo đó, từ ngày 01/02/1996, các
huyện, thị xã đều thành lập TTBDCT trên cơ sở nâng cấp Trung tâm giáo dục chính trị (còn gọi là
trường Đảng) huyện, thị ủy trước đây.
Như vậy, nhờ sự định hướng tích cực của Tỉnh ủy, sự chủ động sáng tạo của các cấp ủy,
Ban giám đốc Trường Chính trị tỉnh và Ban giám đốc Trung tâm các huyện, thị, công tác
GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Hưng Yên trước năm 1997 đã thu được những kết quả
nhất định. Những kết quả đó, mặc dù còn nhiều hạn chế do những nguyên nhân chủ quan và
khách quan khác nhau, song đã góp phần quan trọng thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ chính
trị mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
1.2.Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công tác giáo dục lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2001
1.2.1.
Đặc điểm tình hình và yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Hưng Yên
Cuối thập kỷ 90 (XX), tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có những biến động với cả
thuận lợi và khó khăn. Yêu cầu đặt ra lúc này là phải chủ động nắm bắt thời cơ, vươn lên phát
triển nhanh và vững chắc; đồng thời, luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy
cơ, kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, đảm bảo phát triển đúng hướng.
Trong những năm Hưng Yên tiến hành đổi mới, đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Hưng Yên
đã có sự trưởng thành về nhiều mặt. Họ đã bước đầu làm quen với cơ chế mới, mạnh dạn dám
nghĩ, dám làm, đã có sự nhạy cảm về chính trị, tư duy chính trị ngày càng năng động nhạy bén,
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ cơ sở của tỉnh
Triển khai thực hiện chủ trương, nghị quyết, chương trình hành động được đề ra trong
nhiệm kỳ 1997 - 2000, Tỉnh ủy Hưng Yên tập trung chỉ đạo Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh,
TTBDCT huyện, thị xã thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ.
Tỉnh ủy chỉ đạo Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh và TTBDCT huyện, thị nhanh chóng
tiến hành những công tác sau:
Xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị để đáp ứng yêu cầu của công tác
GDLLCT.
Củng cố, kiện toàn bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, báo cáo viên, giảng viên cho
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh và các TTBDCT đáp ứng yêu cầu GDLLCT trong tình hình
và điều kiện mới.
Quán triệt các chủ trương, Nghị quyết của Đảng về công tác GDLLCT trong quá trình
thực hiện công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
Bên cạnh đó, Tỉnh ủy cũng chỉ đạo các huyện tuyển chọn cán bộ cử đi đào tạo, bồi dưỡng
LLCT tại TTBDCT và Trường Chính trị tỉnh.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, xác định rõ mục tiêu, đối tượng đào tạo, với điều kiện và
khả năng hiện có, những năm 1997-2001, công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở tại Trường
Chính trị Nguyễn Văn Linh, TTBDCT đã thu được những kết quả hết sức coi trọng. Những kết
quả đó do nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản và quan trọng nhất là các nguyên nhân chủ yếu sau:
-
Sự quan tâm chỉ đạo kịp thời, đúng đắn của Tỉnh ủy Hưng Yên và các huyện, thị.
-
Sự quan tâm đúng mức của UBND và cơ quan hữu quan (Ban tổ chức, Sở tài chính, Sở
xây dựng, các huyện, thị)
-
Sự quan tâm của một số cấp ủy (Huyên ủy, Đảng ủy xã) đến công tác GDLLCT cho đội
ngũ cán bộ cơ sở chưa đúng mức;
-
Việc đổi mới chương trình giảng dạy của Học viện còn chậm.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Sau khi tái lập tỉnh, mặc dù còn nhiều khó khăn và bộn bề những công việc phải giải
quyết, song quán triệt, vận dụng quan điểm của Đảng CSVN về tăng cường công tác GDLLC cho
cán bộ, đảng viên, Tỉnh ủy Hưng Yên đã đưa ra những chủ trương, biện pháp, giải pháp để thực
hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII), không ngừng nâng cao chất lượng công tác GDLLC
cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
Tỉnh ủy đã chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, các
TTBDCT huyện, thị từ cơ cấu tổ chức bộ máy, hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị
đồ dùng giảng dạy, đến xây dựng đội ngũ giảng viên, đổi mới phương pháp giảng dạy và thực
hiện tốt nội dung đào tạo. Nhờ những nỗ lực của Tỉnh ủy, sự phối hợp của các ban, ngành liên
quan và của chính các cơ sở đào tạo, nên chất lượng công tác GDLLCT đã được nâng lên một
bước. Công tác GDLLCT đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, ý thức pháp luật, kiến thức
kinh tế, quản lý Nhà nước cho đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh, làm cho đội ngũ này được nâng cao
năng lực, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Bên cạnh đó, do những nguyên nhân khách quan, chủ quan, công tác GDLLCT vẫn không
tránh khỏi một số hạn chế nhất định. Phát huy thành công, nhận thức hạn chế và có phương hướng
khắc phục là nội dung công tác mà Tỉnh ủy Hưng Yên từng bước thực hiện, để tiếp tục đẩy mạnh
công tác GDLLCT ở giai đoạn tiếp theo.
Chương 2
hình thực tiễn địa phương. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (12/2000) đã xác định mục
tiêu tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng Hưng Yên thành tỉnh
giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chú trọng trước hết là nhiệm vụ “nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng và trình độ trí tuệ
của Đảng bộ” và công tác cán bộ trên tinh thần đảm bảo sự thống nhất về chính trị và tư tưởng
trong toàn Đảng bộ, tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ,
Báo cáo kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Nghị quyết
Đại hội của Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng kế hoạch kiện toàn tổ
chức và đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng ở các cấp, đồng thời, sắp xếp, củng cố TTBDCT
các huyện, thành ủy theo chủ trương của Trung ương và xây dựng, thực hiện kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ trong quy hoạch nâng cao trình độ nhận thức, rèn
luyện trong thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm.
Tháng 2- 2006, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên được tổ chức, một lần nữa
khẳng định: Cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng, nhằm nâng cao bản
lính chính trị, rèn luyện lối sống cho cán bộ, đảng viên để họ nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên CNXH, nội dung và nhiệm vụ đẩy mạnh CNH,
HĐH ở địa phương, tạo sự thống nhất trong Đảng bộ và đồng thuận trong xã hội. Đại hội Đại biểu
Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: 1). Đổi mới nội dung và phương pháp
giảng dạy, học tập LLCT, chuyên môn nghiệp vụ theo hướng nâng cao thiết thực, hiệu quả, phù
hợp đối tượng; 2). Cải tiến cách thức tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghị quyết của Đảng, tiến
hành các đợt sinh hoạt chính trị, bảo đảm kết quả sát thực, đi vào cuộc sống. Đại hội cũng xác
định mục tiêu cụ thể là phấn đấu đến năm 2010, 100% cán bộ thuộc diện tỉnh quản lý có trình độ
chuyên môn từ đại học, LLCT từ cao cấp trở lên, trong đó có 7 - 8% thạc sỹ, tiễn sỹ; có trình độ
ngoại ngữ tin học đáp ứng được yêu cầu hiện nay
Nhìn chung, trong nhiệm kỳ 2001- 2006, đặt trong mục tiêu xây dựng, củng cố bản lĩnh
chủ trương, sự thống nhất trong Đảng bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ tỉnh đáp ứng về số lượng, chất
lượng và mục tiêu tổng quát của toàn tỉnh, chủ trương của Đảng bộ tỉnh về công tác GDLLCT có
bước phát triển, theo hướng thiết thực, gắn bó và bám sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
2.2.Đảng bộ tỉnh Hưng chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục lý luận chính trị cho
CT •
(khóa IX) về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lỷ luận trong tình hình mới”. Chương trình
hành động nhấn mạnh tầm quan trọng, sự cần thiết phải: Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước trong toàn Đảng bộ và toàn nhân dân Hưng Yên; thứ hai, đấu tranh chống
các quan điểm sai trái của phần tử cơ hội chính trị, chủ động tiến công làm thất bại “âm mưu diễn
biến hòa bình” của các thế lực thù địch; thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tư tưởng;
đào tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới
Triển khai Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, Ban
Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lỷ
giai đoạn 2002-2005, số 39-KH/TU, ngày 15/10/2002. Đây là kế hoạch chuyên biệt về công tác tổ
chức và cán bộ với mục tiêu: “Nâng cao năng lực và trình độ về mọi mặt của đội ngũ cán bộ
đương chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị ở các cấp có phẩm chất
chính trị, đạo đức và năng lực quản lý điều hành, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”.
Thực hiện Chương trình hành động số 35- CTr/TU, ngày 27/6/2002, của Tỉnh ủy về việc
thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX), ngày 18/10/2002, Ban Thường vụ Tỉnh
ủy xây dựng Đề án: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn”. Đề án xác
định rõ mục tiêu, nội dung, giải pháp.
Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về việc “đầu tư thích đáng
cho việc đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú trở thành cán bộ chủ chốt” và “dành kinh phí thỏa
đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ cán bộ cơ sở” vào điều kiện cụ thể của tỉnh, đầu năm
2002, UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành Quy định “Về chế độ phụ cấp cho cán bộ xã phường,
thị trấn được cử đi học và khuyến khích ưu đãi tài năng”, nhằm khuyến khích, động viên, thu hút
cán bộ cơ sở đi học nâng cao trình độ nói chung, trình độ chính trị nói riêng.
Như vậy, những chương trình, kế hoạch, đề án trên đây đã xác định những cơ sở căn bản,
quan trọng, dựa trên đó, trường Chính trị, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị có những định
hướng và nội dung cụ thể, rõ ràng để xác định hoạt động và nội dung giảng dạy LLCT cho đội
ngũ cán bộ cấp cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng của công tác GDLLCT lên thêm một bước.
2.2.2.
trọng đến kiện toàn bộ máy tổ chức, cơ cấu đội ngũ cán bộ, chất lượng đội ngũ giảng viên và đổi
mới nội dung, chương trình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy các cấp, mà trực tiếp là Tỉnh ủy,
Huyện ủy, sự nỗ lực của Trường chính trị Nguyễn Văn Linh và TTBDCT các huyện, thị, công tác
GDLLCT đã thu được những kết quả đáng ghi nhận, đưa sự nghiệp GDLLCT lên một bước phát
triển mới, góp phần thúc đẩy kinh - xã hội của tỉnh phát triển; góp phần quan trọng thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong công tác GDLLCT vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất
định, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Do vậy, đúc kết kinh nghiệm
phục vụ hiện tại trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân là hết
sức cần thiết.
Chương 3
NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU
3.1. Nhận xét tổng quát
3.1.1.
Một số thành tựu trong sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác giáo dục lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở
Một là, quán triệt, vận dụng những quan điểm, chủ trương của Đảng CSVN về công tác
GDLLCT, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên luôn quan tâm sâu sát lãnh đạo, quản lý công tác GDLLCT, đã
có nhiều nghị quyết, quyết định, chính sách đúng đắn kịp thời, phù hợp với tình hình nhằm định
hướng cho công tác GDLLCT của tỉnh.
Hai là, Đảng bộ tỉnh đã gắn công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở với nhiệm
vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, từ đó có những chủ trương, giải pháp phù hợp.
Ba là, công tác GDLLCT cho cán bộ cơ sở thuộc diện Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh
và TTBDCT đảm nhận đã được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm.
Bốn là, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Hưng Yên, Ban giám đốc của Nhà trường và Ban
GDLLCT ở giai đoạn tiếp theo.
3.2.Những kinh nghiệm chủ yếu
Từ những kết quả đạt được và những mặt hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên đối với công tác GDLLCT cho cán bộ cơ sở những năm 1997 - 2006, có thể rút ra một
số kinh nghiệm chủ yếu sau:
3.2.1.
Hoạch định chủ trương giáo dục lý luận chính trị cần bám sát vào quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam, yêu cầu, nhiệm vụ của tỉnh và đặc điểm của đội ngũ cán bộ cơ
sở
Để lãnh đạo công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ nói chung, cho đội ngũ cán bộ cơ sở
nói riêng, Đảng bộ tỉnh Hưng yên đã luôn luôn bám sát và quán triệt sâu sắc đường lối, các quan
điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác GDLLCT; tập trung trí tuệ vận
dụng sáng tạo, phù hợp hoàn cảnh điều kiện cụ thể của địa phương; đề ra những chính sách, giải
pháp đúng đắn, sát thực tiễn, kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện, đưa nghị quyết vào thực tiễn
cuộc sống.
Quán triệt, vận dụng quan điểm về GDLLCT cho cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ của tỉnh; đồng
thời, nắm bắt đặc thù của đội ngũ cán bộ cơ sở, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã đề ra những chủ
trương, giải pháp, biện pháp thực hiện công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trên định
hướng GDLLCT không chỉ nhằm nâng cao nhận thức chính trị, năng lực chỉ đạo
hoạt động thực tiễn, mà thông qua đó phải giáo dục rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cho
cán bộ. Đây chính là yêu cầu hết sức quan trọng trong việc GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
Chỉ trên cơ sở học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần quan
điểm,tư tưởng Hồ Chí
Minh, cán bộ mới có thể có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn.
3.2.2.
phải gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành
Phương pháp và hình thức GDLLCT phải phù hợp với trình độ học vấn, khả năng nhận
thức của cán bộ
Xây dựng đội ngũ giảng viên vững mạnh và từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Để tăng cường, đẩy mạnh công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên đã quán triệt, vận dụng những quan điểm, chủ trương của Đảng CSVN về công tác
GDLLCT, đồng thời, luôn quan tâm sâu sát lãnh đạo, quản lý công tác GDLLCT, đã có nhiều
nghị quyết, quyết định, chính sách đúng đắn kịp thời, phù hợp với tình hình nhằm định hướng cho
công tác GDLLCT của tỉnh. Bên cạnh đó, các chương trình, kế hoạch hành động, đề án phát
triển ... được Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo xây dựng đã tạo ra những hiệu quả nhất định đối với công
tác GDLLCT của tỉnh, là cơ sở pháp lý, những định hướng nâng cao chất lượng GDLLCT.
Nhờ những chủ trương và sự chỉ đạo kịp thời, đúng đắn của Tỉnh ủy đối với công tác
GDLLCT, mà công tác này đã đạt được những kết quả quan trọng cả về quy mô trường lớp, chất
lượng đào tạo, xây dựng đội ngũ giảng viên, đổi mới nội dung, chương trình, công tác quản lý cán
bộ và học viên.
Bên cạnh đó, trong sự lãnh đạo của Đảng bộ vẫn không thể tránh khỏi một số tồn tại nhất
định. Những hạn chế đó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của công tác GDLLCT cho đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở
Từ những ưu, nhược điểm nói trên trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác
GDLLCT, cũng như những thành công, hạn chế trong lĩnh vực này, để phục vụ cho việc thực hiện
hiện tốt công tác này trong thời gian tới, các kinh nghiệm quan trọng được đúc rút là: Hoạch định
chủ trương GDLLCT cần bám sát vào quan điểm của Đảng CSVN, yêu cầu nhiệm vụ của tỉnh và
đặc điểm của đội ngũ cán bộ cơ sở; phải có sự phối kết hợp của các sở, ban ngành, đoàn thể để
thực hiện công tác GDLLCT một cách thực chất, tránh hình thức; phải có sự chỉ đạo sát sao, nhạy
bén để tạo lập đồng bộ các yếu tố cho việc nâng cao chất lượng GDLLCT.
KẾT LUẬN
References
1. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
trong sạch vững mạnh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
2.
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng yên (1998), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, tập
I,
3.
Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
Ban
chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng yên (1998),
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, tập
II, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
4.
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), Báo cáo tổng kết công tác giáo dục lỷ luận
chính trị.
5.
Ban
Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (1999),
Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện
10.
Đảng bộ tỉnh Hưng yên (1995), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứXIV
11.
Đảng bộ tỉnh Hưng yên (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứXV
12.
Đảng bộ tỉnh Hưng yên (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứXVI
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành trung ương ( 6/ 3/ 1995), Quyết định về việc tổ
chức trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, Số 100 - QĐ/ TW
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung
ương khóaVIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ chính trị (12/5/1999), Quy định chế độ học tập lý luận
chính trị trong Đảng, số 54 QĐ / TW,
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (lưu hành nội bộ)
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
20. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Về Đường lối giáo dục xã hội chủ nghĩa, Nxb sự thật,
Hà Nội.
21. Đảng cộng sản Việt Nam (1999), Nghị quyết hội nghị Ban chấp Hành Trung ương 6
35. Tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 175 năm thành lập tỉnh Hưng Yên (1831
- 2006)và
10 năm tái lập tỉnh
36. Tỉnh uỷ Hưng Yên số 349 - QĐ/TU, Quyết định ban hành đề án công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn
37. Tỉnh ủy Hưng Yên (27/6/2002), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết trung ương
5 khóa IX, Hưng Yên
38. Tỉnh ủy Hưng Yên (18/ 10/ 2002), Đề án công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở xã,
phường, thị trấn... , Hưng Yên
39. Tỉnh ủy Hưng Yên (18 /10/ 2002), Đề án về đổi mới nâng cao hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở, Hưng yên.
40. Tỉnh uỷ Hưng Yên (2005), Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội XVI của Đảng bộ tỉnh
41. Tỉnh ủy Hưng Yên (1997), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 3
(khóa VIII)
42. Tỉnh ủy Hải Hưng, Quyết định số 28 - QĐ/TU, ngày11/01/1996 “Về việc thành lập
TTBDCT cấp huyện, thị xã
43. Tỉnh uỷ Hưng Yên, số 23 - KH/TU, Ngày 30/12/1999, Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lỷ
luận chính trị cho cán bộ đảng viên. (Triển khai Chương trình hành động của Tỉnh uỷ thực
hiện Nghị quyết TW6 (lần 2) và Quy định 54 - QĐ/TW của Bộ Chính Trị)
44. Tỉnh uỷ Hưng Yên, NGhị quyết số 10 - QĐ/TU của Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ
tỉnh Về chương trình kế hoạch công tác cán bộ nhằm thực hiện NQTW3 (khoáVIII) về
“Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
45. Tỉnh uỷ Hưng Yên, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá
IX) số 35 - CTR/TU, ngày 27/6/2002 “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính
trị cơ sở xã, phường, thị trấn”
46. Tỉnh uỷ Hưng yên, Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2002 - 2005, số 39 KH/TU, ngày 15/10/2002.
47. Tỉnh ủy Hưng yên (2003), Báo cáo kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội
IX của Đảng và Nghị quyết Đại hôi Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, số 47 - BC/TU
59. Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, Tỉnh Hưng Yên, Báo cáo tổng kết công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ cơ sở các năm (2000 - 2003)
60. Trần Ngọc Uẩn (2005), Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo
cấp cơ sở ở trường chính trị, Tạp chí Lịch sử Đảng