ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH GIÁP
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
BẰNG TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH GIÁP
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
BẰNG TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.4. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài14
1.4.1. Giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng phƣơng
thức thƣơng lƣợng ........................................................................................... 14
1.4.2. Giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng phƣơng
thức hòa giải .................................................................................................... 15
1.4.3. Giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng phƣơng
thức Tòa án ...................................................................................................... 16
1.4.4. Giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng phƣơng
thức Trọng tài .................................................................................................. 17
1.5. Lƣợc sử hình thành và phát triển của Trọng tài ....................................... 20
1.5.1 Giai đoạn từ 1960 - 1993 ...................................................................... 21
1.5.2. Giai đoạn từ 1993 đến nay .................................................................... 24
1.6. Hệ thống pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp thƣơng mại có
yếu tố nƣớc ngoài ............................................................................................ 26
1.7. Những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật về giải quyết tranh chấp thƣơng
mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam .................................. 28
1.7.1. Nguyên tắc thỏa thuận ........................................................................... 28
1.7.2. Nguyên tắc Trọng tài viên phải độc lập, khách quan vô tƣ khi giải quyết
tranh chấp ........................................................................................................ 29
1.7.3. Nguyên tắc giữ bí mật nội dung vụ việc tranh chấp ............................. 30
1.7.4. Nguyên tắc chung thẩm......................................................................... 30
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI BẰNG TRỌNG TÀI ............................................................ 32
2.1. Thực trạng quy định của Pháp luật về giải quyết tranh chấp Thƣơng mại
có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam ......................................... 32
2.1.1. căn cứ xác định thẩm quyền của Trọng tài ........................................... 32
3.4.1 Về định nghĩa về thỏa thuận Trọng tài: ................................................. 63
3.4.2 Về hình thức của thỏa thuận trọng tài: ................................................... 63
3.5 Hoàn thiện quy định của pháp luật về trọng tài vụ việc ........................... 64
3.6 Các biện pháp hỗ trợ, đảm bảo nâng cao trình độ của đội ngũ Trọng tài
viên .................................................................................................................. 65
3.7 Nâng cao nhận thức, hiểu biết của thƣơng nhân, doanh nghiệp về Trọng
tại thƣơng mại ................................................................................................. 66
3.8 Cần đảm bảo sự hỗ trợ tích cực đối với hoạt động trọng tài từ tòa án, Viện
kiểm sát, cơ quan thi hành án. ......................................................................... 67
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 71
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bƣớc tiến mạnh mẽ
trong phát kinh tế. Để đạt đƣợc điều này, Việt Nam đã tích cực thu hút đầu tƣ
nƣớc ngoài nhằm tranh thủ vốn và công nghệ của các nƣớc tiên tiến. Bên cạnh
đó, Việt Nam đã chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một xu thế phát triển tất
yếu của các nền kinh tế thế giới. Năm 1993, Việt Nam đã khai thông quan hệ
với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế nhƣ: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân
hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)... Năm 1995, Việt
Nam đã chính thức gia nhập Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á (ASEAN), đồng
thời tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Với sự gia nhập này,
Việt Nam khẳng định đƣợc vị trí kinh tế của mình trong khu vực và trên thế
giới. Tháng 3 năm 1996, Việt Nam đã tham gia Diễn đàn hợp tác Á Âu
(ASEM) với tƣ cách là thành viên sáng lập. Tháng 11 năm 1998, Việt Nam
chính thức gia nhập Diễn đàn kinh tế Châu Á - Thái Bình Dƣơng (APEC).
Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thƣơng mại lớn
nhất thế giới WTO sau 12 năm nộp đơn xin gia nhập. Chính vì điều này mà
Nhƣ chúng ta đã biết, vấn đề giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng
Trọng tài tại Việt Nam có thể nói không phải là vấn đề hoàn toàn xa lạ ở Việt
Nam, nhƣng nó vẫn là chủ đề rất nóng trong những năm gần đây. Xung quanh
vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học do các nhà khoa
học pháp lý của Việt Nam nghiên cứu. Và trong những năm trở lại đây, khi
xây dựng pháp luật trọng tài thƣơng mại đang đặt ra nhƣ một yêu cầu cấp
thiết thì vấn đề này càng đƣợc quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn. Các công
trình nghiên cứu đề tài này đƣợc thực hiện dƣới nhiều hình thức và những góc
độ khác nhau. Một số luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu liên quan đến vấn đề
trọng tài nhƣ: Luận văn Thạc sỹ “Tác động của những quy định mới trong
Luật trọng tài thương mại tới hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại tại
2
trọng tài ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Thanh Huyền năm 2012; Luận văn
Thạc sỹ “Pháp luật về thi hành phán quyết của trọng tài thương mại ở Việt
Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Mạnh Cƣờng năm
2012; Luận văn Thạc sỹ “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài
thương mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Đặng Thị Minh Ngọc
năm 2013; Luận văn Thạc sỹ “Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại” của Nguyễn Thị Hiển năm 2013.
Ngoài ra, còn có những bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu về Trọng tài
dƣới nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ PGS.TS Phạm Hữu Nghị có bài “Về cơ chế
giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” đăng trên báo
Đời sống Pháp luật số ra ngày 23/8/2010; LS Trần Hữu Huỳnh có bài “Pháp luật
trọng tài thương mại những thử thách phía trước” đăng trên báo Tiền Phong số ra
ngày 20/7/2011; Ths. Dƣơng Văn Hậu có bài viết “Bàn về điều kiện, tiêu chuẩn
của Trọng tài viên” đăng trên Tạp chí Luật học tháng 6/2000. Ngoài ra thì việc
nghiên cứu vấn đề giải quyết tranh chấp thƣơng mại nói chung, tranh chấp thƣơng
mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài còn đƣợc thể hiện ở nhiều ấn phẩm khác
Nghiên cứu việc giải quyết các tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc
ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam có phạm vi rất rộng bởi các tranh chấp có yếu
tố nƣớc ngoài rất phong phú; phƣơng thức giải quyết cũng rất đa dạng. Vì vậy,
với tính chất của đề tài này, luận văn không nghiên cứu tất cả các vấn đề về giải
quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam
mà chỉ đặt trọng tâm vào việc làm rõ các đặc trƣng pháp lý cũng nhƣ thực tiễn
của quá trình giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng trọng
tài tại Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với những yêu cầu đặt ra từ đề tài này, luận văn sử dụng phổ biến các
phƣơng pháp nghiên cứu khoa học nhƣ: phân tích; tổng hợp; so sánh luật học;
khảo sát đánh giá thực tiễn, thống kê…
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm phong phú thêm kiến thức khoa học luật
chuyên ngành, cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài,
những yêu cầu đặt ra cho việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố
nƣớc ngoài trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh giá trị lý luận, đề tài nghiên cứu còn mang giá trị thực tiễn với
việc phân tích những bất hợp lý trong cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại
có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam, góp phần nâng cao chất lƣợng
giải quyết bằng hình thức Trọng tài trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chương 1. Một số vấn đề chung về giải quyết tranh chấp thƣơng mại có
yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam;
dân sự không có sự phân biệt và đều là những tranh chấp về quyền và lợi ích
của các bên khi tham gia vào quan hệ xã hội.
Thời kỳ Pháp thuộc, theo quan niệm của Bộ Luật Thƣơng mại Pháp, thƣơng
mại tách biệt với dân sự nhƣng chỉ là một dạng đặc thù của quan hệ dân sự. Các
hành vi thƣơng mại bao gồm 6 loại: mua tài sản để bán lại; các xí nghiệp sản
xuất, chuyên chở những hãng thầu cung cấp vật liệu, những hãng bán đấu giá
6
công khai; các nghiệp vụ hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng khoán, bảo hiểm;
các nghiệp vụ trung gian, đại diện, đại lý thương mại; khai thác hầm mỏ và
nguyên liệu; giải trí công cộng: nhà hát, rạp chiếu phim, rạp xiếc.
Còn theo Bộ luật Thƣơng mại của Việt Nam Cộng hòa, hành vi thƣơng
mại đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: Các hành vi chế tạo, chế biến các
sản phẩm kỹ nghệ; Khai thác hầm mỏ và nguyên liệu; Mua hàng để bán lại;
Thuê tài sản; Các hoạt động vận chuyển, bảo hiểm, hối đoái ngân hàng, giao
dịch chứng khoán, trung gian thƣơng mại... (các điều từ 340 đến 346 Bộ luật
Thƣơng mại Việt Nam Cộng hòa).
Tranh chấp thƣơng mại theo Luật Thƣơng mại 1997 là tranh chấp phát
sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt
động thƣơng mại [Điều 238]. Tuy nhiên, Luật Thƣơng mại 1997 đã thu hẹp
phạm vi quyết tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh liên quan đến
hợp đồng thƣơng mại. Trong khi đó, chỉ đƣợc coi là hợp đồng thƣơng mại khi
đó là hợp đồng ký giữa các thƣơng nhân liên quan đến 14 hành vi thƣơng mại
theo quy định tại Điều 45.
Trên thực tế, khái niệm tranh chấp thƣơng mại đƣợc tiếp cận dƣới
nhiều góc độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau: tranh chấp kinh tế,
tranh chấp thƣơng mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh,
thƣơng mại. Các nhà nghiên cứu luôn cố gắng phân biệt sự khác nhau giữa
tranh chấp kinh tế và tranh chấp kinh doanh. TS. Nguyễn Thị Kim Vinh cho
đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là các vấn đề nêu lên từ tất cả các quan hệ mang
bản chất thƣơng mại, xuất phát từ hợp đồng hoặc không từ hợp đồng. Các
quan hệ mang bản chất thƣơng mại bao gồm, nhƣng không giới hạn, những
giao dịch sau: Mọi giao dịch thƣơng mại từ việc cung cấp hoặc trao đổi hàng
hoá, dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện thƣơng mại hoặc văn phòng đại
diện, đại lý; cho thuê tài chính; xây dựng; tƣ vấn; kỹ thuật; cấp phép; đầu tƣ;
tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hay nhƣợng quyền; liên
doanh và các hình thức khác của công nghiệp hay hợp thƣơng mại; vận
8
chuyển hàng hoá hoặc hành khách bằng máy bay, đƣờng biển đƣờng sắt hay
đƣờng bộ.
1.1.2 Quan niệm về yếu tố nước ngoài trong tranh chấp thương mại:
Thuật ngữ “yếu tố nƣớc ngoài” lần đầu tiên đƣợc xác định cụ thể trong
Bộ Luật Dân sự 1995. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài đƣợc
hiểu là các quan hệ dân sự có ngƣời nƣớc ngoài, pháp nhân nƣớc ngoài tham
gia hoặc căn để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nƣớc ngoài
hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nƣớc ngoài [Điều 826]. Nghị định số
60/CP ngày 06/6/1997 hƣớng dẫn thi hành các quy định của Bộ Luật Dân sự
1995 về quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài một lần nữa khẳng định yếu tố
nƣớc ngoài thuộc một trong các trƣờng hợp: Có ngƣời nƣớc ngoài, pháp nhân
nƣớc ngoài tham gia; Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt ở nƣớc ngoài; Tài
sản liên quan ở nƣớc ngoài. Trong đó, "ngƣời nƣớc ngoài" là ngƣời không có
quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nƣớc ngoài và ngƣời không có quốc
tịch; "Pháp nhân nƣớc ngoài" là tổ chức có tƣ cách pháp nhân theo quy định
của pháp luật nƣớc ngoài.
Bắt đầu từ Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, khái niệm yếu tố nƣớc ngoài
đƣợc xác định rõ ràng hơn, trong đó quy định có ít nhất một trong các đƣơng
sự là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài hoặc các quan
ngoài nhƣ một bên hoặc các bên là ngƣời nƣớc ngoài, pháp nhân nƣớc ngoài
tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp
phát sinh ở nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nƣớc ngoài.
Với những phân tích nêu trên, tác giả đề xuất khái niệm về tranh chấp
thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài nhƣ sau: “Tranh chấp thương mại có yếu tố nước
ngoài là các mâu thuẫn, xung đột về lợi ích của ít nhất một bên có mục đích lợi
nhuận và một trong các bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ giữa các bên tham gia là công dân,
tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp
luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan ở nước ngoài”.
10
1.2. Phân loại tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
Tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài xảy ra trên thực tế hết sức
đa dạng, phong phú. Do đó, việc phân loại các tranh chấp thƣơng mại có yếu
tố nƣớc ngoài giúp cho quá trình giải quyết tranh chấp có định hƣớng, thuận
lợi và hiệu quả.
1.2.1. Phân loại theo chủ thể của quan hệ tranh chấp
Do quan hệ tranh chấp có yếu tố nƣớc ngoài nên các yêu cầu về xác
định chủ thể hết sức quan trọng. Theo cách phân loại này, tranh chấp thƣơng
mại có yếu tố nƣớc ngoài bao gồm những loại sau:
Thứ nhất, một trong các bên tham gia tranh chấp là ngƣời nƣớc ngoài;
ngƣời Việt ở nƣớc ngoài.
Thứ hai, các bên tham gia tranh chấp đều là cá nhân, tổ chức Việt Nam
nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nƣớc
ngoài, phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan ở nƣớc ngoài.
Sở dĩ có sự phân biệt nhƣ trên là do năng lực hành vi, năng lực pháp
luật của các chủ thể trên là khác nhau. Do đó, các thủ tục giải quyết tranh
chấp cũng khác nhau và liên quan đến địa vị pháp lý của các chủ thể. Ví dụ,
nghệ là tranh chấp dân sự nhƣng nếu có mục đích lợi nhuận thì đƣợc coi là
tranh chấp thƣơng mại. Tuy nhiên, có những tranh chấp thƣơng mại không
mang tính lợi nhuận trực tiếp nhƣ: Tranh chấp giữa công ty với các thành viên
của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc
thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách chuyển đổi hình
thức tổ chức của công ty [Khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng Dân sự].
1.3. Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
Giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài đƣợc mọi quốc
gia coi trọng vì kết quả của các phán quyết không chỉ ảnh hƣởng đến môi
trƣờng kinh doanh của một quốc gia mà còn ảnh hƣởng đến hoạt động kinh
doanh của nhiều quốc gia khác, nhất là trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu
đang phát triển mạnh với những công ty hoạt động ở hàng trăm quốc gia khác
12
nhau. Quá trình giải quyết tranh chấp cũng phức tạp hơn, ngoài việc áp dụng
pháp luật quốc gia, pháp luật quốc thì còn cả các hiệp định thƣơng mại song
phƣơng, đa phƣơng, các điều ƣớc quốc tế, quy định của các tổ chức thƣơng
mại quốc tế mà quốc gia là thành viên.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giải quyết tranh chấp thƣơng mại
có yếu tố nƣớc ngoài là việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thƣơng mại mà một bên hoặc các bên là ngƣời nƣớc ngoài, pháp nhân nƣớc
ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp
phát sinh ở ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nƣớc ngoài.
Mục đích của việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại nói chung là việc
tìm ra giải pháp giải quyết các vấn đề bất đồng giữa các bên nhằm bảo đảm
quyền và lợi ích của các bên một cách nhanh chóng và giảm thiểu những thiệt
hại xảy ra. Việc giải quyết các tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài
thƣờng phức tạp vì nó liên quan đến nhiều quy định của pháp luật quốc tế đòi
hỏi các bên trong tranh chấp và trung gian giải quyết phải am hiểu luật pháp
trong đó Tòa án đƣợc coi là biện pháp cuối cùng và quyền lực nhất để giải
quyết tranh chấp.
1.4.1. Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bằng phương
thức thương lượng
Giải quyết tranh chấp bằng thƣơng lƣợng là việc các bên trực tiếp hoặc
thông qua đại diện của mình gặp nhau để thảo luận giải quyết các bất đồng,
mâu thuẫn phát sinh trong quá trình hợp tác kinh doanh.
Việc gặp gỡ trực tiếp để thƣơng lƣợng là cách thức giải quyết nhanh
chóng và triệt để nhƣng gây nhiều tốn kém nhất là đối với các bên ở các nƣớc
khác nhau. Ngày nay, với sự hỗ trợ của các phƣơng tiện thông tin liên lạc, quá
trình thƣơng lƣợng thƣờng bắt đầu từ khiếu nại của một bên thông qua
phƣơng tiện liên lạc nhƣ điện thoại, fax, email, thƣ tín... Các bên thảo luận và
giải quyết bất đồng cũng thông qua phƣơng tiện thông tin liên lạc. Chỉ khi
trong các trƣờng hợp cần thiết các bên mới trực tiếp gặp gỡ để đàm phán. Kết
14
quả của thƣơng lƣợng là sự chấp nhận giải pháp từ một hoặc cả hai bên, có
thể bằng văn bản thỏa thuận giữa hai bên, có thể là sự đồng ý bằng im lặng và
không có khiếu nại nào khác.
Tuy nhiên hạn chế của phƣơng thức này là rất khó mang lại thành công
khi mà nó đòi hỏi thiện chí cao của các bên. Trong tình trạng tranh chấp xảy
ra thì rất khó để đạt đƣợc thiện chí cao của các bên. Đặc biệt là khi tranh chấp
đã để lại hậu quả thì bên nào cũng muốn giành lợi thế về mình để ép bên kia
phải gánh chịu hậu quả.
1.4.2. Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bằng phương
thức hòa giải
Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa giải là các bên thông qua
trung gian (cá nhân hoặc tổ chức) để tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ vƣớng
mắc, mâu thuẫn phát sinh trong quá trình hợp tác kinh doanh.
chấp. Bản án, quyết định của Tòa án đƣợc bảo đảm thực hiện bằng cƣỡng chế
nhà nƣớc.
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp đƣợc tiến hành công khai.
Thứ ba, bản án, quyết định đƣợc tuyên độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật, không phụ thuộc vào ý chí các bên nhằm bảo đảm tính công bằng.
Thứ tư, việc giải quyết theo trình tự, thủ tục chặt chẽ quy định trong luật
tố tụng, bao gồm 2 cấp xét xử để bản án, quyết định có tính chính xác cao.
Hiện nay, giải quyết tranh chấp thƣơng mại nói chung, tranh chấp
thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Tòa án nói riêng tại Việt Nam chiếm
tỷ lệ lớn so với giải quyết bằng trọng tài thƣơng mại.
Nguyên nhân của việc các bên thƣờng sử dụng biện pháp giải quyết tranh
chấp thƣơng mại thông qua Tòa án tại Việt Nam xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, do thói quen trong thời gian dài sử dụng Tòa án nhƣ là cơ
quan duy nhất có khả năng giải quyết tranh chấp một cách chính thức và các
phán quyết đƣợc bảo đảm thi hành bằng cƣỡng chế nhà nƣớc. Trong khi đó,
giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài trong một thời gian dài trƣớc khi thành
16
lập Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt nam năm 1994, cùng với việc Việt Nam
gia nhập Công ƣớc New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành quyết
định của Trọng tài nƣớc ngoài vào năm 1995 còn rất nhiều bất cập.
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án có thể tiến
hành ở khắp các tỉnh, thành phố trong cả nƣớc thông qua Tòa án cấp huyện
hoặc Tòa án cấp tỉnh. Trong khi đó, mạng lƣới giải quyết tranh chấp thƣơng
mại của Trọng tài còn thƣa thớt, chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn nhƣ:
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên thì giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng
Tòa án cũng có những hạn chế nhất định nhƣ thủ tục tố tụng tƣ pháp thƣờng thông
qua nhiều cấp xét xử làm cho thời gian giải quyết tranh chấp rất dài. Đây là điều
động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác. Khái niệm này gần hơn với quan niệm về
thƣơng mại trong Công ƣớc Viên năm 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế và
Luật mẫu UNCITRAL [Điều 1].
Về thủ tục, các bên muốn tiến hành tố tụng Trọng tài chỉ khi các bên có
thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp tại Trọng tài. Thỏa thuận này có thể
trƣớc hoặc sau khi phát sinh tranh chấp. Sau khi có đơn kiện của nguyên đơn,
Trung tâm trọng tài sẽ tiến hành thành lập Hội đồng trọng tài hoặc lựa chọn
Trọng tài viên để giải quyết tranh chấp. Việc thành lập Hội đồng trọng tài
hoặc lựa chọn Trọng tài viên cũng dựa trên ý chí của các bên với mục đích
Trọng tài giải quyết tranh chấp phải thực sự công bằng, khách quan, phải xuất
phát từ lợi ích của cả hai bên để giải quyết tranh chấp. Các bên có quyền thỏa
thuận luật áp dụng để giải quyết tranh chấp.
Sau khi thành lập Hội đồng trọng tài, Hội đồng trọng tài nghiên cứu hồ
sơ, thu thập chứng cứ và nghe các bên trình bày vụ việc. Các bên có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ. Trƣớc khi Hội đồng trọng tài họp phiên xét xử, bị đơn có
thể kiện lại nguyên đơn.
18
Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có thể tự hoà giải hoặc yêu cầu
Hội đồng Trọng tài tiến hành hoà giải. Nếu hòa giải thành, Hội đồng trọng tài sẽ
ghi nhận thỏa thuận hòa giải thành và kết thúc giải quyết tranh chấp.
Trƣờng hợp các bên không hòa giải đƣợc, Hội đồng trọng tài sẽ tổ chức
phiên họp giải quyết tranh chấp và ra phán quyết. Phán quyết trọng tài phải dựa
trên cơ sở: nội dung hợp đồng; luật áp dụng do các bên hoặc Hội đồng trọng tài
lựa chọn; các điều ƣớc quốc tế liên quan; các tập quán thƣơng mại quốc tế.
Phán quyết của Trọng tài là chung thẩm, có giá trị bắt buộc thi hành đối
với các bên. Trƣờng hợp các bên không tự nguyện thi hành và cũng không có