LUẬN VĂN: Bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng quyết định đến sự thành bại
của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"
[38, tr.269], "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém " [38,
tr.240]. Cán bộ và công tác cán bộ càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi đất nước ta đang
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Nghị quyết

hiểu đề tài Bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai
đoạn hiện nay, với hy vọng góp phần khắc phục hạn chế, xây dựng ĐNCB diện BTV
Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về công tác cán bộ và
BNCB ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
liên quan đến đề tài như:
- Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải
pháp- PGS, TS. Trương Thị Thông và TS. Lê Kim Việt (đồng chủ biên), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2008.
- Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ công tác tổ chức xây dựng Đảng - Nông
Đức Mạnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 11, 2007.
- Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng ĐNCB trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước - PGS, TS Nguyễn Phú Trọng và PGS, TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
- “Phát huy dân chủ công khai- Một biện pháp quan trọng trong công tác cán
bộ”- Cao Ngọc Hải, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7, 2006.
- Quán triệt sâu sắc, thực hiện đúng, thống nhất các quy chế, quy định về công tác
cán bộ - Hồ Đức Việt, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10, 2007.
- “Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ”- Nguyễn Đức Hạt, Tạp chí cộng sản, số 776,
tháng 6-2007.

- “Trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ” - Bùi Đức Lại, Tạp chí
Xây dựng Đảng, số 6, 2007.
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ” - Nguyễn Thế Tư, Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 10, 2007.
- “Về thí điểm bổ nhiệm, đề bạt cán bộ sau khi cán bộ trình đề án” - Trần Minh
Tuấn, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7, 2007.
- "Xây dựng ĐNCB chủ chốt các cấp, trước mắt là người đứng đầu”- Chu Văn Rỵ,

phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản
lý.
- Phân tích những ưu điểm và hạn chế trong BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang
quản lý từ năm 2005 đến nay; tìm nguyên nhân ưu điểm, hạn chế của thực trạng và rút
ra những kinh nghiệm từ thực tiễn.
- Đề xuất mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản
lý.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ
năm 2005 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ và BNCB; đặc
biệt chú ý các quan điểm của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, như:
phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, quy nạp và diễn dịch, thống kê, điều tra
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần đánh giá đúng thực trạng, bổ sung, làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn của BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý.

cơ sở đảng (324 đảng bộ và 500 chi bộ), 3.768 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở. Bộ máy
cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể cấp tỉnh gồm: 08 ban, cơ quan của Tỉnh uỷ;
MTTQ và 05 đoàn thể nhân dân; 12 hội quần chúng; 29 sở, ban, ngành trực thuộc
HĐND, UBND tỉnh; 19 cơ quan ngành dọc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh.
Những năm qua, Đảng bộ tỉnh đã luôn quán triệt, kiên định đường lối đổi mới;
giữ vững nguyên tắc tổ chức của Đảng; phát huy dân chủ, truyền thống đoàn kết; triển
khai lãnh đạo toàn diện các mặt công tác. Trong từng giai đoạn đều đề ra nhiệm vụ
trọng tâm, trọng điểm; trong đó luôn xác định rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung
tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hoá là nền tảng, mục tiêu và động lực
phát triển. Hướng trọng tâm vào lãnh đạo phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

và ngành nghề nông thôn; đồng thời, tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp
hàng hoá, nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH, HĐH; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá và giải quyết các vấn đề xã
hội; bảo đảm giữ vững ổn định chính trị tại địa phương. Do có sự tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh và sự phấn đấu nỗ lực của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Bắc
Giang đã có bước tiến mới trên con đường CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Chỉ tính
riêng sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2006-
2009), trong điều kiện phải chống chọi với bão lũ và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
toàn cầu, song tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh vẫn ở mức khá, đạt trên
9%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ
tăng, tỷ trọng nông - lâm nghiệp giảm; các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - xã
hội có nhiều tiến bộ; đời sống nhân dân cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được giữ
vững.
Mặc dù vậy, Bắc Giang vẫn là tỉnh nghèo, mức tăng trưởng kinh tế còn thấp,
chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; trình độ quản lý,
năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập kinh tế còn thấp; cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng
chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Một số vấn đề về giáo dục, y tế, văn
hoá, xã hội còn có mặt hạn chế, bất cập; đời sống nhân dân nhìn chung còn ở mức thấp
(năm 2009 bình quân GDP/người mới đạt khoảng 530 USD). Công tác xây dựng các tổ

trương, tổ chức, cán bộ” [16, tr.17].
Như vậy, theo Điều lệ Đảng, BTV cấp uỷ vừa là cơ quan lãnh đạo, vừa có nhiệm
vụ chỉ đạo, tổ chức triển khai, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị được BCH đảng bộ giao
và là cơ quan thường trực để giải quyết các công việc giữa 2 kỳ họp BCH đảng bộ. Tuỳ
theo phân cấp quản lý, BTV cấp uỷ thay mặt BCH đảng bộ thực hiện công tác cán bộ
của đảng bộ.
Căn cứ quy định Điều lệ Đảng (khoá X) và quy định, hướng dẫn của Trung ương,
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI (năm 2005) đã bầu ra BCH Đảng bộ
tỉnh gồm 49 uỷ viên. Tại hội nghị lần thứ nhất, BCH Đảng bộ tỉnh đã bầu BTV Tỉnh uỷ

gồm 13 uỷ viên; bầu bí thư, 02 phó bí thư Tỉnh uỷ trong số uỷ viên BTV Tỉnh uỷ và đã
được BCT Trung ương Đảng chuẩn y kết quả bầu cử. Căn cứ quy định, hướng dẫn của
Trung ương, BTV Tỉnh uỷ phân công các uỷ viên BTV như sau: Bí thư, kiêm chủ tịch
HĐND tỉnh; 01 phó bí thư thường trực, phụ trách công tác xây dựng đảng, MTTQ, đoàn
thể; 01 phó bí thư- Chủ tịch UBND tỉnh; 10 uỷ viên thường vụ phân công đảm nhiệm các
chức vụ: phó chủ tịch HĐND tỉnh; phó chủ tịch UBND tỉnh; chủ nhiệm UBKT Tỉnh uỷ;
trưởng các ban: tổ chức, tuyên giáo, dân vận; giám đốc Công an tỉnh; chỉ huy trưởng Bộ
Chỉ huy Quân sự tỉnh; bí thư Thành uỷ Bắc Giang và bí thư Huyện uỷ Yên Thế.
Cơ cấu độ tuổi của BTV Tỉnh uỷ thời điểm Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (năm
2005) như sau: Từ 41 đến 50 tuổi có 04 đồng chí; từ 51-55 tuổi có 08 đồng chí; trên 55 tuổi
có 01 đồng chí. Cả 13 đồng chí uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ đều là nam giới. Về trình độ
chuyên môn: 13 đồng chí đều có trình độ đại học; trong đó tiến sĩ 01 đồng chí. Về lý luận
chính trị: 13 đồng chí đều có trình độ cử nhân, cao cấp.
Các đồng chí uỷ viên BTV Tỉnh uỷ đều là những cán bộ lãnh đạo tiêu biểu cho lòng
trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; gương mẫu về đạo đức lối sống; có tín
nhiệm cao trong Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; có tư duy chính trị nhạy bén,
thể hiện qua thực tiễn điều hành công việc và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá
trình lãnh đạo, chỉ đạo.
Trên cơ sở Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31/10/2006 của BCT về thi hành Điều lệ
Đảng (khoá X), các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương; ngày 23/01/2006 BCH

nhiệm, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; nghỉ hưu và thực hiện chính sách đối với các
chức danh cán bộ của tỉnh thuộc quyền quyết định trực tiếp của BCT, BBT Trung ương: Bí
thư Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh.
- Hiệp y về đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng đối với cán bộ là cấp
trưởng của một số cơ quan trực thuộc Trung ương đóng trên địa bàn và cấp trưởng,
cấp phó của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh, theo phân cấp quản lý cán bộ của
BCT.
- Quyết định thành lập, ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ đối với các tổ chức
đảng trực thuộc ở những nơi có đặc điểm riêng (không phải đảng bộ cấp huyện, thành phố)

theo quy định của Trung ương; thành lập, giải thể các ban cán sự đảng, đảng đoàn theo
hướng dẫn của Trung ương. Quyết định phân cấp quản lý cán bộ đối với các ban cán sự
đảng, đảng đoàn ở các cơ quan, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể tỉnh; các huyện uỷ, thành uỷ,
đảng uỷ trực thuộc.
- Định hướng nhân sự đại hội đại biểu các đảng bộ huyện, thành phố, đảng bộ trực
thuộc, MTTQ và các đoàn thể nhân dân; các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội cấp
tỉnh.
- Cho ý kiến về công tác chuẩn bị và duyệt báo cáo chính trị trình đại hội đảng bộ
các huyện, thành phố, đảng bộ trực thuộc.
- Quyết định thành lập mới, sáp nhập hoặc giải thể các ban, cơ quan của Tỉnh uỷ.
Cho chủ trương về việc giải thể, sáp nhập, thành lập mới cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh
quản lý, theo hướng dẫn của Trung ương.
- Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công
tác của các ban, cơ quan thuộc Tỉnh uỷ (trừ UBKT Tỉnh uỷ), MTTQ và các đoàn thể nhân
dân cấp tỉnh.
- Khi cần thiết, ban hành một số quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ
chức trong hệ thống chính trị của tỉnh.
- Xét khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên; xem xét giải quyết khiếu nại,
tố cáo và quyết định kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng.
4. Chỉ đạo phương hướng giải quyết đối với các vụ án phức tạp liên quan đến chính

đề cần thiết khác do Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, các tổ chức
đảng trực thuộc đề nghị.
9. BTV Tỉnh uỷ có thể uỷ nhiệm cho các uỷ viên BTV Tỉnh uỷ thực hiện một số
công việc cụ thể. Các uỷ viên BTV Tỉnh uỷ có trách nhiệm tổ chức thực hiện, báo cáo tình
hình kết quả thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước BTV Tỉnh uỷ về nhiệm vụ được
giao. Đồng chí Uỷ viên BTV Tỉnh uỷ là Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ và Chủ nhiệm
UBKT Tỉnh uỷ được thay mặt BTV Tỉnh uỷ ký một số văn bản theo sự uỷ quyền của BTV
Tỉnh uỷ.

Như vậy, là cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ họp BCH Đảng bộ tỉnh,
BTV Tỉnh uỷ có vai trò rất quan trọng, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác và hoạt
động của các tổ chức trong hệ thống chính trị của tỉnh, từ lãnh đạo phát triển kinh tế, văn
hoá xã hội, an ninh quốc phòng…, đến công tác xây dựng đảng, chính quyền, đoàn thể
nhân dân. Căn cứ các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, BTV Tỉnh uỷ đề ra các chủ
trương, nhiệm vụ, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của
địa phương trong từng thời gian. Mọi công việc có hoàn thành và đạt được kết quả tốt, đều
phụ thuộc vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của BTV Tỉnh uỷ.
1.1.2. Cán bộ và đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang
quản lý - quan niệm, vai trò, đặc điểm
1.1.2.1. Quan niệm, vai trò của cán bộ
+ Vấn đề cán bộ đã được khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập,
nhưng trong phạm vi luận văn này, để hiểu rõ đối tượng, vai trò, đặc điểm của ĐNCB
diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, rất cần được nhận thức đúng về danh từ “cán
bộ”.
Các nhà nghiên cứu đã xác định: Danh từ "cán bộ" được du nhập vào nước ta từ
những năm 30 của thế kỷ XX và được nhân dân ta sử dụng khá phổ biến để chỉ những
người đi hoạt động cho cách mạng. Sau khi cách mạng giành được thắng lợi, nhà nước
dân chủ nhân dân được thành lập, hệ thống chính trị được xây dựng, phát triển và hoàn
thiện cùng với sự phát triển của ĐNCB, công chức, viên chức, thì danh từ "cán bộ" vẫn
được sử dụng để chỉ tất cả những người làm việc trong bộ máy của hệ thống chính trị.

một số chức danh có nên gọi là cán bộ không, như giáo viên làm công tác chuyên môn
đơn thuần chẳng hạn.
Trong Sửa đổi lề lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu
rõ, để đặt chính sách cho đúng” [38, tr.269].

Từ nhận định và phân tích trên, có thể hiểu quan niệm về “cán bộ” dưới góc
độ: 1. Là người làm công tác chuyên môn trong cơ quan, tổ chức của hệ thống chính
trị; 2. Là người có chức vụ, có vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành phối hợp hoạt
động của các cá nhân trong đơn vị, cơ quan, tổ chức nhằm giải quyết quan hệ công
tác theo mục tiêu đã đề ra; 3. Là người được tuyển dụng, bổ nhiệm, bầu cử trong cơ
quan, tổ chức của hệ thống chính trị.
Cũng cần phân biệt cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý, cụ thể như sau:
Thông thường, khái niệm cán bộ lãnh đạo vẫn được hiểu đó là những người giữ
chức vụ và có trách nhiệm cao trong một tổ chức, có tầm ảnh hưởng lớn đến hoạt động
của tổ chức, của bộ máy và có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của cả
bộ máy, chẳng hạn như: các uỷ viên BCH, BTV cấp uỷ đảng; trưởng, phó các đoàn
thể…đó là những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập
thể, có quyền đề ra những quyết định về chủ trương công tác, có trách nhiệm và quyền
hạn điều hành một tập thể, một đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ và có thể chi phối, dẫn
dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô (trước đây) thì cán bộ lãnh đạo có
hai nghĩa: 1.Chỉ người đứng đầu của một tổ chức, một phong trào; 2.Là người làm thức
tỉnh hành vi của người khác.
Như vậy có thể hiểu, cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu một tổ chức, cơ quan,
một phong trào, có thẩm quyền ra các quyết định định hướng, điều hành hoạt động của
tổ chức, cá nhân. Còn cán bộ quản lý cũng là người đứng đầu một tổ chức, nhưng nhấn
mạnh việc điều hành hoạt động của tổ chức, việc sử dụng công cụ phương tiện để điều
khiển một loại hoạt động nào đó.

xã hội loài người và qua quá trình truyền bá lý luận khoa học vào phong trào vô sản,
hai ông khẳng định: “Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện
tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [37, tr.181]. Theo
luận điểm trên, “Lực lượng thực tiễn” được hiểu là toàn bộ quần chúng vô sản và các
tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột đang hành động với những hình thức

khác nhau trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản và các giai cấp bóc lột khác. Còn
“những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” được hiểu là những người định
hướng, dẫn dắt hành động của quần chúng vô sản, đó là những đại biểu ưu tú nhất,
lãnh tụ của phong trào công nhân đã được giác ngộ lý luận của chủ nghĩa xã hội
khoa học và là những người cộng sản đầu tiên của giai cấp vô sản.
Kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề cán bộ,
V.I.Lênin cho rằng: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính
trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [32,
tr.473]. Như vậy, theo Lênin, mỗi giai cấp muốn giành được quyền thống trị thì trong
hàng ngũ của mình phải có những nhà lãnh đạo có khả năng dẫn dắt phong trào và khi
đã có đường lối đúng thì cán bộ là khâu quyết định để biến đường lối đó thành hiện thực
cách mạng.
Khi đã giành được chính quyền, lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,
V.I.Lênin lại khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh, hiện
nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ
giấy lộn” [35, tr.449]. Lênin cho rằng, nhiệm vụ chính của cách mạng lúc này không chỉ
là ra nghị quyết, mà cần phải có những người tổ chức thực hiện nghị quyết, những cán
bộ cách mạng. Như vậy, theo Lênin, vị trí, vai trò của cán bộ gắn chặt với vai trò lãnh
đạo của Đảng. Đường lối chủ trương của Đảng có trở thành hiện thực cách mạng? Vai
trò lãnh đạo và sức mạnh của Đảng có được tăng cường? Đảng có tồn tại, phát triển?
chính là ở ĐNCB.
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem: "Cán bộ là cái gốc của mọi công

Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
a) Quan niệm cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
Do ĐNCB trong hệ thống chính trị rất đông, được hình thành ở nhiều cấp, nhiều
địa phương và trong phạm vi cả nước, nên muốn quản lý cán bộ chặt chẽ, rất cần thiết
phải phân công, phân cấp quản lý cán bộ. Chính xuất phát từ yêu cầu đó, ngày

03/5/1999, Bộ Chính trị (khoá VIII) có Quyết định số 49-QĐ/TW, sau đó sửa đổi, bổ
sung Quyết đinh số 49-QĐ/TW cho phù hợp với yêu cầu mới, và ngày 04/7/2007, Bộ
Chính trị (khoá X) có Quyết định số 67-QĐ/TW ban hành Quy định về phân cấp quản
lý cán bộ.
Căn cứ Quyết định số 67-QĐ/TW của BCT và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung
ương; BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang có Quyết định số 374-QĐ/TU ngày 03/12/2007 và sau đó
sửa đổi, bổ sung, ban hành Quyết định số 747-QĐ/TU ngày 24/7/2009 “Quy định về phân
cấp quản lý cán bộ”. Theo quy định trên, cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
gồm các chức danh sau:
* Ở cấp tỉnh:
- Các đồng chí uỷ viên BTV Tỉnh uỷ, uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh, Trưởng ban,
phó trưởng ban của Tỉnh uỷ, Chánh Văn phòng, phó chánh văn phòng Tỉnh uỷ;
- Phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND tỉnh; Uỷ viên Thường trực HĐND
tỉnh;
- Uỷ viên UBKT Tỉnh uỷ, uỷ viên UBND tỉnh; bí thư, phó bí thư đảng đoàn, ban
cán sự đảng;
- Chủ tịch, phó chủ tịch: Uỷ ban MTTQ, Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội
Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh tỉnh; Bí thư, phó bí thư Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh tỉnh;
- Giám đốc, phó giám đốc Công an tỉnh và các sở trực thuộc UBND tỉnh; Đài
Phát thanh - Truyền hình tỉnh; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Bắc
Giang, Kho bạc Nhà nước tỉnh, Bảo hiểm Xã hội tỉnh;
- Chỉ huy trưởng, phó chỉ huy trưởng, Chính uỷ, phó chính uỷ Bộ Chỉ huy Quân
sự tỉnh;

những cán bộ lãnh đạo, quản lý; những người đứng đầu trong hệ thống chính trị của
tỉnh và huyện, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, điều
hành công tác, lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý thực hiện hoàn
thành các nhiệm vụ chính trị của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng

lợi nhiệm vụ chung của Đảng bộ tỉnh đề ra. Cán bộ diện BTV Tỉnh ủy Bắc Giang quản lý
là những người được BTV Tỉnh uỷ trực tiếp quyết định đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu bầu
cử, bố trí, sắp xếp, điều chuyển, thi hành kỷ luật và thực hiện những chính sách khác.
BTV Tỉnh ủy còn trực tiếp chỉ đạo thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, quản lý hồ sơ
nhằm theo dõi, nắm tình hình những cán bộ này.
b) Vị trí, vai trò của ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
Căn cứ quy định về phân cấp quản lý cán bộ, ĐNCB diện BTV tỉnh Bắc Giang
quản lý là những cán bộ lãnh đạo, quản lý đang công tác ở các cơ quan cấp tỉnh và
huyện, nên có vị trí, vai trò rất lớn trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ
chính trị của Đảng bộ tỉnh. Vị trí, vai trò đó được thể hiện qua các nội dung sau:
Một là, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có vai trò quan trọng trong
việc nghiên cứu, quán triệt, nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước, để vận dụng đề ra chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, an ninh- quốc
phòng ở địa phương. Do những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phần lớn là
ở tầm vĩ mô, mang tính bao quát, nên đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo,
phù hợp thì mới đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả thiết thực.
ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý còn thể hiện vai trò quan trọng
trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết, chỉ
thị của Trung ương và Tỉnh uỷ; đồng thời trên cơ sở thực tiễn mà đề xuất điều chỉnh các
chủ trương, chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. ĐNCB này là những
người lãnh đạo, trung tâm định hướng, điều khiển toàn bộ hoạt động của Tỉnh uỷ,
HĐND, UBND tỉnh; các cơ quan, sở, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể tỉnh; cấp uỷ,
HĐND, UBND các huyện, thành phố, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ; ĐNCB này có đủ
tầm tri thức và phẩm chất đạo đức, kết hợp với uy tín, trách nhiệm của bản thân để
tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân cùng tham gia. Vai trò trên vừa là kết quả

trí, vai trò quan trọng trong định hướng lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo thực hiện và tạo động
lực cho sự phát triển của tỉnh; đó là lực lượng trụ cột, hạt nhân lãnh đạo trong các tổ
chức của toàn bộ hệ thống chính trị của tỉnh, là chỗ dựa tin cậy của Tỉnh uỷ, HĐND và
UBND tỉnh.

c) Đặc điểm của ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
Bắc Giang có đặc thù là tỉnh miền núi; từ khi tái lập tỉnh (01/1997) đến nay,
ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ quản lý luôn được quan tâm xây dựng, củng cố và kiện toàn;
đã có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu lãnh
đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh. Trong giai đoạn
hiện nay, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có một số đặc điểm cơ bản sau:
Một là, đa số cán bộ trực tiếp hoặc gián tiếp có nguồn gốc hình thành từ nông dân
và nông thôn; một bộ phận đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và
trong thời kỳ đổi mới, được rèn luyện, thử thách và từng bước trưởng thành. Từ nguồn
gốc hình thành và điều kiện, hoàn cảnh trưởng thành đó đã có ảnh hưởng đến hình thành
nhân cách và sự phát triển về kỹ năng lãnh đạo, quản lý của mỗi người và qua đó cũng
ảnh hưởng đến năng lực hoạt động thực tiễn của họ. Trong ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ
Bắc Giang quản lý có một bộ phận trưởng thành từ hoạt động thực tiễn, có kinh nghiệm,
nhưng lại không có điều kiện học tập qua trường lớp một cách cơ bản, có hệ thống, nên
kiến thức lý luận và chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế. Bên cạnh đó, bộ phận cán bộ
nữ đã từng góp phần không nhỏ vào sự lãnh đạo chung của Đảng bộ tỉnh; nhưng nguồn
cán bộ nữ để phát triển thành cán bộ lãnh đạo quản lý còn hạn chế, tỷ lệ cán bộ nữ trong
cơ cấu ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý đạt thấp.
Hai là, cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ quản lý hiện nay phần lớn được phân công
kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ công tác, trước hết là phải kiêm nhiệm giữa công tác
chuyên môn với công tác Đảng, đoàn thể, hoặc tham gia các ban chỉ đạo, hội đồng tư
vấn Điều này thể hiện sự thống nhất phân công của BTV Tỉnh uỷ đối với ĐNCB
thuộc diện quản lý, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện; qua đó ĐNCB có điều kiện
được tu dưỡng, rèn luyện và hoàn thiện phẩm chất đạo đức, năng lực công tác; góp phần
làm cho việc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của

hỏi của từng đối tượng cán bộ.
1.2. QUAN NIỆM, MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC, ĐIỀU KIỆN
VÀ QUY TRÌNH BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ
BẮC GIANG QUẢN LÝ

Trích đoạn Quy trình bổ nhiệmcán bộ Quy trình bổ nhiệm lại cán bộ Hạn chế, khuyết điểm Thực trạng bổ nhiệmcán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ năm 2005 đến nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status