Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở việt nam hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------*----------

NGUYỄN THỊ HẰNG

PHÁT TRIỂN TƢ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------*----------

NGUYỄN THỊ HẰNG

PHÁT TRIỂN TƢ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu ..................................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn .............................................................. 7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................... 8
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ...................................................... 8
8. Kết cấu của luận văn ...................................................................................... 8
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TƢ DUY LÝ
LUẬN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY ........................................................................................................ 9
1.1. Khái niệm tƣ duy, tƣ duy lý luận ................................................................ 9
1.1.1. Tƣ duy ...................................................................................................... 9
1.1.2. Tƣ duy lý luận ........................................................................................ 14
1.2. Tƣ duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam
hiện nay ............................................................................................................ 20
1.2.1. Cán bộ lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay .... 20
1.2.2. Tầm quan trọng của việc phát triển tƣ duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay ......................................................... 24
1.3. Các nhân tố tác động đến phát triển tƣ duy lý luận của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay ......................................................... 39
CHƢƠNG 2. PHÁT TRIỂN TƢ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP ...................................................................................................... 56
2.1. Thực trạng phát triển tƣ duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ
sở ở Việt Nam hiện nay ................................................................................... 56

ta phải xây dựng đƣợc một đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phần thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lƣợc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [28,
tr.66], đã cho thấy đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung và lãnh đạo cấp cơ sở
nói riêng có vai trò quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng và phát triển
đất nƣớc, đặc biệt là năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ này có ý
nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa
và phát triển đất nƣớc hiện nay.
Cấp cơ sở là cấp đầu tiên trong bộ máy hành chính ở nƣớc ta, nhƣng lại
là cấp gần với dân nhất, trực tiếp đƣa các đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc đi vào cuộc sống của nhân dân. Đội ngũ cán bộ lãnh
đạo cấp cơ sở có kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, năng lực vận dụng
đƣờng lối, chủ trƣơng, quan điểm đổi mới của Đảng vào việc xây dựng các
chƣơng trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở cho phù hợp; rút ra
các bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khái các chƣơng trình, kế hoạch
ở cơ sở. Bên cạnh đó, thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cấp cơ sở cũng
còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt là về trình độ tƣ duy lý luận thấp; còn
nhiều yếu kém trong tổng kết thực tiễn; bệnh chủ quan, giáo điều, dập khuôn
1


máy móc, tôn sùng kinh nghiệm; mới dừng lại ở tƣ duy mạnh về triển khai,
vận dụng mà chƣa nhạy bén và sáng tạo trong các hoạt động ở cấp cơ sở…
Nguyên nhân của những hạn chế này thì do rất nhiều nguyên nhân khác nhau,
có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong đó có một số nguyên nhân
cơ bản: trình độ văn hóa, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ các các kỹ năng phục vụ cho công tác lãnh đạo quản lý của cán bộ
còn thấp; công tác của đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập, thiếu quy hoạch và
sử dụng còn nhiều bất cập; kinh tế, văn hóa, xã hội ở các cơ sở còn kém phát
triển; trình độ dân trí thấp; cơ sở vật chất và các phƣơng tiện phục vụ công tác
ở cơ sở còn nhiều thiếu thốn, chƣa đƣợc đầu tƣ đồng bộ.

công cuộc xây dựng đất nƣớc hiện nay.
Vậy, làm gì và làm nhƣ thế nào để phát triển tƣ luy lý luận cho đội ngũ
cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay là vấn đề đang đặt ra cấp thiết
cả về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn. Đây cũng là vấn đề hết sức quan trọng
đối với chiến lƣợc phát triển đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nƣớc trong thời
kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển tư
duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay” làm
đề tài nghiên cứu của luận văn Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tƣ duy, tƣ duy lý luận đƣợc nghiên cứu từ rất sớm, đặc biệt là từ
sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, trong đó có nhiều các nhà
lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này
và cũng có nhiều công trình khoa học đƣợc công bố, xuất bản thành sách,
đăng tải trên các báo, tạp chí, luận văn, luận án, các hội thảo khoa học. Vấn
đề tƣ duy, tƣ duy lý luận đã đƣợc nhiều các tác giả trong và ngoài nƣớc quan
tâm nghiên cứu cũng nhƣ đề cập đến dƣới nhiều góc độ khác nhau. Ở nƣớc
ta, nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều tác phẩm, bài viết trên tạp chí, một số
luận án đã đề cập đến vấn đề đổi mới tƣ duy, nhất là tƣ duy kinh tế, vấn đề
nâng cao năng lực tƣ duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, có tác giả lại tìm hiểu
về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn hoặc gắn nó với một vấn đề cụ thể
3


nào đó, luận giải cho sự cần thiết của việc đổi mới tƣ duy lý luận. Trong đó
có một số công trình cơ bản nhƣ:
Vấn đề tƣ duy lý luận và đổi mới tƣ duy lý luận: “Đổi mới tư duy lý luận
và công tác xây dựng Đảng” của tác giả Hoàng Tùng, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1987. Trong đó tác giả tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu về: đổi mới
tƣ duy là tiền đề khắc phục sự chậm trễ về lý luận; đổi mới công tác xây dựng

luận của Đảng ta trong bối cảnh thời đại, trong mối quan hệ với toàn cầu hóa
và những thách thức đặt ra, cũng nhƣ trong mối tƣơng quan giữa chủ nghĩa
Mác - Lênin và thời đại hiện nay.
“Qúa trình đổi mới tƣ duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay”, do tập thể
tác giả Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Chủ
biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006. Tác phẩm đã đề cập đến nhiều vấn
đề liên quan tới quá trình đổi mới và phát triển ở nƣớc ta, góp phần làm sáng tỏ
quá trình đổi mới tƣ duy lý luận của Đảng, nhất là nhận thức lý luận của Đảng
về Chủ nghĩa xã hội và con đƣờng đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
“Đổi mới tƣ duy lý luận - tƣ duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp
chí Triết học, số 1, 1988. Tác giả đã đề cập vấn đề đổi mới tƣ duy lý luận đã
đƣợc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra, cũng nhƣ tính cấp thiết của
vấn đề đổi mới đƣợc thông qua, để thấy đƣợc vai trò của tƣ duy lý luận trong
sự nghiệp đổi mới đất nƣớc. Đây là một nhân tố không nhỏ trong việc định
hƣớng các chiến lƣợc, sách lƣợc phát triển đất nƣớc.
“Tiếp tục đổi mới tƣ duy, nâng cao tƣ tƣởng trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” của GS. Đặng Xuân Kỳ, đăng trên Tạp chí Đảng cộng sản,
số 8, 4/1999. Tác giả cho rằng: quá trình đổi mới tƣ duy lý luận đã có những
biến đổi, song cần phải tiếp tục đổi mới hơn nữa bởi lý luận của chúng ta còn
nhiều chỗ lạc hậu so với thực tiễn. Đổi mới không phải chỉ là đƣa ra những
nhận thức, phƣơng pháp tƣ duy khác trƣớc mà ở đây đổi mới có nghĩa là cái
mới đã bao hàm cái đúng đắn đã có trƣớc kia, loại bỏ những sai lệch, lỗi thời
của cái cũ và bổ sung những gì mới mẻ, phản ánh đúng thực tiễn, phù hợp với
quy luật khách quan của sự phát triển xã hội.

5


Vấn đề về thực trạng tƣ duy lý luận ở nƣớc ta và đổi mới tƣ duy lý luận
đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu nhƣ: Tác giả Lê Hữu

phần vào việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở trong
sự nghiệp đổi mới đất nƣớc hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
*Mục đích:
Làm rõ vấn đề phát triển tƣ duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở
Việt Nam hiện nay.
*Nhiệm vụ:
- Trình bày một số vấn đề lý luận chung về tƣ duy lý luận, phát triển tƣ
duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng phát triển tƣ duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển tƣ duy lý luận cho
cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tuợng nghiên cứu: Tƣ duy lý luận và phát triển tƣ duy lý luận cho
cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở.
* Phạm vi nghiên cứu:
Cán bộ lãnh đạo và phát triển tƣ duy lý luậncho cán bộ lãnh đạo là những
vấn đề lớn, có phạm vi rộng và nhiều vấn đề liên quan rất phức tạp. Vì vậy, trong
luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một mảng vấn đề cụ thể là phát triển tƣ
duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay.
- Về thời gian, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu phát triển tƣ duy lý
luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở từ năm 1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên lập truờng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đƣờng lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về
cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên
cứu đã công bố làm cơ sở thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận văn.

7

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TƢ DUY LÝ LUẬN
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
1.1. Khái niệm tƣ duy, tƣ duy lý luận
1.1.1. Tư duy
Trong quá trình hoạt động thực tiễn con ngƣời đồng thời tiến hành hoạt
động nhận thức thế giới khách quan. Trong quá trình đó, con ngƣời muốn cải
tạo sự vật, hiện tƣợng đòi hỏi phải nhận thức đƣợc bản chất, quy luật của các
mối quan hệ nội tại, mối quan hệ giữa các sự vật hiện tƣợng với nhau và giữa
chúng với thế giới khách quan. Qúa trình nhận thức này, đòi hỏi chủ thể phải
trải qua hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Trong đó,
nhận thức cảm tính là sự phản ánh bề ngoài của các sự, hiện tƣợng, cung cấp
các cứ liệu làm cơ sở cho nhận thức lý tính. Chính từ những phản ánh bề
ngoài, trực quan đơn lẻ của giai đoạn nhận thức cảm tính đem lại, thông qua
những thao tác tƣ duy bằng khái niệm, phán đoán, suy lý, chủ thể nhận thức
có thể đi sâu phân tích và khám phá bản chất của thế giới khách quan. Qúa
trình này đƣợc lặp đi lặp lại dựa trên sự kiểm nghiệm của thực tiễn đối với tri
thức lý luận, giúp cho tƣ duy không ngừng hoàn thiện và phát triển từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Tƣ duy là một thuộc tính đặc biệt của con ngƣời, thể hiện trình độ nhận
thức và năng lực hoạt động thực tiễn của chủ thể. Tƣ duy chính là vấn đề cơ
bản nhất của nhận thức luận. Vì vậy, tƣ duy đã trở thành đối tƣợng nghiên
cứu của các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ: nhận thức
luận, lôgic học, tâm lý học, sinh lý học… Trong mỗi lĩnh vực khoa học, tƣ
duy lại đƣợc tiếp cận dƣới góc độ khác nhau cụ thể là: trong nhận thức luận
nghiên cứu tƣ duy trong quá trình nhận thức với các quan hệ tri thức - hiện
thực, chủ thể - khách thể; lôgic học lại nghiên cứu các quy luật, hình thức và
9


10


hội loài ngƣời tƣ duy đã xuất hiện và phản ánh thực tại một cách gián tiếp,
phát hiện những mối quan hệ hợp quy luật của thực tiễn. Vì vậy, tƣ duy luôn
gắn liền với hoạt động sinh lý của bộ não ngƣời, bên cạnh yếu tố sinh học thì
yếu tố xã hội cũng có tác động quyết định đối với tƣ duy. Tƣ duy là sản phẩm
của xã hội từ những đặc điểm, phƣơng thức hoạt động và cả kết quả. Vì thế,
tƣ duy luôn gắn liền với các hoạt động đặc trƣng của xã hội loài ngƣời là lao
động sản xuất, giao tiếp và ngôn ngữ.
Hoạt động thực tiễn của con nguời là nguồn gốc, động lực chủ yếu của
tƣ duy nên thực tiễn trở thành tiêu chuẩn cao nhất của tƣ duy con nguời. Tƣ
duy với tƣ cách là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động chủ quan của
con ngƣời, với sự sáng tạo và tiên đoán các sự vật hiện tƣợng trong thế giới.
Tƣ duy còn đƣợc xuất hiện và hiện thực hóa trong quá trình đặt ra và giải
quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của con ngƣời. Nhƣ vậy, tƣ duy của con
ngƣời không bất biến mà phát triển từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp,
có thể trình bày một số đặc trƣng cơ bản của tƣ duy nhƣ sau:
Thứ nhất, tư duy là hình thức cao nhất của sự phản ánh trong nhận
thức của con người.
Chính quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan đã đem lại nhận
thức khoa học, năng lực khám phá và sáng tạo những tri thức mới về các mối
quan hệ bản chất, quy luật khách quan chi phối sự phát triển của hiện thực.
Triết học Mác - Lênin khẳng định nhận thức chính là một quá trình đi từ “trực
quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng và từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn,
đó là con đƣờng biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện
thực khách quan” [29, tr.179]. Vậy, tƣ duy là quá trình nhận thức của con
ngƣời đi từ việc nhận thức các tính chất, hiện tƣợng bề ngoài trong thế giới
hiện thực. Trong đó, quá trình nhận thức chỉ có thể đạt đến sự nhận thức về
bản chất và quy luật vận động, phát triển của các sự vật hiện tƣợng khi nhận

quát và gián tiếp của tƣ duy đƣợc biểu hiện ở việc đi từ “một hình thức liên hệ
và phụ thuộc lẫn nhau này đến một hình thức khác sâu sắc hơn, chung hơn”
[31, tr.240], từ sự hiểu biết có tính chất hiện tƣợng đến hiểu biết có tính bản
chất; đi từ cái ngẫu nhiên, bên ngoài đến quan hệ có tính tất nhiên, mang tính quy luật.
12


Thứ ba, tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách tích cực, sáng tạo.
Nghĩa là tƣ duy phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con ngƣời
không phải một cách thụ động, rập khuôn máy móc mà mang tính tích cực,
sáng tạo. Bởi bản chất của con ngƣời là một thực thể năng động, sáng tạo
trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, xuất phát từ hoạt động thực tiễn nên
tƣ duy của con ngƣời cũng phản ánh thế giới một cách tích cực và sáng tạo.
Tƣ duy thể hiện tính tích cực ở việc vƣợt lên trên nhận thức cảm tính, xây
dựng hệ thống tri thức mới về thế giới khách quan, từ đó phản ánh bản chất
của sự vật. Tính sáng tạo của tƣ duy đƣợc thể hiện ở quá trình tƣ duy khám
phá, sáng tạo ra tri thức. Đó là khả năng xây dựng các khái niệm, phạm trù,
liên kết chúng lại với nhau, hệ thống hóa tri thức, vạch ra các mối quan hệ
giữa chúng và khái quát các quy luật chi phối tự nhiên, xã hội và bản thân.
Năng lực sáng tạo của tƣ duy mỗi ngƣời là hạn chế và phụ thuộc vào yếu tố
chủ quan, khách quan nhƣng năng lực sáng tạo của tƣ duy nhân loại là vô tận.
Tƣ duy của con ngƣời thuộc phạm trù trí tuệ ngƣời, giúp cho con ngƣời khám
phá các thuộc tính, các mặt, các mối liên hệ của sự vật hiện tƣợng để đi sâu
vào bản chất và phát hiện ra quy luật vận động, phát triển của thực tại khách
quan [72, tr.634]. Mặc dù, tƣ duy diễn ra trong đầu óc của con ngƣời nhƣng
có xu hƣớng vƣơn ra đời sống và quay trở về thực tiễn để chỉ đạo hành động
của con ngƣời. Thông qua tƣ duy, con ngƣời có thể xây dựng các giải thuyết
khoa học, lý thuyết trừu tƣợng, các mô hình lý tƣởng cho hiện thực và dự báo
tƣơng lai.
Nhƣ vậy, quá trình hoạt động thực tiễn của con ngƣời chính là nguồn

1.1.2. Tư duy lý luận
* Khái niệm tư duy lý luận
Tƣ duy lý luận là trình độ phát triển cao nhất của tƣ duy, là quá trình
mà tƣ duy tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng
lý luận thông qua những giả thiết, lý thuyết có mối quan hệ tƣơng hỗ với
nhau. Có nhiều cách hiểu khác nhau về tƣ duy lý luận, nhƣng cho đến nay
trong các tài liệu triết học có thể hiểu tƣ duy lý luận qua 3 lát cắt sau:

14


Một là, tƣ duy lý luận đƣợc hiểu với tƣ cách là một động từ, nó đƣợc
xem nhƣ là qúa trình đang vận động, nắm bắt và tái tạo hiện thực. Đây là một
quá trình kép bao gồm bốn quy trình: quá trình tƣ duy tiếp cận, nắm bắt hiện
thực để thu thập thông tin; quá trình xử lý thông tin để tìm ra mối liên hệ bản
chất và quy luật của sự vật; quá trình liên kết các quy luật để tìm ra mối liên hệ
bản chất; quá trình tƣ duy trở về với hiện thực để chỉ đạo và cải tạo hiện thực.
Hai là, tƣ duy lý luận với tƣ cách là một danh từ, đƣợc hiểu là một kết
quả đã đƣợc hình thành, là sản phẩm của trí tuệ cao và có đƣợc thông qua sự
tích lũy tri thức trong hoạt động hàng ngày của con ngƣời, từ đó tƣ duy lý
luận đƣợc khái quát và hình thành nhờ tƣ duy kinh nghiệm.
Ba là, tƣ duy lý luận đƣợc hiểu với tƣ cách là một tính từ. Ở đây, tƣ
duy lý luận đƣợc hiểu nhƣ là phƣơng pháp, phƣơng thức tƣ duy khi nó phản
ánh và tái tạo hiện thực khách quan. Hiểu tƣ duy lý luận với tƣ cách là một
tính từ, nó đƣợc hiểu thông qua các cặp đối lập: tƣ duy biện chứng đối lập với
tƣ duy siêu hình, tƣ duy lôgic đối lập với tƣ duy phi lôgic, tƣ duy khoa học
đối lập với tƣ duy phi khoa học. Tƣ duy lý luận theo nghĩa này đƣợc hiểu và
đồng nghĩa với tƣ duy biện chứng.
Nhƣ vậy, tư duy lý luận là tư duy lôgic, khoa học và sáng tạo. Tư duy lý
luận thể hiện trình độ phát triển cao của năng lực tư duy của chủ thể nhận thức,

Thứ tƣ, tƣ duy lý luận có khả năng đƣa ra các dự báo khoa học nhằm
điều chỉnh hành vi của con ngƣời trong hoạt động thực tiễn. Tƣ duy lý luận
cũng nhƣ tƣ duy nói chung đều có tính năng động, sáng tạo. Tính năng động
sáng tạo của tƣ duy lý luận không chỉ thể hiện trong hiện thực mà còn trên cơ
sở của những tri thức đã có. Từ đó, tƣ duy lý luận có khả năng tạo ra những
mối liên hệ giữa các tri thức, đồng thời sáng tạo ra những tri thức mới, dự báo
xu hƣớng phát triển của các sự vật hiện tƣợng. Tƣ duy kinh nghiệm mới chỉ
dừng lại ở sự phản ánh các sự vật hiện tƣợng đã và đang diễn ra thông qua
các số liệu thu đƣợc trong hoạt động thực tiễn. Còn tƣ duy lý luận trên cơ sở
phản ánh chính xác quá khứ, hiện tại và với tất cả các điều kiện đã biết thì nó
thực hiện các thao tác theo quy luật của tƣ duy nhƣ: phán đoán, chứng minh,
suy luận… rồi đƣa ra những kết luận mới, tri thức mới, những tiên đoán và
16


dự báo khoa học. Nhờ có tƣ duy lý luận mà con ngƣời có khả năng phản ánh
và dự báo đúng xu hƣớng vận động của hiện thực khách quan trong một thời
gian dài. Tƣ duy lý luận có chức năng dự báo và định hƣớng cho hoạt động
thực tiễn.
Tƣ duy lý luận với tƣ cách là mức độ cao nhất của tƣ duy đóng vai trò là
thế giới quan, nhân sinh quan, phƣơng pháp luận chung nhất cho mọi loại
hình tƣ duy.
* Bản chất và cấu trúc của tư duy lý luận
Tƣ duy lý luận về bản chất là biện chứng, là trình độ phát triển cao nhất
của tƣ duy khoa học mà nhân loại đạt đến, vì ở trong nó đã bao hàm hai yếu
tố cơ bản nhất của khoa học hiện đại đó là tƣ duy biện chứng và duy vật. “Tƣ
duy lý luận chân chính, khoa học, hiện đại đó là tƣ duy lý luận mácxít. Về
thực chất tƣ duy lý luận mácxít là tƣ duy biện chứng duy vật - một loại hình
tƣ duy đƣợc hình thành trên cơ sở tổng kết những tri thức tinh túy nhất của
khoa học. Nó là sản phẩm của sự kết tinh tƣ duy nhân loại và bao chứa trong

những tiên đoán khoa học về sự vật, hiện tƣợng. Đây là sức mạnh của tƣ duy
lý luận, là sự sáng tạo lại hiện thực khách quan theo hƣớng khái quát hóa,
trừu tƣợng hóa cao hơn nên nó đem lại nhận thức sâu sắc, đầy đủ, hệ thống –
chỉnh thể hơn về bản chất và những tính quy luật vốn có của hiện thực khách
quan. Tƣ duy lý luận đặc biệt coi trọng tính khoa học và sử dụng những tri
thức lý luận đạt đƣợc nhƣ là công cụ, phƣơng pháp khoa học để phát hiện
những mâu thuẫn, những vấn đề mới nảy sinh, đồng thời đƣa ra những giải
pháp mới để giải quyết, đây là điều mà tuy duy thông thƣờng không có đƣợc.
Hạt nhân của tƣ duy lý luận là tƣ duy triết học. Xét theo lôgic nội tại của
tƣ duy lý luận có hai cấp độ lớn là: tƣ duy của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ
duy của các khoa học cụ thể, trong đó tƣ duy của chủ nghĩa Mác - Lênin làm
cơ sở còn Triết học làm hạt nhân. Nhƣng thực ra ngay trong cơ sở của tƣ duy
lý luận cũng lại có hai cấp độ là: tƣ duy triết học và tƣ duy của các bộ môn
còn lại hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Ở đây tƣ duy lý luận cũng vẫn giữ
vai trò là nền tảng, cơ sở và hạt nhân. Nhƣ vậy, về thực chất tƣ duy lý luận có
ba cấp độ lớn đó là: tƣ duy Triết học, tƣ duy của các bộ môn còn lại hợp thành
18


chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ duy khoa học cụ thể. Trong cấu trúc phân tầng
của tƣ duy lý luận, tƣ duy triết học vừa là cơ sở, vừa là hạt nhân. Tƣ duy Triết
học cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong tƣ duy lý luận chủ yếu là do
những đặc trƣng của tƣ duy Triết học quy định. Cấu trúc của triết học Mác Lênin đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và sự thống nhất gắn bó không tách
rời là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong thành phần của triết học Mác - Lênin
còn có những vấn đề triết học trong khoa học tự nhiên, tâm lý học, lôgic học,
đạo đức học, mỹ học, chủ nghĩa vô thần khoa học và lịch sử triết học. Vì vậy,
nó không chỉ là lý luận của biện chứng khách quan và lôgic của nhận thức
khoa học, mà còn là lý luận của học thuyết xã hội học, của học thuyết đạo đức
học và mỹ học. Phƣơng pháp tƣ duy triết học là tƣ duy lý luận, loại tƣ duy
dựa vào việc tổng kết kinh nghiệm của nhân loại, thành quả của khoa học và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status