LUẬN VĂN: Quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
trong giai đoạn hiện nay MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 77 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt

Đại hội IV của Đảng đã chỉ rõ: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt QHCB là một biện pháp
đặc biệt trọng yếu, có tính quyết định để tăng cường công tác cán bộ về mọi mặt. Ngày
02/6/1978, BCHTW (khoá IV) đã ra Chỉ thị số 45-CT/TW “Khẩn trương đẩy mạnh việc xây
dựng QHCB lãnh đạo, cán bộ quản lý”. Ngày 12/11/1983 Ban Bí thư TW Đảng (khoá V) ra
Thông tri số 31-TT/TW về việc “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng QHCB lãnh đạo và cán bộ
quản lý ở các ngành, các cấp”. Năm 1998, Bộ Chính trị (khoá VI) có Quyết định số 55-
QĐ/TW về “Công tác QHCB lãnh đạo các cấp từ nay đến năm 1990”. Nghị quyết Hội nghị
lần thứ 3 BCHTW (khoá VIII) đề ra yêu cầu: “Cán bộ chủ trì phải điều hành, thực hiện quy
hoạch chung về công tác cán bộ, đồng thời trực tiếp bồi dưỡng người kế cận thay mình.
Trong một năm phải có ít nhất một lần kiểm điểm việc thực hiện quy hoạch của mình và
kiểm tra việc thực hiện quy hoạch của cấp dưới để kịp thời bổ sung, điều chỉnh” [13]. Ngày
30/11/2004 Bộ Chính trị có Nghị quyết số 42-NQ/TW về công tác QHCB lãnh đạo quản lý
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nhờ vậy công tác QHCB đã có chuyển biến tích
cực, góp phần đổi mới từng bước công tác cán bộ nói chung. Tuy nhiên đứng trước bối cảnh
thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi
mới đất nước thì công tác QHCB vẫn là một khâu yếu, chất lượng và hiệu quả còn hạn chế.
Hội nghị lần thứ 3, BCHTW (khoá VIII) đã đánh giá: “Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng và cán bộ
lãnh đạo chưa chủ động xây dựng QHCB, không tích cực chuẩn bị người kế nhiệm” [13]. Do
vậy sắp tới “Mỗi cấp, mỗi ngành phải có kế hoạch tạo nguồn cán bộ định kỳ kiểm tra, tổng
kết và nâng cao chất lượng công tác QHCB” [13].
Quán triệt những quan điểm của Đảng, từ nhiều năm nay BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang
đã quan tâm đến công tác QHCB, tích cực, tập trung lãnh đạo công tác QHCB ở tỉnh, do
đó công tác QHCB đã bước đầu đi vào nền nếp, đạt được kết quả nhất định, góp phần
làm tốt công tác cán bộ của tỉnh. Tuy vậy công tác QHCB trong thời gian qua cũng bộc lộ
không ít những thiếu sót, khuyết điểm cần sớm được khắc phục.
Là một tỉnh miền núi, mới được tái lập từ ngày 01/01/1997, với diện tích 3.882, 6
km
2
, dân số trên 1,5 triệu người, địa hình phức tạp, mặc dù tình hình chính trị-an ninh,
trật tự, xã hội tương đối ổn định, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, song nhìn chung nền

- "Thực trạng trình độ học vấn và giải pháp quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ xã, phường, thị trấn của Hà Nội”, Đề tài khoa học của Trường Đào tạo Cán bộ Lê
Hồng Phong, năm 1998.
- “Công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Đồng Nai trong giai
đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Trần Minh Thấu, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, năm 2000.

- “Quy hoạch ĐNCBCC của hệ thống chính trị các xã ở tỉnh Quảng Ngãi trong
giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Mỹ Trang, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2004.
- “Quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Bộ Lao động- Thương binh và
xã hội trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Lập, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006.
- “Công tác QHCB lãnh đạo, quản lý cấp quận, huyện thuộc diện BTV Thành uỷ
Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thắng, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006.
- “Quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện Quận uỷ Ba Đình, Thành phố Hà Nội quản lý
trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Lưu Tiến Định, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2006.
Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu, những công trình, bài viết đó mới chỉ đề cập
vấn đề QHCB nói chung hoặc là QHCB riêng của một số địa phương, đơn vị. Cho đến
nay chưa có tác giả nào công bố đề tài về quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ
Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay. Luận văn này sẽ kế thừa, tiếp thu một cách
có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả có liên quan về
công tác QHCB, để tập trung nghiên cứu sâu vấn đề trên, góp phần làm tốt công tác
QHCB của tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn chủ yếu là đi sâu làm rõ những cơ sở khoa học và đề xuất
những giải pháp chủ yếu, góp phần nâng cao chất lượng quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện

Trờn c s phng phỏp lun ca ch ngha duy vt bin chng v duy vt lch s,
lun vn s dng cỏc phng phỏp c th nh: Lụgớc- lch s, thng kờ s liu, kho sỏt
thc t; phng phỏp phõn tớch - tng hp, khỏi quỏt hoỏ, gn lý lun vi thc tin, coi
trng tng kt thc tin.
6. úng gúp v mt khoa hc ca lun vn
- Cung cp nhng lun c khoa hc, lm rừ quan nim, quan im, nguyờn tc,
phng chõm, quy trỡnh v quy hoch NCBCC thuc din BTV Tnh u Bc Giang
qun lý trong giai on hin nay.
- ỏnh giỏ ỳng thc trng cụng tỏc quy hoch NCBCC thuc din BTV Tnh
u Bc Giang qun lý trong thi gian 10 nm qua. xut phng hng, nhim v v

nhng gii phỏp ch yu cú tớnh kh thi nhm nõng cao cht lng quy hoch NCBCC
thuc din BTV Tnh u Bc Giang qun lý trong giai on hin nay, gúp phn i mi
cụng tỏc cỏn b ca tnh, ỏp ng yờu cu nhim v trong thi k cụng nghip hoỏ, hin
i hoỏ t nc.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kt qu nghiờn cu ca lun vn gúp phn cung cp lun c khoa hc cho vic
hoch nh, iu chnh, b sung, c th hoỏ ch trng, chớnh sỏch ca ng v Nh
nc v quy hoch NCBCC thuc din BTV Tnh u qun lý.
- Lun vn cú th s dng lm ti liu nghiờn cu, phc v cho vic s, tng kt
v cụng tỏc cỏn b núi chung v cụng tỏc quy hch cỏn b ca tnh v lm c s xõy
dng mt s k hoch, ỏnv quy hoch, TBD, luõn chuyn, b nhim, b trớ, sp
xp v thc hin chớnh sỏch i vi i ng cỏn b lónh o, qun lý cỏc c quan, s,
ban, ngnh, on th tnh v cp huyn trong giai on t nay n nm 2010 v nhng
nm tip theo.
- Lun vn cng cú th s dng lm t liu tham kho trong ging dy cho i ng
cỏn b Trng Chớnh tr tnh v trung tõm bi dng chớnh tr cp huyn.
8. Kt cu ca lun vn
Ngoi phn m u, kt lun, ph lc v ti liu tham kho, ni dung ca lun vn
chia lm 2 chng, 4 tit.

dùng khái niệm công chức, ở Nhật dùng khái niệm quan chức. Theo Từ điển Từ Hải của
Trung Quốc, từ cán bộ được giải thích là: Xuất phát từ tiếng Pháp, được dịch ra tiếng
Nhật. Như vậy từ này do người Nhật sử dụng đầu tiên, sau đó được chuyển sang Trung
Quốc, và từ Trung Quốc du nhập vào nước ta. Trong tiếng Pháp, cũng như tiếng Anh, từ
"cán bộ " có nhiều nghĩa, nhưng có hai nghĩa chủ yếu được chuyển vào từ "cán bộ" của
Nhật, Trung Quốc và Việt Nam. Nghĩa thứ nhất là cái khung (ảnh), cái khuôn. Nghĩa thứ
hai là người nòng cốt, những người chỉ huy trong quân đội trong một số tổ chức làm nòng
cốt.

Ở nước ta, từ "công chức" cũng được dùng từ lâu và có nhiều văn bản đã quy
định. Năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 76/SL về quy chế
công chức. Năm 1991, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định
169/HĐBT quy định đối tượng công chức. Ngày 09/3/1998 Uỷ BTV Quốc hội ban hành
Pháp lệnh cán bộ công chức, trong đó tại Điều 1 nêu: “Công chức là những người làm việc
trong các cơ quan nhà nước được tuyển dụng, bổ nhiệm làm nhiệm vụ thường xuyên trong
biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch, bậc lương được pháp luật
quy định” [52] Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2002, ghi công chức là: "Người được
tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng
lương do ngân sách nhà nước cấp" [65, tr.207]. Tuy vậy trong thời gian dài từ công chức
ít được sử dụng, từ cán bộ gần như được dùng thay thế cho từ công chức, vì hình ảnh
công chức trong xã hội cũ thường bị coi là xấu "sáng vác ô đi, tối vác ô về". Từ những
năm 90 của thế kỷ XX, trở lại đây đã có người ta thường gọi những người công tác trong
các cơ quan nhà nước là công chức, những người đang công tác trong các cơ quan Đảng,
đoàn thể là cán bộ. Song tiêu thức phân biệt giữa khái niệm cán bộ và khái niệm công
chức chưa thực sự rõ ràng.
Trong Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản năm 1999, từ
cán bộ được định nghĩa là:
1. Người làm việc trong cơ quan nhà nước.
2. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường không giữ chức vụ trong
các cơ quan tổ chức nhà nước [19, tr.249].

thống chính trị ở các nước XHCN trong đó có Việt Nam là: Đảng, Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội đều là các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị, tất cả những người
làm việc trong các tổ chức đó đều được tuyển chọn, quản lý và hưởng quyền lợi theo quy
chế chung thống nhất.
Ba là, nói đến cán bộ là nói đến con người và người cán bộ ở nước ta phải được
đặt trong các mối quan hệ xác định. Trước hết là trong mối quan hệ với đường lối, nhiệm
vụ chính trị của Đảng trong từng thời kỳ, quan hệ với tổ chức và cơ chế chính sách, quan
hệ với thực tiễn và phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân. Trong xã hội có giai
cấp, cán bộ phải mang bản chất của giai cấp cầm quyền. Người cán bộ cách mạng phải là
người trung thành, tận tuỵ vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và
của cả dân tộc. Chính vì vậy Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, viết từ năm 1947,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm: “Cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình

hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng”
[45, tr.269].
Trước đây, trong chiến tranh cách mạng, cán bộ được coi là tất cả những người
thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội. Hiện nay, mặc dù
hoàn cảnh thực tế khác đi và trong nhận thức của con người cũng có nhiều thay đổi,
nhưng trong cách hiểu thông thường nhất, từ cán bộ trước hết vẫn đề phân biệt những
người làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể nằm trong biên
chế, với những người dân không nằm trong các tổ chức trên.
Trong cuốn "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước", từ cán bộ được dùng với rất nhiều nghĩa khác
nhau:
- Trong các tổ chức Đảng, đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa:
Một là, chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến TW
(cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hội viên; hai là, người
làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổ chức này.
- Trong quân đội là những chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểu đội, cán bộ

- Cách 3: Phân theo loại hình tổ chức trong hệ thống chính trị: Cán bộ Đảng, cán
bộ Nhà nước, cán bộ đoàn thể nhân dân
Ngoài ra có thể phân loại theo thẩm quyền chủ thể quản lý cán bộ (được quy định
tại quyết định phân cấp quản lý cán bộ): Cán bộ thuộc diện TW quản lý (Bộ Chính trị,
Ban Bí thư TW), cán bộ thuộc diện BTV tỉnh uỷ (thành uỷ) quản lý, cán bộ thuộc diện
BTV huyện uỷ (quận uỷ) quản lý Trên cơ sở phân loại cán bộ như trên chúng ta thấy
cần làm rõ khái niệm vị trí, vai trò, đặc điểm của từng loại cán bộ, từ đó mới có cơ sở
vững chắc để xây dựng, hoạch định các chủ trương, chính sách về công tác cán bộ. Trong
khuôn khổ giới hạn của đề tài, ở đây chúng ta đi sâu vào khái niệm sau:
- Khái niệm cán bộ chủ chốt:
Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nằng, năm 2002, định nghĩa: "Chủ chốt quan trọng
nhất, có tác dụng làm nòng cốt. Cán bộ chủ chốt của phong trào" [65, tr.174].
Trong mỗi tổ chức có những người lãnh đạo, nhiều tổ chức có tập thể lãnh đạo.
Những người đó là cán bộ chủ chốt. Vậy cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu quan
trọng nhất, có tác dụng chi phối toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.
Khi nghiên cứu cán bộ chủ chốt cần phân biệt cán bộ chủ chốt với cán bộ lãnh đạo
chủ chốt. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là người đứng đầu trong một tổ chức, cán bộ chủ chốt
là những người lãnh đạo của một tổ chức nhất định. Chúng ta đã biết rằng:

Trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta hiện nay được phân
thành nhiều cấp và nhiều bộ phận khác nhau. Nếu như ở mỗi cấp, mỗi bộ phận
trong các hệ thống tổ chức đều có một tập thể lãnh đạo quản lý, thì những
người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong các tập thể ấy
được gọi là cán bộ lãnh đạo chủ chốt [57, tr.35].
Việc xác định cán bộ lãnh đạo chủ chốt không những phải gắn với một hệ thống tổ
chức nhất định mà còn phải căn cứ vào chức danh cụ thể của từng người, bởi vì trong
thực tế một người cán bộ "ở cương vị này, trong tổ chức này là chủ chốt, nhưng trong
mối quan hệ khác, vị trí khác, thì lại không phải là chủ chốt" [57, tr.35].
Khi nói đến cán bộ lãnh đạo chủ chốt người ta không coi họ chỉ là những người
thực hiện các chức năng lãnh đạo đơn thuần, mà còn nhìn nhận họ là những người có

qua các cơ quan tham mưu của Tỉnh uỷ để thực hiện chức năng quản lý: Nhận xét,
đánh giá, quy hoạch, ĐTBD, bố trí sử dụng cán bộ, theo dõi, kiểm tra, giám sát,
quản lý hồ sơ lý lịch cán bộ nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất, trình độ và
năng lực cán bộ thuộc diện quản lý của mình.
Có thể hiểu khái niệm cán bộ chủ chốt thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
là những người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các cơ quan trong hệ thống bộ
máy tổ chức: Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp tỉnh;
những người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cấp uỷ đảng, chính quyền cấp
huyện, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, điều hành công
tác, chỉ đạo CBCC thuộc quyền quản lý của mình thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính
trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương.
Thực hiện Quyết định số 49-QĐ/ TW ngày 03/5/1999 của Bộ Chính trị, BTV
Tỉnh uỷ Bắc Giang đã ban hành Quy định số 135-QĐ/TU ngày 03/12/1999 về phân cấp
quản lý cán bộ của tỉnh, trong đó, tại Điều 8, quy định cụ thể đối tượng cán bộ thuộc diện
BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là:
- Ở cấp tỉnh: Các đ/c uỷ viên BTV, uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh, uỷ viên UBND
tỉnh, uỷ viên UBKT Tỉnh uỷ; các bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn; phó chủ tịch HĐND
tỉnh, phó chủ tịch UBND tỉnh; trưởng ban, phó trưởng ban của Tỉnh uỷ; chánh văn
phòng, phó văn phòng Tỉnh uỷ; hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh;
tổng biên tập, phó tổng biên tập Báo Bắc Giang; chủ tịch, phó chủ tịch: Uỷ ban MTTQ,
Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân; Hội LHPN, Hội Cựu Chiến binh tỉnh, Hội Đồng
Thi đua Khen thưởng tỉnh; bí thư, phó bí thư Tỉnh đoàn; trưởng ban, phó trưởng ban
của HĐND tỉnh; chánh văn phòng, phó văn phòng UBND tỉnh; các giám đốc, phó giám
đốc sở và Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh; chánh thanh tra, phó chánh thanh tra tỉnh;

trưởng ban, phó trưởng ban: Ban Dân tộc miền núi, Ban Tôn giáo Chính quyền, Ban
Bảo vệ sức khoẻ cán bộ tỉnh; chủ nhiệm, phó chủ nhiệm: Uỷ ban Dân số Gia đình và trẻ
em tỉnh; chủ tịch, phó chủ tịch các hội: Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Chữ thập đỏ, Hội
nhà báo, Liên minh các hợp tác xã, Hội Liên hiệp Thanh niên, Liên hiệp các tổ chức
hữu nghị, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh; chánh án, phó chánh án, thẩm phán

đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [32, tr.473]. Theo
Người, với lôgíc đó, giai cấp công nhân Nga chỉ có thể lật đổ chế độ Nga Hoàng, giành chính
quyền khi xây dựng cho mình được một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên nghiệp cho
phong trào vô sản. Đó là đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên của Đảng Cộng sản Bônsêvích
Nga, những người giúp Đảng "đảo ngược nước Nga lên" [33, tr.162], "những nhà chính trị
của giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém những nhà
chính trị tư sản" [37, tr.80-81]. Sau khi đã giành được chính quyền, Người khẳng định:
"nghiên cứu con người tìm những cán bộ có năng lực, biết làm việc, thực chất vấn đề
hiện nay chính là ở những chỗ đó, nếu thiếu những điểm này thì tất cả mọi mệnh lệnh,
mọi quy định sẽ chỉ là mớ giấy lộn" [32, tr.449]. Trong hoạt động thực tiễn, Người đã
trực tiếp tiến hành nhìn nhận đánh giá, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tổ chức
ĐTBD cán bộ để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động Nga hoàn thành cuộc
Cách mạng Tháng Mười vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.
Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin đã thống nhất cách nhìn nhận và đánh
giá vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, nhất là những người lãnh đạo chủ chốt trong sự
nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản và các đảng cộng sản, đó là lực lượng biến "tư
tưởng", "mệnh lệnh", các "quyết định" của Đảng thành hiện thực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Việt Nam, là người vận dụng
và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam
và hình thành nên một tư tưởng cách mạng đặc sắc - tư tưởng Hồ Chí Minh. Người xem
xét vai trò của cán bộ, kể cả cán bộ chủ chốt, bất kể là ở cấp nào đều thể hiện rõ qua các
mối quan hệ cơ bản sau:
1 - Là người lãnh đạo, họ nhân danh Đảng, nhân danh tổ chức làm đầu tàu dẫn dắt
mọi phong trào cách mạng của quần chúng, làm gương cho quần chúng và trong mọi việc
"đảng viên đi trước, làng nước theo sau".
2 - Là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, họ "đem chính sách của Đảng, Chính phủ
giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành", đồng thời "đem tình hình của quần chúng
báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [45, tr269] và với vị trí
đó làm cho cán bộ trở thành cầu nối và giữ mối dây liên hệ qua lại chặt chẽ giữa Đảng và
quần chúng nhân dân.

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như các nghị quyết, quyết định, kế
hoạch, đề án, chương trình hành động của tỉnh. Vì họ là những người lãnh đạo, trung tâm
định hướng, điều khiển toàn bộ hoạt động của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; các cơ quan,

sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; cấp uỷ, HĐND, UBND các huyện, thành phố, đảng uỷ trực
thuộc Tỉnh uỷ. Thông qua quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn họ tổng kết được những
kinh nghiệm, bài học, góp phần bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước.
Vai trò này xuất phát từ mối quan hệ giữa cán bộ với đường lối, chính sách và từ
vị trí của đội ngũ cán bộ này trong hệ thống chính trị.
Hai là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý đóng vai trò nòng
cốt trong việc xây dựng hệ thống chính trị của tỉnh vững mạnh. Họ là người đứng đầu các
cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở cấp tỉnh và cấp huyện, chịu trách nhiệm chính
trong việc tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động của cán bộ, đảng
viên và nhân dân trong tỉnh, chỉ đạo xây dựng và củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ
máy; xây dựng đội ngũ đảng viên, đoàn viên, hội viên; tuyển chọn, ĐTBD, bố trí sắp xếp
đội ngũ cán bộ và đề ra các chủ trương, giải pháp nhằm không ngừng đổi mới, nâng cao
chất lượng hoạt động của cơ quan, tổ chức mình, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng
thời kỳ.
Ba là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có vai trò quan
trọng trong việc xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trong đội ngũ
cán bộ công chức và nhân dân trong tỉnh. Đội ngũ cán bộ này nếu có đủ phẩm chất chính
trị, đạo đức; trình độ, năng lực tốt, đồng đều thì cấp uỷ, HĐND, UBND tỉnh, huyện,
thành phố, bộ máy lãnh đạo của các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh sẽ mạnh, quy
tụ được đội ngũ cán bộ đảng viên, nội bộ đoàn kết. Nhưng nếu thoái hoá về phẩm chất,
trình độ, năng lực không tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ thì sẽ có kết quả ngược lại và
các quyết định thường sẽ thiếu tính hiệu lực và hiệu quả, thậm chí gây mất đoàn kết và
phá hoại tổ chức. Do đó, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi ĐNCBCC thuộc
diện BTV Tỉnh uỷ quản lý phải có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực ngang tầm nhiệm
vụ mới; phải là tấm gương trong học tập, công tác và sinh hoạt để những người dưới

nghiên cứu khoa học, chủ trì xây dựng hoặc thẩm dịnh các đề án, chuyên đề công tác liên
quan đến lĩnh vực được phân công phụ trách.
- Phần lớn số cán bộ này đã được rèn luyện, thử thách, trưởng thành trong thực
tiễn đấu tranh cách mạng của đất nước và trong phong trào của quần chúng, hơn 70% cán
bộ trong số đó đã có thời gian tham gia trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu chống
đế quốc Mỹ và các đội quân xâm lược khác để bảo vệ tổ quốc, xây dựng tổ quốc XHCN
do vậy mà lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường
XHCN, trung thành với Đảng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết
tâm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, tích cực đấu tranh với những luận

điểm sai trái. Hầu hết các đ/c đều nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm,
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; giữ gìn phẩm chất đạo đức của người cán bộ,
đảng viên, gương mẫu trong thực hiện các nhiệm vụ được giao.
- Đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý luôn được BTV Tỉnh
uỷ quan tâm thường xuyên lãnh đạo chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn, vì vậy số
lượng đã được tăng lên, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, chất lượng được nâng lên rõ rệt.
- Đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý chủ yếu được hình
thành từ nguồn cán bộ trong quy hoạch tại chỗ, một số đ/c được điều động, luân chuyển từ
nơi khác đến song vẫn là trong nội bộ giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh. Tuy
quê quán, nơi sinh của cán bộ có khác nhau, từ nhiều miền quê trong cả nước như: Bắc
Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc nhưng hầu
hết đều xuất thân từ nông thôn, gia đình nông dân, công nhân và đều có quá trình làm ăn
sinh sống, học tập, công tác nhiều năm ở tỉnh. Mặt khác xuất phát từ những đặc điểm riêng
về tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội địa phương mà đội ngũ cán bộ của tỉnh luôn có truyền
thống yêu quê hương, đất nước, cần cù chịu khó lao động, sản xuất, cố gắng, tích cực học
tập công tác để vươn lên, chủ động sáng tạo trong công việc, có tinh thần tương thân, tương
ái, đoàn kết gắn bó với cộng đồng, gần gũi với quần chúng nhân dân, được quần chúng
nhân dân tín nhiệm.
- ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý đều do tập thể BTV Tỉnh
uỷ xem xét ra nghị quyết, quyết định luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại hoặc giới thiệu

2. Kế hoạch tổng thể trong thời gian dài" [19, tr.1380].
Trong Từ điển tiếng Việt (2002) Nxb Đà Nẵng nêu: quy hoạch là "bố trí, sắp xếp
theo một trình tựh hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho lập kế hoạch daìi hạn, quy
hoạch các vùng kinh tế, quy hoạch trị thuỷ một con sông, quy hoạch đào tạo cán bộ " [65,
tr.813].
Từ đây có thể hiểu quy hoạch theo nghĩa thông thường là bố trí, sắp xếp toàn bộ
theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập các kế hoạch cụ thể,
dài hạn và ngắn hạn, ta hay nói quy hoạch đô thị, quy hoạch giao thông, quy hoạch các
khu công nghiệp Khác với các quy hoạch đó QHCB là một loại quy hoạch đặc biệt đối
tượng của nó không phải là cơ sở vật chất, công trình mà là cán bộ, là con người, họ vừa
là chủ thể vừa là đối tượng của quy hoạch.
QHCB là việc lập dự án thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ cán bộ, dự kiến bố trí,
sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trong
một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ.

Nội dung lập dự án thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ cán bộ rất gần với chiến
lược cán bộ, cụ thể hoá những quan điểm, phương châm, nguyên tắc và mục tiêu, giải
pháp trong chiến lược cán bộ. Nội dung này phải xác định:
Một là, mục tiêu của quy hoạch: Tuỳ theo phạm vi, tính chất của QHCB mà mục tiêu
sẽ khác nhau. Ví dụ QHCB cấp tỉnh có mục tiêu khác cấp huyện, QHCB của ngành, huyện
này có mục tiêu khác ngành, huyện kia.
Hai là, quán triệt cơ cấu cán bộ trong quy hoạch: Trong quy hoạch phải xác định
cơ cấu, tỷ lệ 3 độ tuổi, đảm bảo tính đồng bộ, tính kế thừa và phát triển, tránh tình trạng
"hẫng hụt" cán bộ. Quy hoạch còn phải chú trọng cơ cấu giai cấp, dân tộc, giới tính hợp
lý.
Ba là, xác định rõ tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý, lấy đó làm cơ
sở thực hiện việc đánh giá cán bộ, lựa chọn đúng cán bộ đưa vào quy hoạch và ĐTBD cán
bộ theo tiêu chuẩn.
Bốn là, xác định đúng nguồn cán bộ phạm vi và đối tượng quy hoạch.
Quan niệm về QHCB có nội dung thứ hai là dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội

trí, sử dụng cán bộ sẽ gặp khó khăn, bị động lúng túng, đội ngũ cán bộ sẽ bị hụt hẫng,
chắp vá, không đảm bảo tính liên tục, tính kế thừa và phát triển, cơ cấu cũng thiếu tính
đồng bộ. Thực tế những năm qua không ít những đơn vị địa phương khi cần thay thế cán
bộ hay mỗi khi chuẩn bị nhân sự đại hội đảng, đoàn thể, nhân sự bầu cử HĐND, UBND
thì không biết lấy từ nguồn ở đâu, không thể lựa chọn được những người có đủ tiêu
chuẩn theo quy định, dẫn đến đội ngũ cán bộ có thế nào thì dùng thế đó, bố trí cán bộ
gượng ép, nguyên nhân là đã không làm tốt công tác QHCB.
- Khác với công tác nhân sự, QHCB cán bộ không chỉ tạo nguồn cán bộ kế cận
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, mà quan trọng hơn là nó chuẩn bị cán bộ dự nguồn
từ xa, phục vụ công tác nhân sự cho những nhiệm kỳ tiếp theo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
lâu dài của các cơ quan, đơn vị, địa phương.
Hai là, QHCB là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công
tác cán bộ đi vào nền nếp, theo quy trình chặt chẽ, có tính khoa học chất lượng ngày càng
nâng cao. Làm tốt công tác QHCB sẽ tạo cơ sở, điều kiện, tiền đề để làm tốt các khâu
khác trong công tác cán bộ như: ĐTBD, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, giới
thiệu cán bộ ứng cử và thực hiện chính sách cán bộ. Khắc phục tình trạng ĐTBD cán bộ
tràn lan, không có trọng tâm, trọng điểm; đề bạt, bổ nhiệm, phân công, bố trí cán bộ tuỳ
tiện, không đúng người, đúng việc

Ba là, QHCB còn là một động lực mạnh mẽ, thúc đẩy đội ngũ cán bộ công chức
nói chung và cán bộ dự nguồn trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý nói
riêng, tích cực tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, giữ gìn lối sống lành
mạnh, giản dị, hăng hái học tập, công tác, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,
để từng bước đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh cán bộ quy hoạch.
*Quan điểm cơ bản trong công tác quy hoạch ĐNCBCC:
Quán triệt Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị, công tác quy hoạch
ĐNCBCC diện BTV Tỉnh uỷ quản lý phải xuất phát từ những quan điểm cơ bản của
Đảng ta về công tác cán bộ là:
- Lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng để xây dựng
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; thông qua thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, phong trào

- Thực hiện quy hoạch “động” và "mở": một chức danh có thể quy hoạch nhiều
người và một người có thể quy hoạch nhiều chức danh; quy hoạch phải luôn được xem
xét, đánh giá để bổ sung, điều chỉnh hàng năm, đưa ra khỏi quy hoạch những người
không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện, bổ sung vào quy hoạch những nhân tố mới có triển
vọng.
- QHCB phải đồng bộ từ trên xuống dưới; cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới
QHCB, lấy QHCB cấp dưới làm cơ sở cho QHCB cấp trên; quy hoạch cấp trên thúc đẩy
quy hoạch cấp dưới.
- QHCB phải mang tính khoa học và thực tiễn, vừa tạo nguồn cho việc đào tạo đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, vừa tạo động lực thúc đẩy, phát huy nhân tố chủ quan, phấn
đấu vươn lên của cán bộ, bảo đảm sự đoàn kết trong sự phát triển của toàn đội ngũ cán
bộ, đề phòng tư tưởng cơ hội; không cứng nhắc, máy móc trong xây dựng và thực hiện
quy hoạch.
- Thực hiện công khai trong công tác QHCB; cơ quan có thẩm quyền quyết định
quy hoạch thì quyết định phạm vi, đối tượng, thời điểm, mức độ và cách thức công khai
quy hoạch.
Phương pháp, quy trình quy hoạch: Trên cơ sở đáp ứng mục đích, yêu cầu và các
quan điểm, nguyên tắc xây dựng quy hoạch đã nêu ở trên, công tác quy hoạch ĐNCBCC
diện BTV Tỉnh uỷ quản lý, cần đổi mới phương pháp, quy trình tiến hành, cụ thể:
- Quy trình QHCB phải bảo đảm mở rộng dân chủ, khách quan trong việc phát hiện
nguồn, có sự tham gia của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, mặt trận, các đoàn thể
trong việc nhận xét, đánh giá và giới thiệu cán bộ; lấy kết quả nhận xét, đánh giá cán bộ
thường xuyên và định kỳ làm cơ sở để lựa chọn cán bộ đưa vào quy hoạch; bảo đảm quyền
tập trung của tập thể BTV các cấp uỷ đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ, lãnh đạo

Trích đoạn Mục tiờu, phương hướng quyhoạch đội ngũ cỏn bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý trong giai đoạn giai đoạn 2006ư2010 và những năm Nõng cao nhận thức về cụng tỏc quyhoạch cỏn bộ Cụ thể hoỏ tiờu chuẩn hoỏ cỏc chức danh cỏn bộ chủ chốt thuộc diện quy hoạch Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý Rà soỏt, đỏnh giỏ đội ngũ cỏn bộ chủ chốt (đương chức và dự nguồn quy hoạch) thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý; xỏc định nguồn cỏn bộ quy Cụ thể hoỏ quy trỡnh quy hoạch đội ngũ cỏn bộ chủ chốt diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status