p = =
.
—
= =
; m
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN NĂM
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN sự
Cớ YÊU TÔ NƯỚC NGOÀI BANG TOÀ ÁN VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GlẲl PHÁP
Chuyên ngành : Luật Quôc tế
Mã số : 60 38 60
LUẬIV VĂRT THẠC si IvUẬT HỌC
• • # •
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Vãn Thắng
Q vó c G!A hÀ NỘ'
■sa/UxJv '
']rx
'
-ỏìVỉG ÌÍN
V- Í-CMẾÍ
' -*Ó\G ỉtN THI Î ViỆN Ị
—ì
HÀ NỘI - 2007
MỤC LỤC
TRANG
Trang phụ bìa
Íjờỉ cam đoan
dân sự có yếu tố nước ngoài bằng Toà án Việt Nam
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẤU
1. Tính cấp thiết của để tài
Trong xu hướng hội nhập và giao lưu dãn sự quốc tế, việc các cá nhân,
tổ chức của Việt Nam có quan hệ dân sự với các cá nhân, tổ chức của nước
ngoài đang dần lù những quan hệ phổ biến và ngày càng phát triổn đa dạng.
Cùng với giao lưu dân sự quốc tế cũng đồng thời xuất hiện tranh chấp giữa các
chủ thể của Tư pháp quốc tế với số lượng ngày một gia tăng, với tính chất và
mức độ ngày một thêm phức tạp.
Là một nước có nen kinh tế đang trôn đà phát triển, các chủ thể của đời
sống dân sự và nền kinh tế Việt Nam vừa chịu áp lực của xu thế hội nhập,
nhưng đồng thời cũng chủ động hội nhập với đời sống dân sự và nền kinh tế
thế giới. Trong quan hộ hợp tác, dù các bên cùng hướng tới những lợi ích
nhưng cũng khó tránh khỏi những xung đột, tranh chấp ngoài ý muốn của
mình. Các tranh chấp này tự nổ nảy sinh nhu cầu cần phải được giải quyết
bằng những phương pháp khác nhau trên cơ sở nền tảng của pháp luật. Trong
quá trình giải quyết tranh chấp, để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp
của mình, mỏi bcn trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước
ngoài đều trông cậy vào nền tư pháp của nước mình, trong đó ở Việt Nam là
cư quan xét xử - Toà án. Thực tế đã chỉ ra rằng, cũng như các nước khác, các
chủ thế của bên Việt Nam đều mong muốn việc giải quyết các tranh chấp
được phán xct bởi một cơ quan tài phán trong nước là một lợi thế cán hướng
đến.
Tuy chưa có sự thống kê chi tiết, nhưng qua các phương tiện thông tin
đại chúng cũng cho chúng ta biết, thời gian qua có rất nhiều tranh chấp dân sự
có yếu tố nước ngoài phát sinh có một bên là tổ chức, cá nhân Việt Nam,
nhưng kết quá giải quyết thường là sự bất lợi của bên Việt Nam. Chúng ta
không chí thiệt hại về kinh tế mà còn ánh hưởng đến cả uy tín lhương mại và
nước ngoài, tranh chấp trong quan hệ dàn sự có yếu tố nước ngoài làm cơ sứ lý
luận cho việc tiếp cận những nội dung pháp lý vổ giải quyết tranh chấp dân sự
có yếu lố nước ngoài bằng Toà án ứ Việt Nam.
- Phân lích những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về trình
tự, ihủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài bằng con
dường Toà Ún ở cấp sơ thẩm.
- Phàn tích thực trạng hoạt động xét xử các tranh chấp dàn sự có yếu tố
nước ngoài bằng Toà án Việt Nain, với việc minh hoạ bằng các số liệu thống
kê và hệ thống bảng biểu, tạo ra bức tranh toàn cảnh về nội dung của để tài
nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá, tìm ra những nguycn nhân khách quan và chủ
quan cùng những ưu, khuyết điểm của việc giải quyết các tranh chấp dân sự
có yếu tố nước ngoài bằng Toà án Việt Nam, làm cơ SƯ cho việc đưa ra kiến
nghị vé những giải pháp trong, phạm vi của đề tài.
- Đề xuất một số giải pháp với mong muốn tạo ra những chuyển hiến
tích cực, cần thiết trong ngành Toà án, nhằm nâng cao năng lực giải quyết
tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài của Toà án nói riêng và nâng cao năng
lực hoạt động của Toà án nói chung.
* Phạm vi nghiên cứii
Về lý luận, luận vãn chỉ nghiên cứu một số vấn đé cơ bản có liên quan
trực tiếp đến việc giải quyết Sơ thẩm tranh chấp tlcìn sự theo nghĩa rộng có
yếu tố nước ngoài bằng toà án Việt Nam.
Về thực tiễn, Luận văn tìm hiểu, phân lích việc giải quyết sơ thẩm tranh
chấp dàn sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài tại các Toà án cấp sơ thẩm
trong thời gian qua.
3. Phưưng pháp nghiên cứu
5
Đổ tài dược nghicn cứu với phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
hiện chứng, chú nghĩa duy vật lịch sứ; phương pháp hệ thống, thống kê, phân
tích, so sánh, tổng hợp
quan hệ lao động, quan hệ kinh doanh - thương mại, quan hệ hỏn nhân và gia
đình. Cách hiểu này được khẳng định rõ tại Điều 1 Bộ luật dân sự 2005: “Bộ
luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của
cá nhân, pháp nhàn, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân
thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”[06].
7
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một nội dung quan trọng của
Tư pháp quốc tế, thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của Tư pháp quốc tế Việt Nam, khái niệm quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài ngày càng mở rộng và đầy đủ hơn.
Tại Điểu 826 Bộ luật dân sự năm 1995 có định nghĩa: “ Quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài dược hiểu là các quan hệ dân sự có người nước ngoài,
pháp nhàn nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở
nước ngoài”[06].
Với quy định này, có nhiều quan hệ dân sự thực tế có yếu tố nước ngoài
nhưng lại không được thừa nhận. Ví đụ: Quan hệ dân sự mà ít nhất một bên là
người Việt Nam định cư ờ nước ngoài, hay một chủ thể có thể là một tổ chức
nước ngoài hay quốc tế. Để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tếquốc tế, quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài dã được các nhà lập pháp nhận thức lại một cách
toàn diện và đầy đủ hơn. Vì thế, Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 đã ghi
nhận: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một
trong các bên tham gia là cơ quan, lổ chức, cá nhàn nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia
là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài san
liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”[06J.
Trong giới luật học có quan điểm cho rằng nên sử dụng cụm từ “pháp
nhân nước ngoài” để thav thế cho cụm từ “cơ quan, tổ chức nước ngoài”.
sinh ử nước ngoài hoặc là tài sản liên quan đến quan hệ dó
ờ nước ngoài.
9
1.1.2. Đặc trưng của quan hệ dân sự có yếu tô nước ngoài
So với các quan hệ xã hội khác, đặc trưng của quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài chính là yếu tố nước ngoài trong quan hệ đó. Đặc trưng của quan
hệ dàn sự có yếu tố nước ngoài được thể hiện ở các mặt cơ bán sau:
* Vé chủ thể
Vì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là đối tượng điều chỉnh cơ bản
của Tư pháp quốc tế nên chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
cũng mang những dấu hiệu đặc trưng chủ thể của Tư pháp quốc tế, đó là:
“Đang hoặc sẽ tham gia trực tiếp vào các quan hệ xã hội thuộc phạm vi
điều chỉnh của Tư pháp quốc tế;
- Có ý chí độc lạp, không lệ thuộc vào các chủ ihể khác trong quan hệ
Tư pháp quốc tế;
- Có các quyền và nghĩa vụ nhất định được bảo hộ theo các quy định
của Tư pháp quốc tế;
- Có khả náng độc lập chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp
luật đối với những hành vi do chủ thổ đó gây ra” [62].
Trong hệ thống Tư pháp quốc tố Việt Nam, chủ thể của quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài gồm hai nhóm sau: nhóm chủ thể là cá nhân; nhóm chủ
thổ là tổ chức.
+ Nhóm chủ thể là cá nhân:
Cá nhân chí có thể trở thành chủ thể của quan hệ dân sự có yếu nước
ngoài khi hội đủ các dấu hiệu cơ bản của chủ thể Tư pháp quốc tế như dã
trình bày ở phần trên. Trong mối quan hệ đang được nghiên cứu ở đây, cá nhân
có tư cách chủ thể trong quan hệ dán sự có yếu tố nước ngoài có thể là các cá
nhân tron‘2, nước, cá nhân là người nước neoài bao gồm người không quốc tịch
và người có quốc tịch nước ngoài, cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước
ngoài.
Tất cả các cơ quan, tổ chức của Việt Nam là chủ the của quan hệ dân sự
Việt Nam đều có thê trở thành một bên chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tô
nước ngoài. Một tổ hợp tác, một doanh nghiệp, một hiệp hội, thậm chí là một
cư quan của Việt Nam hoàn toàn có quyền tham gia vào quan hệ dân sự quốc
tế. Đặc biệt là trong lĩnh vực viện trợ nước ngoài vào Việt Nam hoặc việc mua
bán hàng hoá cho các nhu cầu, mục đích dân sự.
Cư quan, tổ chức nước ngoài là các cơ quan, tổ chức không phái là các
cơ quan, tổ chức Việt Nam, được thành lập theo pháp luật nước ngoài bao gồm
cá cư quan, tổ chức quốc tế được thành lập theo pháp luật quốc tế [31 ]. Đảy là
nhóm chủ thể bao gồm tất cả chú thể ngoài cá nhân và được thành lập theo
pháp luật nước ngoài hay nói đúng hơn là được thành lập hợp pháp theo pháp
luật nước ngoài và pháp luật quốc tếhiện đại. Bởi thực tế, có rất nhiều tổ chức
quốc tế tổn tại, hoạt động và được thành lập một cách bất hợp pháp so với
pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế, ví dụ các tổ chức khủng hố, các tổ
chức buôn lậu vũ khí, ma tuý.
Như vậy, đặc trưng của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài về khía
cạnh chủ thể thường là có ít nhất một bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt
Nam và có ít nhất mội bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài, bao gồm
cả cư quan, tổ chức quốc tế.
Xét về khía cạnh nội dung, quan hệ đùn sự có yếu tố nước ngoài cùng
bao gồm những nội dung như quan hệ dân sự không có yếu tố nước ngoài. Tuy
nhiên, tính chất đặc trưng để tạo nên yếu tố nước ngoài của các quan hệ dAn sự
này chính là căn cứ đc xác lập, thay đổi chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài hoặc phút sinh tại nước ngoài, mặc dù các chủ thể tham gia trong
các quan hệ này là công dân, tổ chức Việt Nam và có thể các quan hộ này
được thực hiện hay kết thúc ở Việt Nam.
vé dối tượng của quan hệ sẽ là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài,
khi tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Tài sán liên quan ở đây
12
không phân biệt là động sản hay bất động sản mà vấn đé cơ bản là nó tổn tại ở
Tranh chấp trong quan hệ tkìn sự được hiểu trước hết là những mâu
thuẫn, bất đồng giữa các bên tham gia quan hệ dân sự vé việc thực hiện (hay
không thực hiện) quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Tranh chấp dân sự được cấu
thành bởi các yc'u tô dó là:
- Phái có quan hệ dân sự tồn tại giữa các bên tranh chấp;
- Có sự vi phạm (hoặc giả thiết vi phạm) nghĩa vụ của một bên dẫn đến
quyền và lợi ích của một (hoặc nhiều) bên bị ảnh hướng;
- Có sự bất đồng giữa các bcn về việc đánh giá sự vi phạm, lỗi của lừng
chủ thể, cách thức giải quyết, mức độ xử lý và chịu hậu quả phát sinh từ sự vi
phạm pháp luật tố tụng dân sự. Điều này được minh chứng bởi nội dung của
Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự 2004: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những
nguyên tắc cơ bán trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án
giải quyết các vụ án về tranh chấp đùn sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, ỉao động (sail đây gọi chung là vụ án dân sự)”Ị07].
Tranh chấp trong quan hệ dùn sự có yếu tố nước ngoài là những màu
thuẫn, bất đồng giữa các bên tham gia quan hộ đùn sự có yếu tố Iiước ngoài.
Cách hiểu này không khác biệt so với Hiệp định thương mại Việt Nam
- Hoa Kỳ khi khoản 4 Điều 9 của Hiệp định quy định “Tranh chấp thương mại
là tranh chấp giữa các bôn trong một giao dịch thương mại”[4I ].
Vé nội hàm, khái niệm tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài được
hiểu một cách hạn hẹp. Khoản 2 Điều 405 Bộ luật tố tụne dân sự 2004 quy
định: “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự có ít nhất một
trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ờ nước
ngoài hoặc các quan hệ dàn sự giữa các công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam
nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dirt quan hệ đó theo pháp luật nước
14
ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài” [07].
Nhìn một cách tích cực, tranh chấp là một điều không muốn giữa các
bên tham gia trong quan hệ dán sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, điều này
Nam là một quá trình tố tụng Tư pháp, theo đó, Toà án Việt Nam là cơ quan
tài phán căn cứ và tuân thủ quy trình đó trong dán sự, thực hiện thẩm quyền
của mình để giải quyết các tranh chấp dùn sự có yếu tố nước ngoài.
Giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài bằng toà án Việt
Nam có nhiều ưu điểm: thứ nhất, sản phẩm của hoạt động toà án là các bản án
có tính bắt buộc thi hành đối với các bên và được bảo đảm bởi sức mạnh
cưỡng chế của Nhà nước; thứ hai, Toà án hoạt động với hai cấp xét xử, các
phán quyết được thông qua theo đa số do vậy sẽ tránh khỏi được oan sai; thứ
ba, lệ phí toà án thường thấp hơn so với lộ phí trọng lài; thứ tư, đíly là giải
pháp mà các ctưưng sự có thể tính đến khi các phương án giải quyết tranh chấp
khác không có giá trị khả thi (ví dụ, tranh chấp về hôn nhân và gia đình với
yêu cầu ly hôn thì chỉ có lựa chọn duy nhất là khởi kiện lại Toà án).
1.4. NHŨNG NGUYÊN TẮC c ơ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT t r a n h
CHẤP TRONG QUAN HỆ DÂN s ự c ó YẾU T ố NUỐC NGOÀI
Những nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp trong quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cơ bản vừa
mang tính định hướng, toàn diện, bao trùm, vừa quyết định nội dung và quy
trình giải quyết tranh chấp trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Những
nguyên tắc này gồm: nguyên tấc đối xử quốc gia; nguyên tắc cồng khai minh
bạch; ncuycn tắc bao đảm quyền khiếu kiện, tuân thủ các nguycn tắc cơ bản
của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
1.4.1. Nguyên tắc đối xử quốc gia
16
Đây là một nguyên tắc cơ hán của Tư pháp quốc tế. Nó được ghi nhận ở
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (khoản 1 Điểu 7 chưưng I; khoản 1
Điêu 3 chương III; khoán 1 Điều 7 chương II và Điều 2, 3, 4 Chương IV).
Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi bên phải dành sự đối xứ không kém thuận Ịợi hơn
sự đối xử dành cho công dán, công ty của bcn kia trong việc tiếp cận các
thông tin pháp luật, quy định và thủ tục có liên quan đến giải quyết tranh
chấp; lựa chọn và sử dụng các dịch vụ pháp lý trong quá trình giải quyết tranh
đều khẳng định trong tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, các bên có
quyên khởi kiện tại toa án Việt Nam theo pháp luật Việt Nam và các điểu ước
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Từ nguyên tắc đối xử quốc gia,
các bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoàn toàn có quyên khởi kiện
ở Việt Nam để đòi hỏi toù án Việt Nam bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
Trước hết, nội dung của nguycn tắc này được quy định rõ trong các
Hiệp định tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và các nước. Ví dụ, khoản 2 Điều
1 Hiệp định tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và Mỏng c ổ quy định: “Công
dân của hên ký kết này có quyền được tự do và không bị cản trở liên hộ với cơ
quan Tư pháp có thẩm quyền về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự của
bên ký kết kia; có thể bày tỏ ý kiến, để đạt ycu cầu, đưa đơn kiện và thực hiện
những hành vi tố tụng khác tại các cơ quan như công dân của bên ký kết kia”
[46].
Nguyên tắc bảo đám quyền khiếu kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức
nước ngoài dược khẳng định rõ ràng trong pháp luạt Việt Nam. Cụ thể, tại
khoán 3 Điều 2 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Bộ luật tố lụng dân sự được
áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” [07].
Điều này được hiểu ihco nghĩa ỉà Bộ luật tố tụng dân sự bảo đảm bảo quycn
khơi kiện của các bên trong các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Cụ
the hơn, Điều 406 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Còng dân nước ngoài,
nạười không quốc tịch, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế (sau đây
gọi là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài) có quyền khới kiện đến Toà án
Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm
phạm hoặc có tranh chấp” [07].
1.4.4. Tuân thú các nguyên tác CƯ bản của pháp luật tô tụng dân sự
Việt Nam
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Viột Nam là một
irong các nội dung cơ bản trong các nguyên tắc của Tư pháp quốc tế. Vì vậy,
tuân thù các nguyên tắc này chính là tuân thủ các nguyên tác của Tư pháp
- Việc tham gia tố tụng dân sự của cá nhân cơ quan, tổ chức.
- Bảo đảm quyền khiếu nại tố cáo trong tố tụng dan sự (Điều 24)
Đánh gia vé hộ thống 22 nguyôn tắc vừa nêu trên, TS. Đinh Trung Tụng
khảng định: “Với 22 nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật tố tụng
dân sự, phải nói rằng đày là một hệ thống các nguyên tắc cơ bản đầy đủ nhất,
có kế thừa những nguyên tắc kiểm định, những nguycn tắc đã được ghi nhận
trong các luật tổ chức toà ấn. Viện kiểm sát, các pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự, kinh tế, tranh chấp lao động, đổng thời đã ghi nhận một số
nguyên tắc cơ bản mới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của nước ta hiện nay
và trong thời gian tới” [79].
Tuy nhiên, trong Tư pháp quốc tế, một số tác giả lại cho rằng đối với
các nguyên tắc của tố tụng dân sự Việt Nam, chỉ cần chú ý một số nguyên tấc
chính như: Nguyên tắc tự định đoạt của đương sự; Nguyên tắc bình đẳng trước
pháp luật; Nguyên tắc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, kịp thời [64].
20
Như vậy, các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp dân sự là
một hệ thống quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, định hướng và các đòi hỏi, yêu cầu
bát buộc đôi với quy trình giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh
chấp dân sự có yếu tố nước ngoài nổi riêng. Các nguyên tắc này có mối quan
hệ khách quan, biện chứng với nhau. Tuy mồi nguyên tắc có một vị trí, vai trò
riêng, nhưng nhìn chung, các nguycn tắc được trình bày ở trên đểu cần phải
được xác định là các nguyên tấc cơ bán làm cơ sở nền tảng cho việc giải quyết
các tranh chấp dàn sự có yếu lố nước ngoài.
1.5. GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ NÁNG LỤC PHÁP
LUẬT VÀ NĂNG LỤC HÀNH VI T ố TỤNG DÂN SựCỦ A NGUỜI NƯỚC
NGOÀI, NÀNG Lực PHÁP LUẬT CỦA cơ QUAN, Tổ CHỨC NƯỚC
NGOÀI VÀ TỔ CHỨC QUỐC TẾ
Về mặt lý luận, xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ
thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ tlủn sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoài. Đổ giải quyết xung đột pháp luật, Tư pháp quốc tế đưa
dặt câu hỏi: Lâu dài là một khoảng thời gian bao nhiêu? Và việc cư trú, làm ăn
sinh sống này là hợp pháp có đăng ký với chính quyền bản địa hay là bao gồm
cả bất hợp pháp không có đăng ký? Đổ giải thích cho khái niộm này và tránh
sự suy luận không chính xác cần quy định rõ ở một văn bản pháp luật nào đó,
có thể đề xuất hướng giải thích như sau: Cá nhốn nước ngoài cư trú, làm ăn,
sinh sống lâu dài ở Việt Nam là cư trú, làm ăn, sinh sống hựp pháp ở Việt
Nam từ năm năm trở lên.
Năng lực pháp luật tô tụng dân sự của cơ quan, tổ chức nước ngoài
trong tố tụng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, tổ
chức đã được thành lập, trừ trường hợp Việt Nam có quy định khác. Năng lực
pháp luật tố tụng dàn sự của tổ chức quốc tế được xúc định trên cơ sở điều ước
quốc tế là cân cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của Tổ chức quốc
0?
tế hoặc điều ước quốc tế đã dược ký kết với cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam (Điéu 408 BLTTDS 2004). Những quy định này, theo nhận xét của TS.
Nguyễn Công Khanh là phù hợp với “Bộ luật dân sự” và “thông lệ quốc tế"
[82]
23
Chương 2
C ơ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN s ự CÓ YẾU
TỐ NƯỚC NGOÀI BẰNG TO À ÁN VIỆT NAM
2.1.VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP DÂN s ự c ó YÊU Tố NƯỚC NGOÀI
Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước dược tổ
chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền:
lập pháp, hành pháp, Tư pháp. Thực hiện quyén Tư pháp mà chủ yếu là quyền
xét xử là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam
và dược giao cho Toà án nhún dân. Do vậy, Toà án nhân dán có vị trí rất quan
trọng trong bộ máy nhà nước.