Đề tài số 12: Luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương
mại có yếu tố nước ngoài bằng trọng tài
MỤC LỤC
Trọng tài thương mại được xem là một phương thức hiệu quả trong việc
giải quyết các tranh chấp giữa các bên tham gia hoạt động thương mại. Theo
Công ước quốc tế về Luật Trọng tài, các quyết định của trọng tài thương mại
có tính pháp lý tương đương của tòa án, có tính ràng buộc chặt chẽ. Nhưng so
với phán quyết của Tòa án, quyết định của trọng tài thương mại mềm dẻo hơn,
nhanh chóng hơn và được coi là kết quả cuối cùng nên không có trường hợp
kháng cáo. Các thủ tục phân xử trọng tài cũng không được công bố công khai,
giúp quá trình phân xử nhanh chóng.
Do đó, tìm đến trọng tài thương mại, các bên liên quan sẽ tiết kiệm được
nhiều thời gian, tiền bạc và không làm căng thẳng quan hệ. Với những ưu điểm
vượt trội của mình, trọng tài đã và đang là phương thức giải quyết tranh chấp
hiệu quả trong thương mại quốc tế.
Trong bài này, em xin trình bày những vấn đề pháp lý liên quan đến “Luật
áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bằng
trọng tài với những nội dung chủ yếu sau:
- Trọng tài thương mại và vai trò của nó trong việc giải quyết tranh chấp
thương mại có yếu tố nước ngoài
- Vấn đề xác định luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại có
yếu tố nước ngoài bằng trọng tài
- Sự phát triển của luật trọng tài Việt Nam, mối tương quan của nó với
pháp luật quốc tế
I. TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG
VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI
1. Khái niệm về tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
1
bằng trọng tài so với tòa án
1
Nguyên Bà Diến (Chủ biên), Giáo trình Luật Thương Mại Quốc tế, Nxb Đại Học Quốc gia Hà Nội
2005, Tr 581
2
Vai trò của trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố
nước ngoài là không thể phủ nhận. Phương thức giải quyết tranh chấp này có
nhiều điểm nổi bật hơn so với tòa án. Hiện nay, thay vì đưa nhau ra tòa khi xảy
ra tranh chấp, các bên trong quan hệ thương mại đã có xu hướng tìm đến sự hỗ
trợ từ phía trọng tài thương mại. Đây là xu hướng tất yếu khi mà những ưu
điểm của trọng tài trong bối cảnh kinh tế hiện nay rõ ràng đã vượt trội hơn so
với tòa án.
Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh nước CHXHCN Việt
Nam quyết định đưa cụ tranh chấp ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự được
quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tố tụng như vậy đương nhiên
phải chặt chẽ, với nhiều thủ tục rườm rà, thời gian kéo dài, xét xử công khai, án
được tuyên không tùy thuộc ý chí các bên mà là kết quả nghị án của Hội đồng
xét xử; án đã tuyên dù có quyền kháng cáo, những “gỡ” được không phải dễ. 2
Trong khi đó, trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ nhận
giải quyết các vụ án tranh chấp khi các bên có thỏa thuận bằng văn bản về việc
chọn trọng tài. Quá trình giải quyết được thực hiện theo nguyên tắc “phân xử
trọng tài” phù hợp với quy định trong Luật trọng tài thương mại và quy chế của
tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn.
Xét về mặt tổng quát, so với phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa
án thì việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có một số
Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật
Tính bí mật của tố tụng trọng tài được coi là một trong các ưu điểm quan
trọng của trọng tài.Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng
biệt. Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc
trọng tài xử kín nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện rõ ở nội
dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin
cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh
tranh.
Một cựu Tổng thư ký của ICC đã phát biểu: “Khi được yêu cầu đưa ra các
đặc điểm của trọng tài thương mại quốc tế có tính hấp dẫn các bên tranh chấp
so với tòa án, thì tính bí mật của trọng tài và thực tế là việc tố tụng này và các
phán quyết trọng tài được tuyên không được công khai, gần như lúc nào cũng
được nhắc đến”3
Với tính chất như vậy, cơ chế này đảm bảo bí mật kinh doanh và uy tín
nghề nghiệp của các thương nhân tham gia tranh chấp, tránh cho các chi tiết
của vụ tranh chấp phơi bày trước tòa án và công chúng – điều mà các doanh
nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình.
Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục
3
Báo cáo chuyên gia của Stephen Bond, Esso/BHP kiện Plowman, (1995) 11 Arbitration International
No.8, trang 273
4
Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa chọn
trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá
trình tố tụng. Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài (Uỷ ban
trọng tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải
trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối đa là 6
tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời.
Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà
khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ
hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những
bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ
nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối
tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết
định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong
quan hệ làm ăn trong tương lai.
Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các
chuyên gia
Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên
đương sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án.
Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu
biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên
ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ…
Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – một tổ
chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án trên
các mặt sau:
Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại về
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết
định trọng tài.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị
xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Toà án áp
Vấn đề luật áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố
nước ngoài bằng trọng tài cần đảm bảo cả pháp luật hình thức, pháp luật nội
dụng lẫn luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài.
2. Luật áp dụng cho nội dung
Luật áp dụng cho nội dung sẽ xác định giá trị pháp lý của các quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Khi thực hiện hợp đồng, các bên cần phải
7
biết luật nào áp dụng cho hợp đồng bởi các điều khoản hợp đồng không phải
lúc nào cũng quy định đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên.
Trong thương mại quốc tế, luật áp dụng hoàn toàn do các bên tự do lựa
chọn. Tùy theo khả năng đàm phán, luật áp dụng có thể là luật của quốc gia của
một bên, ví dụ như luật của nước bên bán hoặc bên mua hoặc là luật của một
nước trung lập. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng
thì Hội đồng Trọng tài sẽ quyết định luật phù hợp nhất với quan hệ hợp đồng.
2.1. Quyền thỏa thuận của các bên tranh chấp về luật áp dụng cho nội
dung
Pháp luật nội dung là tất cả những điều khoản có liên quan đến các điều
ước quốc tế, tập quán quốc tế, pháp luật quốc gia… được áp dụng để điều
chỉnh quan hệ tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài.
Thông thường người ta công nhân cho các bên tham gia vào hợp đồng
thương mại quốc tế có quyền tự do lựa chọn luật (hoặc các quy tắc pháp lý) 4 để
điều chỉnh hợp đồng. Cả các công ước quốc tế và các quy tắc mẫu về tố tụng
trọng tài thương mại quốc tế đều khẳng định các bên có quyền tự do lựa chọn
luật áp dụng cho hợp đồng của mình.
Quy tắc UNCITRAL quy định: “Hội đồng trọng tài áp dụng luật mà các
bên chọn làm luật áp dụng cho nội dung vu tranh chấp”.5
Trong số các quy tắc của các tổ chức trọng tài, quy tắc ICC quy định:
làm. Hội đồng trọng tài quyết định chọn luật áp dụng dựa vào các quy phạm
pháp luật xung đột, pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế.
Quy tắc UNCITRAL quy định rằng nếu các bên không quy định luật áp
dụng thì hội đồng trọng tài sẽ áp dụng “luật được xác định bởi các quy tắc xung
đột pháp luật được coi là thích hợp”.8
Luật Mẫu cũng quy định tương tự như vậy. 9 Quy định này nhằm chỉ rõ
rằng hội đồng trọng tài được quyền lựa chọn luật điều chỉnh hợp đồng, trong
trường hợp các bên không có sự lựa chọn luật một cách rõ ràng hoặc ngụ ý.
Trong trường hợp được quyền lựa chọn luật, các trọng tài viễn sẽ tiến hành lựa
chọn một cách khách quan, Trên thực tế, hội đồng trọng tài sẽ áp dụng luật mà
hội đồng trọng tài cho là phù hợp. Khi đi đến quyết định về luật áp dụng trong
trường hợp các bên không quy định, một hội đồng trọng tài có quyền (trừ khi
các quy tắc áp dụng hoặc luật điều chỉnh tố tụng trọng tài – lex arbitri có quy
định khác) “lựa chọn bất kỳ một hệ thống pháp luật hoặc quy tắc của luật nào,
theo đó bản thân các bên của hợp đồng đã thỏa thuận, nếu họ được làm như
vậy”.10
2.3. Nguồn luật được áp dụng
7
Julian D. M. Lew, Applicable Law in International Commercial Arbitration (1978), Trang 75
Điều 33 Quy tắc Tố tụng Trọng tài UNCITRAL.
9
Điều 28 (2) UNCITRAL Model Law on International Commercial Arbitration
10
Alan Redfern and Martin Hunter with Nigel Blackaby and Constantine Partasides, Pháp luật và Thực
tiễn Trọng tài Thương mại Quốc tế, Tr.149
8
9
một hệ thống pháp luật để điều chỉnh hoạt động trọng tài thương mại quốc tế là
thông qua các công ước quốc tế (và gần đây là luật Mẫu). Các công ước quốc tế
11
Alan Redfern and Martin Hunter with Nigel Blackaby and Constantine Partasides, tài liệu đã dẫn, Tr
118
10
đóng vai trò kết nối các hệ thống pháp luật khác nhau vào thành một hệ thống
pháp luật thống nhất và dễ dàng trong việc áp dụng.
Công ước New York là một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất
liên quan tới trọng tài thương mại quốc tế. “Quả thực như vậy, nó được coi như
là nhân tố chủ yếu trong tiến trình phát triển của trọng tài như là một phương
thức để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế”. 12 Mục tiêu của Công
ước New York là tạo ra những tiêu chuẩn pháp lý chung cho việc công nhận
các thỏa thuận trọng tài cũng như việc công nhận và thi hành các quyết định
trọng tài nước ngoài. Theo đó các quốc gia thành viên Công ước không được
phân biệt đối xử đối với các quyết định trọng tài nước ngoài và có nghĩa vụ
phải đảm bảo các phán quyết trọng tài nước ngoài được công nhận và có khả
năng thi hành giống như các quyết định trọng tài trong nước. Ngoài ra, Công
ước New York còn yêu cầu tòa án của các nước thành viên trao hiệu lực đầy đủ
cho thỏa thuận trọng tài bằng cách từ chối giải quyết các các tranh chấp có dẫn
chiếu đến một thoả thuận trọng tài.
Việt Nam gia nhập công ước New York vào ngày 12/12/1995, đây là một
trong nhưng nguồn luật áp dụng quan trọng khi giải quyết tranh chấp thương
mại có yếu tố nước ngoài.
Bên cạnh công ước New York, Việt Nam còn ký kết các Hiệp định song
phương, đa phương về thương mại, đầu tư, mà những hiệp định này cũng có
dân và công ty của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và các công dân và
công ty của Hợp Chúng Quốc Hòa Kỳ.”13
Ngoài các hiệp định thương mại song phương như đã nói ở trên, vấn đề
giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài còn được nhác đến trong nhiều
hiệp định khác như Hiệp định về khuyến khiacsh và bảo hộ đầu tư, hiệp định
về buôn bán hàng dệt may Việt Nam- Eu, Hiệp định khung về thiết lật khu vực
đầu tư ASEAN, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ, …
Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia là nguồn quan
trọng trọng viêc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài, là
nhân tố góp phần đơn giản hóa trong việc áp dụng luật cho giải quyết tranh
chấp.
Tập quán thương mại
Tập quán thương mại bao gồm các quy tắc và thực tiễn đã phát triển trong
các cộng đồng kinh doanh quốc tế. Luật này có thể thích ứng được với các nhu
cầu của thương mại quốc tế hiện đại và có thể áp dụng thống nhất. Luật trọng
tài thương mại 2010 của Việt Nam cũng thừa nhận việc sử dụng tập quán
thương mại làm cơ sở để giải quyết tranh chấp “Trường hợp pháp luật Việt
Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đề nội
13
Khoản 2, Điều 7 Hiệp định Thương Mại Việt Mỹ
12
dung tranh chấp thì hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải
quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái
với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.14
Quy tắc của các tổ chức trọng tài (như các quy tắc ICC) và các quy trắc
trọng tài quốc tế (như quy tắc UNCITRAL) đòi hỏi hội đồng trọng tài phải xem
Điều 1054
18
Trung tâm Thương Mại Quốc tế Việt Nam, Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa
chọn: giải quyết các tranh chấp thương mại như thế nào, Tr 125
15
13
trọng tài viên, ít nhất cho tới phạm vi mà các bên đã không quy định đưa tranh
chấp của họ ra xét xử theo các quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực.
Tóm lại, luật áp dụng quy định các quy tắc mà theo đó một phán quyết trọng tài
có thể được công nhận và thi hành, hoặc bị huỷ.
Bằng thoả thuận đưa tranh chấp ra xét xử theo quy tắc của một tổ chức
trọng tài thường trực, các bên chấp nhận tuân thủ các quy tắc của tổ chức đó.
Các quy tắc này không giống nhau giữa các tổ chức. Quy tắc của một số tổ
chức gần như không có điều khoản nào khác ngoài những điều khoản liên quan
tới chỉ định trọng tài viên. Quy tắc của những tổ chức khác như Quy tắc của
ICC quy định cụ thể hơn, liên quan cả đến việc tổ chức và giám sát toàn bộ tố
tụng do tổ chức đó thực hiện, bắt đầu từ khi nộp yêu cầu xét xử trọng tài cho tổ
chức cho tới khi thông báo phán quyết trọng tài.
Các bên và hội đồng trọng tài cần biết rõ về các quy tắc thủ tục mà họ sẽ
phải tuân thủm đặc biệt là trong tố tụng trọng tài quốc tế, khi mà các bên
thường có nền tảng kiến thức khác nhau. Các quy tắc của các tổ chức trọng tài
quốc tế như ICC hay LCIA hay các quy tắc của các tổ chức trọng tài Việt Nam
như ACIAC, TRACENT đều quy định một cách tổng thể cho quá trình tiến
hành tố tụng trọng tài.
Có thể tóm tắt quy trình tố tụng trọng tài tại VIAC như sau:1) Nguyên
đơn nộp đơn kiện. 2)VIAC tiếp nhận hồ sơ đơn kiện và ra thông báo. 3) Bị đơn
nộp bản tự bảo vệ. 4) Thành lập hội đồng trọng tài. 5) VIAC chuyển hồ sơ vụ
cho thấy, đối với các vấn đề về thoả thuận trọng tài, các trọng tài viên Việt
Nam thường chỉ phải giải quyết sự mập mờ, không rõ nghĩa trong thoả thuận
chọn trọng tài giải quyết tranh chấp, mà hiếm khi phải xác định luật áp dụng
cho thoả thuận trọng tài vì vấn đề hiệu lực của nó, đặc biệt là trường hợp các
bên tranh chấp không thoả thuận về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài.
Tóm lại, một thoả thuận trọng tài, trong bất kỳ bối cảnh nào, cũng sẽ có
hiệu lực nếu phù hợp với các quy định trong luật được các bên thoả thuận. Tuy
nhiên, nếu không có sự thoả thuận của các bên, thì không có bộ quy tắc nào về
chọn luật điều chỉnh thoả thuận trọng tài được sử dụng chung cho các trọng tài
viên. Việc xem xét luật điều chỉnh hiệu lực của thoả thuận trọng tài phụ thuộc
vào từng giai đoạn tố tụng trọng tài mà sẽ có những quyết định riêng rẽ, chẳng
hạn, luật nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều
chỉnh nội dung tranh chấp. Vì vậy, để tránh những rắc rối có thể xảy ra trong
quá trình trọng tài, các bên nên dành thời gian để thoả thuận kỹ lưỡng về điều
khoản trọng tài cũng như luật áp dụng đối với nó.
20
Điều V(1)(a) Công ước New York 1858 về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước
ngoài
21
Trần Minh Ngọc (2009), Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài trong Trọng tài Thương mại Quốc
tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật 1(249), Tr 49-53
15
III. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI Ở VIỆT
NAM
1. Luật trọng tài Việt Nam từ pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
đến luật Trọng tài thương mại 2010
sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Dân sự, Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành
khác với Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM). Luật TTTM đã dỡ bỏ hạn
chế của Pháp lệnh TTTM về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại
của Trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài tới
nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên (Điều 2 Luật
TTTM). Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật TTTM so
với Pháp lệnh TTTM và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của
các nước trên thế giới.
- Loại bỏ bớt các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được coi là
không cần thiết. Luật trọng tài thương mại 2010 đã bỏ quy định về thỏa thuận
trọng tài vô hiệu khi không chỉ rõ tên tổ chức trọng tài giải quyết. Nếu thỏa
thuận hai bên không rõ ràng thì nguyên đơn được quyền chọn lựa tổ chức trọng
tài để khởi kiện.
- Luật TTTM có quy định tại Điều 17 nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong
việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp.
Lần đầu tiên, luật quy định tranh chấp liên quan đến người tiêu dùng thì
ưu tiên cho người tiêu dùng được quyền chọn lựa phương thức giải quyết tranh
chấp là trọng tài hoặc Tòa án mà không cần sự chấp thuận của nhà cung cấp
hàng hóa, dịch vụ.
Theo Luật Trọng tài thương mại (Điều 17), đối với các tranh chấp giữa
nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, dù điều khoản trọng tài đã
được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà
cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa
chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa,
dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp
thuận.
Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt
ở một vị thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản
50). Quy định của Luật đã tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRAL được
thông qua năm 2006 nhằm giúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn.
- Hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy
định không phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về quyền của một bên
được gửi đơn lên Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý
với quyết định trọng tài”, bởi vì các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố
22
Điều 9, 10, Luật trọng tài thương mại 2010
18
tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của phán quyết
trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận.
- Luật TTTM là đã tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố
tụng là nguyên tắc rất quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố
tụng của các nước phát triển. Quy định mới của Luật (Điều 13) xác định, khi
một bên nhận thấy những quy định của Luật hoặc của thoả thuận trọng tài bị vi
phạm mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối vi phạm đó
trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Toà án. Quy
định này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các hành vi cơ hội trong tố
tụng trọng tài.
- Luật Trọng tài thương mại 2010 đã thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa
Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các
bên. Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ
pháp lý quan trọng này: xác định rõ Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động
trọng tài và liệt kê 8 nội dung thẩm quyền của Toà án trong quan hệ với Trọng
tài bao gồm: thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng cứ; đăng ký phán quyết trọng
tài; tuyên thoả thuận trọng tài vô hiệu; xác định thẩm quyền của Hội đồng trọng
ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, triệu tập nhân chứng, thu
thập chứng cứ. Chính đó đảm bảo quá trình trọng tài được diễn ra nhanh chóng,
kịp thời và hiệu quả hơn.
Luật trọng tài thương mại đã thể hiện rất rõ nguyên tắc được quốc tế công
nhận. Đó là những quy tắc áp dụng đối với quy trình tố tụng trọng tài sẽ do các
bên thoả thuận, giúp cho pháp luật về trọng tài của Việt Nam tiến gần hơn tới
các chuẩn mực quốc tế, cụ thể là Luật Trọng tài mẫu quốc tế UNCITRAL.
Thậm chí, luật có một điểm khác biệt quan trọng so với luật mẫu đó là mở rộng
phạm vi áp dụng với mọi loại tranh chấp chứ không hạn chế ở các tranh chấp
thương mại.
IV. KẾT LUẬN
Tầm quan trọng của luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế bằng trọng tài là không thể phủ nhận. Vấn đề đặt ra ở đây hiện nay là
từng bước hoàn thiện hơn nữa hệ thống Luật pháp quốc gia, tiến tới phù hợp
với xu hướng chung của quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cần áp dụng pháp luật
một cách có hiệu quả, để Trọng tài thương mại trở thành sự lựa chọn hàng đầu
của các doanh nghiệp Việt Nam khi xảy ra tranh chấp.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật trọng tài thương mại 2010
20
2. Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
3. Luật Mẫu Về trọng tài thương mại quốc tế 1985, sửa đổi 2006
4. Quy tắc Tố tụng Trọng tài UNCITRAL
5. Quy Tắc Tố tụng trọng tài ICC
6. Quy tắc Tố tụng Trọng tài VIAC
7. Quy tắc Tố tụng Trọng tài ACIAC
8. Quy tắc Tố tụng Trọng tài TRACENT