ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ NGÂN HÀ
GIẢI QUYẾT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI BẰNG
TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM - NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN CHÍ HIẾU
HÀ NỘI - NĂM 2006
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Mở đầu 1
Chƣơng 1 KHáI QUáT Về TRANH CHấP THƢƠNG MạI Có YếU Tố NƢớC
NGOàI Và GIảI QUYếT TRANH CHấP THƢƠNG MạI Có YếU Tố NƢớC
NGOàI BằNG TRọNG TàI TạI VIệT NAM ...............................................................7
2.3.3 áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ..................................... 50
2.3.4 Huỷ quyết định trọng tài ................................................................ 53
2.4 Thủ tục giải quyết TCTMCYTNN bằng trọng tài tại Việt Nam ........... 56
2.4.1 Đơn kiện ......................................................................................... 56
2.4.2 Phiên họp xét xử ............................................................................. 56
2.4.3 Ra quyết định trọng tài................................................................... 57
2.4.4 Thi hành quyết định trọng tài......................................................... 57
Chƣơng 3 MộT Số KIếN NGHị NHằM PHáT HUY HIệU QUả CủA
TRọNG TàI TRONG VIệC GIảI QUYếT TRANH CHấP THƢƠNG MạI
Có YếU Tố NƢớC NGOàI.............................................................................. 61
3.1 Xây dựng các tiêu chí xác định thẩm quyền giải quyết
TCTMCYTNN của trọng tài ........................................................................ 61
3.2 Hoàn thiện các quy định về thủ tục trọng tài ......................................... 65
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về áp dụng các biện pháp khẩn cấp
tạm thời ..................................................................................................... 66
3.2.2 Đảm bảo thi hành quyết định của trọng tài ................................... 67
3.3 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm cho hoạt động của trọng
tài 70
3.3.1 Đảm bảo sự hỗ trợ của Toà án đối với các bên tranh chấp
trong quá trình giải quyết các TCTMCYTNN .......................................... 70
3.3.2 Nâng cao năng lực đội ngũ Trọng tài viên .................................... 71
3.3.3 Nâng cao nhận thức của các nhà kinh doanh về trọng tài ............ 73
KếT LUậN ....................................................................................................... 80
Danh mục TàI LIệU THAM KHảO ................................................................ 82
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PLTTTM:
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự giao lƣu và hợp tác quốc tế ngày càng gia tăng thì
hoạt động thƣơng mại giữa nƣớc ta và các nƣớc diễn ra ngày càng nhiều, đặc
biệt là khi chúng ta đang tiến gần đến việc gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế
giới (WTO). Có nhiều quan hệ thƣơng mại với các quốc gia khác cũng đồng
nghĩa với việc có nhiều tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài (sau đây
gọi tắt là TCTMCYTNN) phát sinh. Do các tranh chấp này chứa đựng nhân tố
nƣớc ngoài nên có những đặc thù riêng so với các tranh chấp thƣơng mại
khác, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu riêng đối với việc giải quyết
chúng. Chẳng hạn nhƣ yêu cầu đối với vấn đề lựa chọn pháp luật của quốc gia
nào để giải quyết, xác định địa điểm, ngôn ngữ giải quyết tranh chấp... Chính
vì thế, khi xảy ra những tranh chấp dạng này một trong những phƣơng thức
giải quyết tranh chấp thƣờng đƣợc các bên lựa chọn chính là giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài bởi những lợi thế của nó so với các phƣơng thức khác. So
với thƣơng lƣợng, hoà giải, Toà án thì trọng tài là phƣơng thức giải quyết
tranh chấp có nhiều điểm thích hợp với các TCTMCYTNN vì nó cho phép
các bên đƣợc thoả thuận chọn Trọng tài viên, chọn luật áp dụng, ngôn ngữ,
địa điểm và thủ tục tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp. Ngoài ra thủ tục
giải quyết thông qua trọng tài khá đơn giản, nhanh gọn, phán quyết của trọng
tài là chung thẩm...
Từ những đòi hỏi của thực tiễn, yêu cầu đổi mới pháp luật về giải quyết
tranh chấp, đặc biệt là giải quyết TCTMCYTNN bằng trọng tài đã đƣợc Đảng
và Nhà nƣớc ta coi là một biện pháp bảo đảm quan trọng cho các nhà đầu tƣ,
đặc biệt là các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Ngày 25/02/2003, Ủy ban Thƣờng vụ
Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại số 08/2003/PLUBTVQH (gọi tắt là PLTTTM) và ngày 15/01/2004, Chính phủ đã ban hành
1
thành sách nhƣ: Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường trọng tài
(Đặng Thị Bích Liễu, NXB Chính trị quốc gia, 1998); Trọng tài thương mại
2
Việt Nam trong tiến trình đổi mới (ThS. Dƣơng Văn Hậu, NXB Chính trị
quốc gia,1999); Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
hiện nay (TS. Đào Văn Hội, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004); Tranh
chấp từ hợp đồng xuất nhập khẩu - Án lệ trọng tài và kinh nghiệm (PGS.TS
Hoàng Ngọc Thiết, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002); Công nhận và thi
hành các quyết định của trọng tài thương mại tại Việt Nam (TS. Nguyễn
Trung Tín, NXB Tƣ pháp, 2005)… Các bài viết, bài nghiên cứu của các
chuyên gia: Điều khoản trọng tài trong các hợp đồng thương mại quốc tế
(Trần Hữu Huỳnh, báo Diễn đàn doanh nghiệp, số 2, ngày 20/11/1995); Một
số đặc điểm của pháp luật về trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam hiện nay
(TS. Nguyễn Am Hiểu, tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 5 năm 1997); Việc
tiếp nhận Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế ở một số
nước và việc xây dựng Dự thảo Pháp lệnh trọng tài của Việt Nam (Dƣơng
Thanh Mai, Tạp chí nhà nƣớc và pháp luật số 8 năm 1998); Những nguyên
nhân làm hạn chế tác dụng của Trọng tài thương mại và những giải pháp
khắc phục (TS. Dƣơng Đăng Huệ, tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 7 năm
1999); PLTTTM những thử thách phía trước (Trần Hữu Huỳnh, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 4 năm 2003); Thủ tục giải quyết các yêu cầu liên
quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam (TS. Phan Chí Hiếu, Tạp
chí Luật học, Số chuyên đề về Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005)...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết về trọng tài và giải
quyết tranh chấp thƣơng mại bằng trọng tài đƣợc thể hiện dƣới nhiều góc độ
khác nhau, đặt trong những bối cảnh và giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, hầu
hết các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu về trọng tài phi
chính phủ tại Việt Nam, giải quyết tranh chấp thƣơng mại (chủ yếu là các
phần nâng cao vị thế của Trọng tài trong giai đoạn hiện nay đối với việc giải
quyết các tranh chấp thƣơng mại, đặc biệt là TCTMCYTNN.
4
IV. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
của việc giải quyết những TCTMCYTNN bằng trọng tài tại Việt Nam. Luận
văn tập trung nghiên cứu việc giải quyết các TCTMCYTNN bằng trọng tài từ
khi hình thành trọng tài phi chính phủ tại Việt Nam đặc biệt là từ giai đoạn
ban hành PLTTTM năm 2003 đến nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong việc tìm hiểu phân tích
các đặc trƣng của TCTMCYTNN, các yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết
các tranh chấp dạng này; sự phù hợp, vai trò của phƣơng thức trọng tài đối
với các TCTMCYTNN so với các phƣơng thức giải quyết tranh chấp khác;
phân tích các quy định của PLTTTM đối với việc giải quyết các
TCTMCYTNN tại Việt Nam; tìm hiểu thực tiễn giải quyết TCTMCYTNN tại
các Trung tâm trọng tài Việt Nam từ đó nêu lên những điểm bất cập của pháp
luật về trọng tài đồng thời đƣa ra những giải pháp khắc phục.
V. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận Mác - Lê Nin về
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về Nhà nƣớc và pháp quyền. Luận văn chú trọng vận dụng quan điểm
của triết học về phép biện chứng nhƣ mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, về
các cặp phạm trù cái chung, cái riêng, nội dung và hình thức khi phân tích,
đánh giá về pháp luật và thực tiễn giải quyết TCTMCYTNN bằng trọng tài.
Bên cạnh đó, để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đặt ra, luận
văn cũng sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối
chiếu và khảo sát thực tiễn.
6
Ch¬ng 1
KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI BẰNG TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và các đặc trƣng pháp lý của TCTMCYTNN
1.1.1 Khái niệm TCTMCYTNN
1.1.1.1 Tranh chấp thương mại
Dƣới góc độ pháp lý, tranh chấp là những xung đột, bất đồng về quyền
và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Tranh
chấp thƣơng mại là những mâu thuẫn, bất đồng liên quan đến lợi ích kinh tế
giữa các thƣơng nhân với nhau khi tham gia vào các quan hệ thƣơng mại.
Tranh chấp thƣơng mại phát sinh trong quá trình các cá nhân, tổ chức tiến
hành các hoạt động thƣơng mại theo quy định của pháp luật. Ngày nay, hoạt
động thƣơng mại đƣợc hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm tất cả các hoạt động
nhằm mục đích sinh lời từ đầu tƣ, sản xuất đến phân phối và cả dịch vụ sau
bán hàng...Chẳng hạn, Luật mẫu về Trọng tài thƣơng mại quốc tế của Uỷ ban
Pháp luật Thƣơng mại Quốc tế của Liên Hợp Quốc (gọi tắt là Luật mẫu) đƣợc
thông qua ngày 21/6/1985 cho rằng thuật ngữ “thƣơng mại” cần đƣợc giải
thích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thƣơng
mại, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng nhƣ: mọi
giao dịch thƣơng mại về việc cung cấp hay trao đổi hàng hoá, dịch vụ; thoả
thuận về phân phối, đại diện thƣơng mại; hóa đơn chứng từ; bán, cho thuê,
xây dựng nhà máy; các dịch vụ tƣ vấn; đề án thiết kế tổng hợp, giấy phép, đầu
tƣ, cấp chi phí, giao dịch ngân hàng, bảo hiểm, các thoả thuận về khai thác
hay chuyển nhƣợng, hợp tác giữa các xí nghiệp và các hình thức về hợp tác
công nghiệp hay thƣơng mại, vận chuyển hàng hoá hay hành khách bằng
đƣờng không, đƣờng biển, đƣờng sắt hay đƣờng bộ (Điều 1 Luật mẫu). Đây
8
TCTMCYTNN là những mâu thuẫn, bất đồng xảy ra trong quá trình thực
hiện các hoạt động thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài (một số tài liệu còn gọi
là hoạt động thƣơng mại quốc tế). Trên thế giới, tính chất quốc tế của các
quan hệ thƣơng mại đƣợc hiểu không giống nhau và căn cứ trên nhiều tiêu chí
khác nhau. Theo Công ƣớc Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế những động
sản hữu hình, hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế là tất cả các hợp đồng
mua bán trong đó các bên ký kết có trụ sở thƣơng mại ở các nƣớc khác nhau
và hàng hoá đƣợc chuyển từ nƣớc này sang nƣớc khác, hoặc là việc trao đổi ý
chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết đƣợc lập ở những nƣớc khác nhau
(Điều 1 của Công ƣớc).
Công ƣớc Viên năm 1980 của Liên Hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc
tế “chỉ đƣa ra một tiêu chuẩn để khẳng định tính chất quốc tế của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, đó là các bên ký kết hợp đồng có trụ sở thƣơng
mại đặt ở các nƣớc khác nhau” [12, tr.77].
Theo quan điểm của Phòng Thƣơng mại Quốc tế (ICC) thì tranh chấp
thƣơng mại quốc tế “không chỉ là các tranh chấp giữa các bên có quốc tịch khác
nhau, mà còn cả các tranh chấp khi quốc tịch của các bên giống nhau nếu việc
thực hiện hợp đồng ở nƣớc khác với nƣớc mà họ có quốc tịch” [33, tr.25].
Các quốc gia trên thế giới cũng dựa trên những tiêu chí khác nhau để xác
định những TCTMCYTNN nhƣng nhìn chung đều căn cứ vào ba dấu hiệu là:
chủ thể trong quan hệ tranh chấp là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có
trụ sở thƣơng mại ở các nƣớc khác nhau; đối tƣợng của quan hệ tranh chấp
nhƣ hàng hoá, dịch vụ... ở nƣớc ngoài; sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt quan hệ tranh chấp xảy ra ở nƣớc ngoài.
9
mang quốc tịch. Trên thế giới, thông thƣờng quốc tịch của một pháp nhân
đƣợc xác định theo những cơ sở sau:
- Nơi thành lập pháp nhân hoặc nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân đó;
(Luật Anh, Mỹ thƣờng áp dụng tiêu chuẩn này);
11
- Nơi đặt trung tâm quản lý hoặc nơi đặt trụ sở ban quản lý hành chính,
ban quản trị của pháp nhân đó (Luật một số nƣớc Châu Âu);
- Nơi kinh doanh chính hoặc nơi hoạt động đầu tƣ chính của pháp nhân
(luật một số nƣớc đang phát triển)[9, tr.114].
Pháp luật Việt Nam quy định: “Thƣơng nhân nƣớc ngoài là thƣơng nhân
đƣợc thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nƣớc ngoài
hoặc đƣợc pháp luật nƣớc ngoài công nhận” (Khoản 1 Điều 16 Luật thƣơng
mại 2005) . Đây là một dấu hiệu rất quan trọng để nhận biết thƣơng nhân
nƣớc ngoài có đủ tƣ cách pháp lý để tham gia vào các giao dịch thƣơng mại
tại Việt Nam hay không? Đồng thời tƣ cách chủ thể cũng là một yếu tố để
xem xét các thoả thuận của các cá nhân, tổ chức nƣớc ngoài trong các quan hệ
thƣơng mại có hợp pháp hay không?
b) Căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ tranh chấp ở
nước ngoài
Tuy các bên trong quan hệ tranh chấp có quốc tịch giống nhau nhƣng
nếu những sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ
tranh chấp đó xảy ra ở một nƣớc khác nƣớc mà họ mang quốc tịch thì đó cũng
là TCTMCYTNN. Pháp luật Việt Nam quy định những tranh chấp thƣơng
mại mà có thể các bên đều là các cá nhân, tổ chức Việt Nam nhƣng những căn
cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ tranh chấp này xảy ra ở một quốc
gia khác thì cũng đƣợc coi là tranh chấp có yếu tố nƣớc ngoài. Ví dụ, hai công
ty Việt Nam ký kết một hợp đồng thƣơng mại ở nƣớc ngoài, một bên tham gia
- Quy tắc LaHaye ngày 15/06/1955 về Luật áp dụng vào hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế.
- Công ƣớc Roma về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp
đồng đƣợc ký tại Rome ngày 19/06/1980.
13
- Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam – Liên minh Châu Âu:
Hiệp định này chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất xứ hàng hoá,
hạn ngạch (quota) và quy định danh mục mặt hàng và hạn ngạch. Hiệp định
trực tiếp điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng dệt may của các doanh
nghiệp nƣớc ta với các thƣơng nhân trong liên minh Châu Âu.
- Hiệp định thƣơng mại Việt – Mỹ (BTA): Hiệp định này đƣợc ký kết
vào ngày 13/07/2000, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. Cho đến nay,
đây là hiệp định thƣơng mại song phƣơng mang tính tổng thể và bao quát
nhất. Hiệp định không chỉ đề cập đến thƣơng mại hàng hoá mà còn chứa đựng
những điều khoản về thƣơng mại dịch vụ, đầu tƣ và sở hữu trí tuệ.
ii)
Tập quán thương mại quốc tế
Tập quán thƣơng mại quốc tế là những quy tắc xử sự phổ biến đƣợc thừa
nhận và áp dụng rộng rãi ở một khu vực nhất định (tập quán khu vực) hoặc
trên phạm vi toàn cầu (tập quán toàn cầu)[9, tr.34]. Các tập quán đƣợc hình thành
từ lâu đời trong các quan hệ thƣơng mại quốc tế, khi đƣợc các chủ thể ký kết
hợp đồng mua bán quốc tế chấp nhận sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh đối
với các hợp đồng giữa các chủ thể đó với nhau. Trong quan hệ mua bán quốc
tế, tập quán thƣơng mại đóng vai trò quan trọng, vì tuy có thể không đƣợc đề
cập chính thức trong các văn bản giao dịch nhƣng trong thực tiễn mỗi khi có
tranh chấp các tập quán thƣơng mại thƣờng đƣợc dẫn chiếu để áp dụng.
về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ. Xuất phát
từ những đặc thù của hoạt động thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài, việc giải
quyết TCTMCYTNN phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, việc giải quyết các TCTMCYTNN phải phù hợp với thông lệ
quốc tế
15
Hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc giải quyết
TCTMCYTNN không thể tách rời với yêu cầu phù hợp với thông lệ quốc tế.
Để tạo ra môi trƣờng đầu tƣ thân thiện, cởi mở và an toàn cho các nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài, nhiều quốc gia đã và đang tiến hành sửa đổi, hoàn thiện hệ thống
pháp luật về trọng tài của mình trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc chung
trong Luật mẫu. Điều này có nghĩa là việc giải quyết TCTMCYTNN không
chỉ đáp ứng đƣợc những yêu cầu của nền kinh tế trong nƣớc mà còn phải tôn
trọng, tuân thủ các nguyên tắc, quy định chung đã đƣợc cộng đồng quốc tế
thừa nhận. Nếu một quốc gia không tuân thủ các nguyên tắc này sẽ khiến cho
các đối tác nƣớc ngoài cảm thấy lo ngại trƣớc những rủi ro có thể xảy ra đối
với họ do sự khác biệt trong việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại tại quốc
gia đó so với các nƣớc khác và so với thông lệ quốc tế chung. Chính vì thế
việc giải quyết TCTMCYTNN phải đƣợc đặt trong quỹ đạo chung của thế
giới, phù hợp với pháp luật của các nƣớc cũng nhƣ pháp luật quốc tế.
Thứ hai, việc giải quyết TCTMCYTNN phải tôn trọng quyền tự định đoạt
của các bên
Yêu cầu này là nguyên tắc cơ bản đối với việc giải quyết các tranh chấp
trong quá trình hoạt động thƣơng mại quốc tế. Các tranh chấp đều phát sinh từ
những quan hệ đƣợc thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và thoả thuận.
Bởi vậy, khi giải quyết tranh chấp cũng phải đảm bảo tôn trọng quyền tự định
đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp hoàn toàn có quyền chủ động
Việc giải quyết TCTMCYTNN cũng phải đảm bảo sự công bằng giữa
các bên tranh chấp, đặc biệt trong trƣờng hợp các bên tranh chấp có quốc tịch
khác nhau. Các thƣơng nhân nƣớc ngoài có thể chấm dứt quan hệ hợp tác,
không tiếp tục đầu tƣ tại một quốc gia nếu nhƣ họ cảm thấy mình có thể phải
gánh chịu những rủi ro, tổn thất vì pháp luật nƣớc sở tại thiếu tính công bằng.
Sự đối xử bất bình đẳng giữa các bên tranh chấp sẽ khiến cho việc giải quyết
17
tranh chấp chỉ là hình thức, quyền lợi của các bên không đƣợc đảm bảo tƣơng
xứng đồng thời làm giảm thiểu niềm tin của các thƣơng nhân vào tính chính
xác, khách quan của pháp luật.
Thứ tư, việc giải quyết TCTMCYTNN phải bảo đảm bí mật kinh doanh
của các bên đồng thời duy trì quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên
Yêu cầu đảm bảo bí mật kinh doanh cũng là một yêu cầu quan trọng đối
với việc giải quyết TCTMCYTNN. Mỗi doanh nghiệp đều có bí mật công
nghệ, kỹ thuật, quy trình sản xuất, nghệ thuật quản lý của riêng mình. Trong
khi đó, nếu tranh chấp đƣợc đƣa ra phân xử bởi một cơ quan tài phán ít nhiều
sẽ tiết lộ bí quyết kinh doanh, công nghệ của các bên. Mặt khác, các bên tranh
chấp rất ngại việc thông tin về vụ tranh chấp có thể bị lan rộng khiến cho các
bên đang bị dính vào rắc rối bị giảm sút uy tín và mất đi nhiều cơ hội kinh
doanh. Chính vì thế, các nhà kinh doanh luôn muốn lựa chọn những phƣơng
thức giải quyết tranh chấp hiệu quả nhƣng phải kín đáo, không công khai.
Trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, quan hệ hợp tác với bạn hàng là
yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh. Khi tranh chấp phát sinh, quan hệ
giữa các bên sẽ bị ảnh hƣởng. Hoạt động giải quyết tranh chấp phải giúp các
bên tháo gỡ những bất đồng, góp phần làm cho các bên hiểu nhau hơn, và có
thể vì vậy mà quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên không những đƣợc duy trì
mà còn đƣợc củng cố tốt đẹp hơn. Do đó, khi giải quyết tranh chấp thƣơng
mại điều mà các nhà kinh doanh (đặc biệt là các nhà kinh doanh nƣớc ngoài
pháp luật nên nhiều thỏa thuận, cam kết đạt đƣợc từ thƣơng lƣợng có thể trái
với các nguyên tắc và nội dung của pháp luật, trật tự công cộng, đạo đức xã
hội hoặc tạo cơ hội cho những tranh chấp, sai phạm pháp luật tiếp theo; thứ
ba, nếu một trong các bên không thiện chí sẽ lợi dụng thƣơng lƣợng nhƣ một
19
kế sách hoãn binh, kéo dài thời gian giải quyết để đạt đƣợc những ý đồ, mục
đích nhất định thì thƣơng lƣợng thành cái bẫy đối với những đối tác thiếu tỉnh
táo và cả tin.
1.2.2.2 Hòa giải
Nếu việc thƣơng lƣợng trực tiếp giữa các bên không đi đến kết quả, thì
sự tham gia của bên thứ ba có thể có ích cho các bên đƣơng sự, nhất là khi họ
có thể không cùng một quốc tịch. Khi đó, giải pháp hòa giải có thể đƣợc các
bên lựa chọn để giải quyết các tranh chấp. Giải quyết TCTMCYTNN bằng
hòa giải giúp các nhà kinh doanh giữ gìn đƣợc quan hệ kinh tế, giữ gìn đƣợc
uy tín và sự tín nhiệm của bạn hàng, khách hàng. Kết quả hòa giải thành
không đồng nghĩa với sự thắng – thua, không dẫn đến tình trạng đối đầu, căng
thẳng nhƣ kết cục các vụ kiên tụng tại tòa án.
1.2.2.3 Tòa án
Giải quyết tranh chấp thƣơng mại theo thủ tục tƣ pháp là hình thức giải
quyết tranh chấp mà theo đó, một bên, bằng đơn kiện, yêu cầu tòa án có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp; và tòa án theo thủ tục luật định sẽ đƣa ra phán
quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên[23, tr.91].
Điều hấp dẫn các bên tranh chấp chính là các phán quyết của Toà án
đƣợc cƣỡng chế thi hành bằng sức mạnh của quyền lực nhà nƣớc bởi một cơ
quan chuyên trách việc thi hành án. Điều đó có nghĩa là bên thắng trong quan
hệ tranh chấp sẽ đƣợc đảm bảo về việc khôi phục những quyền lợi đã bị bên
kia vi phạm. Tuy nhiên, TCTMCYTNN có những đặc thù và yêu cầu riêng
các bên tranh chấp phải thi hành. Phƣơng thức trọng tài có nhiều điểm phù
hợp với việc giải quyết TCTMCYTNN, đáp ứng đƣợc yêu cầu của các bên
tranh chấp, cụ thể:
21