ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*****
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
BẰNG TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP QUỐC TẾ Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ VĂN BÍNH
HÀ NỘI - 2008
1.3.3 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế thế giới đến việc giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài 40
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU
TƯ NƯỚC NGOÀI BẰNG TRỌNG TÀI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP QUỐC TẾ 44
2.1 Pháp luật về giải quyết tranh chấp đầu tư nước ngoài bằng
trọng tài 44
2.2 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài 46
2.2.1 Các quy định của pháp luật trong nước 46
2.2.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp của trọng tài 46
2.2.1.2 Thoả thuận trọng tài và thẩm quyền của trọng tài 48
2.2.1.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp 53
2.2.1.4 Luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp đầu tư
nước ngoài bằng trọng tài 61
2.2.2 Giải quyết tranh chấp đầu tư trong các Điều ước quốc tế mà Việt
Nam ký kết hoặc tham gia 69
2.2.2.1 Quy định chung về thủ tục tố tụng 69
2.2.2.2 Chấp nhận thẩm quyền xét xử của các toà trọng tài quốc
tế trong các Hiệp định đầu tư song phương của Việt
Nam 72
2.3 Thi hành quyết định của trọng tài và việc công nhận, cho thi
hành tại Việt Nam các phán quyết của Trọng tài nước ngoài 75
2.3.1 Thi hành quyết định của trọng tài 75
2.3.2 Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các phán quyết của
trọng tài nước ngoài 77 Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI BẰNG
quốc gia và quốc tế. Song đi cùng với sự gia tăng về đầu tƣ là những mâu
thuẫn, bất đồng về lợi ích làm phát sinh tranh chấp trong lĩnh vực đầu tƣ nƣớc
ngoài giữa các chủ thể kinh doanh.
Do đó, một câu hỏi luôn đƣợc đặt ra cùng với bài toán phát triển đất
nƣớc, là làm thế nào để giải quyết một cách tốt nhất các mâu thuẫn, bất đồng
này bởi đây luôn là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Điều này không chỉ ảnh
hƣởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh
hƣởng rất lớn đến sự phát triển, sức thu hút của nền kinh tế quốc gia nói
chung trong nền kinh tế toàn cầu. Nếu ta tạo ra đƣợc một hệ thống giải quyết
tranh chấp hiệu quả chính là tạo sự bảo đảm cho môi trƣờng đầu tƣ ổn định và
cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tƣ. Điều này đối
với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có ý nghĩa hơn cả việc tăng cƣờng các biện
pháp ƣu đãi, khuyến khích đầu tƣ.
Đặc biệt, hiện nay trong bối cảnh Luật đầu tƣ đƣợc Quốc hội khoá XI
nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005 đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 đã tạo ra sự chuyển biến cho
nền kinh tế. Luật đầu tƣ năm 2005 đƣợc áp dụng để điều chỉnh chung cho
hoạt động đầu tƣ trong nƣớc cũng nhƣ hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài, nên về
nguyên tắc sẽ không có sự phân biệt đối xử giữa hai loại hình đầu tƣ này. Do
đó, sức thu hút của Việt Nam đối với nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng lên 2
nhanh, hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam ngày càng đa dạng hơn và
tranh chấp đầu tƣ cũng ngày càng phức tạp hơn.
Với tính chất là “cơ quan tài phán tƣ”, trọng tài có những ƣu thế mà các
phƣơng thức giải quyết tranh chấp khác không thể có nhƣ đề cao ý chí tự do
thoả thuận của các bên, tố tụng trọng tài không bị ràng buộc về mặt lãnh thổ
hay bị chi phối bởi quyền lực nhà nƣớc, quyết định trọng tài có hiệu lực thi
hành ngay kể từ ngày đƣợc công bố nên đáp ứng nhu cầu khôi phục nhanh
Nhƣ vậy, trong khoa học pháp lý nói chung thì các vấn đề trọng tài
thƣơng mại và tranh chấp đầu tƣ nƣớc ngoài không phải là những vấn đề
nghiên cứu hoàn toàn mới, bởi nó đƣợc rất nhiều các nhà khoa học pháp lý
và các công trình nghiên cứu quan tâm. Nhƣng với thực tiễn thì nó là một vấn
đề cấp thiết và mang nhiều ý nghĩa. Hiện nay, trong thực tiễn kinh doanh và
khoa học pháp lý, ta luôn đƣợc nghe và đƣợc nhắc đến những cụm từ nhƣ
„„doanh nghiệp Việt Nam còn biết rất ít đến trọng tài‟‟, hay „„doanh nghiệp
Việt Nam còn e ngại trọng tài‟‟, tình trạng „„bùng nổ tranh chấp về đầu tƣ‟‟,
còn đối với tranh chấp đầu tƣ thƣơng mại quốc tế thì „„doanh nghiệp Việt
Nam luôn là bên chịu nhiều thua thiệt‟‟ Điều này nói lên rằng, mặc dù
trọng tài là một phƣơng thức giải quyết tranh chấp có nhiều ƣu thế nhƣng vẫn
chƣa đƣợc các doanh nghiệp biết đến và sử dụng hiệu quả. Đặc biệt với bản
chất là „„cơ quan tài phán tƣ‟‟ nên trọng tài là một phƣơng thức giải quyết
tranh chấp phù hợp nhất đối với đầu tƣ nƣớc ngoài.
Ngoài ra, „„trọng tài‟‟ và „„đầu tƣ nƣớc ngoài‟‟ mặc dù là những vấn đề
đƣợc quan tâm nhiều trong khoa học pháp lý, nhƣng dƣới góc độ nghiên cứu
một cách chuyên sâu và cụ thể của việc giải quyết tranh chấp đầu tƣ nƣớc
ngoài bằng trọng tài thì cho đến nay vẫn chƣa có công trình, bài viết nào đề
cập một cách cụ thể và toàn diện. Hiệu quả của phƣơng thức giải quyết tranh 4
chấp này đối với đầu tƣ nƣớc ngoài chƣa đƣợc các nhà khoa học pháp lý dành
cho sự quan tâm ngang tầm với ý nghĩa của nó. Vì vậy, có thể nói, vấn đề mà
đề tài nghiên cứu, dƣới một góc độ nào đó vẫn có tính mới và mang tính cấp
thiết trong khoa học pháp lý Việt Nam, cần phải đƣợc quan tâm, tiếp tục giải
quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện các vấn đề về tranh
chấp trong lĩnh vực đầu tƣ nƣớc ngoài, đặc biệt là các nguyên nhân làm phát
6
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI
VÀ TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
1.1 TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm đầu tƣ nƣớc ngoài
1.1.1.1 Khái quát chung
Đầu tƣ nƣớc ngoài là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng
của nền kinh tế thế giới. Sự phát triển của mỗi một quốc gia trong nền kinh tế
toàn cầu không thể tách rời khỏi hoạt động kinh tế này. Đầu tƣ nƣớc ngoài là
một khái niệm chung đƣợc dùng để chỉ một loại hình hợp tác kinh tế quốc tế
mà trong đó có sự di chuyển của vốn đầu tƣ từ nƣớc này sang nƣớc khác. Đầu
tƣ nƣớc ngoài có hai loại hình đầu tƣ là đầu tƣ công cộng (hay viện trợ tài
chính công cộng) và đầu tƣ tƣ nhân nƣớc ngoài.
Đầu tư công cộng là những khoản cho vay, tín dụng trợ cấp hay viện
trợ hoàn lại hoặc không hoàn lại của các tổ chức quốc tế cấp cho một nƣớc
(thƣờng là những nƣớc đang phát triển) nhằm chủ yếu thúc đẩy phát triển
kinh tế, thực hiện những mục tiêu xã hội và cải thiện mức sống ở nƣớc này;
với những điều kiện tài chính dễ dàng, không thể có đƣợc trong quan hệ
thƣơng mại thông thƣờng. Hình thức phổ biến của loại hình đầu tƣ này đó là
các vốn vay ƣu đãi ODA với lãi suất rất thấp và thời gian vay lâu dài. Tuy
nhiên các khoản ODA thƣờng gắn với những ràng buộc về chính trị, kinh tế,
xã hội… điều này gây khó khăn cho nƣớc nhận viện trợ.
Đầu tư tư nhân nước ngoài là hành động của một cá nhân hay pháp
nhân mang vốn đầu tƣ sang kinh doanh trên lãnh thổ của một quốc gia khác
nhằm mục đích kiếm lợi riêng. Đầu tƣ tƣ nhân đƣợc thực hiện dƣới ba hình
Cho đến nay, khái niệm đầu tƣ nƣớc ngoài không phải là một khái
niệm thống nhất trong cách nhìn nhận của các quốc gia khác nhau. Với quan
niệm về đầu tƣ nƣớc ngoài theo phạm trù rất hẹp tổ chức Hợp tác và phát
triển (OECD) định nghĩa về đầu tƣ nƣớc ngoài đòi hỏi nhất định phải có sự
kiểm soát của nhà đầu tƣ với doanh nghiệp nhƣ một yếu tố thiết yếu của khái
niệm này [38, tr.50]. Theo đó: “Đầu tư nhằm mục đích thiết lập các quan hệ
kinh tế lâu dài với một nhiệm vụ cụ thể là các nhà đầu tư phải có khả năng
thực hiện sự ảnh hưởng hữu hiệu đối với việc quản lý các đầu tư đó.”
Tại điều 1(3) Hiệp định ASEAN về khuyến khích và bảo hộ đầu tƣ
năm 1998 thì thuật ngữ „„đầu tƣ‟‟ đƣợc hiểu là bất kỳ loại tài sản nào và cụ
thể, bao gồm :
- Động sản và bất động sản, và bất kỳ các quyền về tài sản nào như
thế chấp, thế nợ và cầm cố.
- Cổ phần, vốn và các giấy tờ ghi nợ của công ty hoặc của các quyền
lợi trong tài sản của các công ty đó.
- Các quyền đòi hoặc đòi bất kỳ sự thực hiện nào theo hợp đồng có
giá trị tài chính.
- Các quyền sở hữu trí tuệ và uy tín kinh doanh.
- Các quyền tô nhượng kinh doanh có được theo luật hoặc theo hợp
đồng, bao gồm các tô nhượng để tìm kiếm, nuôi trồng, tinh chế hoặc
khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Trong khi đó pháp luật về đầu tƣ nƣớc ngoài của Trung Quốc quy định
bao gồm cả hình thức đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ gián tiếp, nó không chỉ bao
gồm việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp đƣa vốn của họ vào sản xuất kinh
doanh tại Trung Quốc mà còn bao gồm cả các hoạt động đầu tƣ khác nhƣ cho
vay tín dụng, mua cổ phần của các doanh nghiệp Trung Quốc Quan điểm 9
này khá tƣơng đồng với các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về đầu
động đầu tƣ (khoản 12, điều 3). Trong đó:
+ Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và
tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ (khoản 2, điều 3).
+ Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tƣ thông qua việc mua cổ phần, cổ
phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tƣ chứng khoán và thông
qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tƣ không trực tiếp
tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ (khoản 3, điều 3).
+ Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tƣ đƣa vốn bằng tiền và các tài
sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nƣớc ngoài để tiến hành hoạt động đầu tƣ
(khoản 14, điều 3).
Căn cứ vào các quy định trên của pháp luật thì đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam phải đƣợc hiểu là bao gồm các hoạt động: đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ
gián tiếp có yếu tố nƣớc ngoài. Còn hoạt động đầu tư ra nước ngoài cũng
đƣợc hiểu là đầu tƣ có yếu tố nƣớc ngoài, tuy nhiên, hoạt động đầu tƣ ra nƣớc
ngoài đƣợc thực hiện trên lãnh thổ của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ và do pháp luật
quốc gia tiếp nhận đầu tƣ điều chỉnh. Vì lý do trên nên việc giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực đầu tƣ ra nƣớc ngoài luận văn không đề cập đến.
Định nghĩa về đầu tƣ trong các Hiệp định về đầu tƣ quốc tế nói chung
có vai trò quan trọng trong việc xác định phạm vi điều chỉnh của Hiệp định,
xác định vấn đề tự do hoá và bảo hộ đầu tƣ, cho nên định nghĩa về đầu tƣ
đƣợc đƣa ra rất cụ thể. Tại mục 2, điều 1 Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Tự do, xúc tiến và Bảo hộ đầu tƣ có quy định 11
: Thuật ngữ "đầu tư" có nghĩa tất cả các loại tài sản đƣợc sở hữu hoặc quản
lý trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một nhà đầu tƣ ; bao gồm cả các khoản lợi tức
phát sinh từ hoạt động đầu tƣ, cụ thể là lợi nhuận, lãi suất, lãi cổ phần, cổ tức,
tiền bản quyền và các loại phí và sự thay đổi hình thức đầu tƣ tài sản không
ảnh hƣởng đến tính chất đầu tƣ. Với quan niệm về đầu tƣ nhƣ vậy ta có thể
tiếp nhận đầu tư định cư ở nước ngoài đầu tư về nước để tiến hành các hoạt
động đầu tư kinh doanh kiếm lợi nhuận.
1.1.2 Tranh chấp trong lĩnh vực đầu tƣ nƣớc ngoài
1.1.2.1 Khái niệm tranh chấp đầu tư
Tranh chấp là một hiện tƣợng khách quan trong xã hội. Khi mà nền
kinh tế càng phát triển thì giao lƣu thƣơng mại quốc tế ngày càng đƣợc mở
rộng, tranh chấp ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Trong nền kinh tế thị
trƣờng, có rất nhiều loại tranh chấp diễn ra, chúng có nhiều điểm tƣơng đồng
với nhau nên rất khó để có thể phân biệt chúng một cách chính xác, rõ ràng.
Thực tiễn áp dụng pháp luật đòi hỏi ta cần phải phân biệt khái niệm đầu tư
(nhằm mục đích lợi nhuận) với khái niệm kinh doanh (thương mại), cũng nhƣ
các khái niệm tranh chấp về chúng, bởi về bản chất đầu tư cũng là một quá
trình kinh doanh đặc thù.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, kinh doanh đƣợc hiểu là việc thực
hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm
mục đích sinh lợi. Bên cạnh khái niệm kinh doanh, pháp luật hiện hành còn
đƣa ra khái niệm pháp lý về hoạt động thƣơng mại. Theo nghĩa kinh điển thì
hoạt động thƣơng mại là hoạt động mua bán, là cầu nối giữa sản xuất với tiêu
dùng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, khái niệm
thƣơng mại đã đƣợc mở rộng đến cả lĩnh vực sản xuất, phân phối, dịch vụ
với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, việc xác định ranh giới giữa hoạt
động kinh doanh và thƣơng mại ngày càng khó khăn và ít có ý nghĩa. Có thể
đồng nhất khái niệm kinh doanh và khái niệm thƣơng mại ở chỗ, chúng đều là
hoạt động của các chủ thể trong xã hội nhằm mục đích lợi nhuận. Luật thƣơng 13
mại năm 2005 đã hợp lý khi định nghĩa hoạt động thƣơng mại thuộc phạm vi
phổ biến trong Luật quốc tế hiện đại. Quá trình toàn cầu hoá và sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia dẫn đến hiện tượng một vấn đề phát sinh giữa hai
quốc gia hoặc thậm chí giữa một tổ chức của quốc gia này với quốc gia khác
cũng có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng quốc tế) [60, tr.8].
Lợi ích kinh tế chỉ là một phần trong một loạt các lợi ích liên quan trong các
mối quan hệ xã hội phức tạp, đa dạng và tế nhị. Việc nhận thức đúng đắn và
thoả đáng các tranh chấp đầu tƣ vì lẽ đó có tầm quan trọng đặc biệt.
Trên thực tế khái niệm tranh chấp đầu tƣ gần nhƣ đƣợc mặc nhiên sử
dụng trong các văn bản pháp lý và thiết chế quốc tế liên quan đến vấn đề đầu
tƣ. Ngƣời ta dƣờng nhƣ chỉ chú ý đến vấn đề hoàn thiện cơ chế giải quyết
tranh chấp này hơn là việc hiểu khái niệm về nó. Cho đến nay, chƣa thấy một
văn bản pháp lý quốc tế và công trình nghiên cứu nào đƣa ra định nghĩa chi
tiết và hoàn thiện về tranh chấp đầu tƣ nƣớc ngoài. Chỉ biết rằng đầu tƣ nƣớc
ngoài là cả một quá trình chuyển vốn (bao gồm cả công nghệ và yếu tố khác
của sở hữu trí tuệ) và/hoặc nguyên vật liệu từ một nƣớc (nƣớc xuất khẩu vốn)
sang một nƣớc khác (nƣớc chủ nhà) nhằm mục đích sản xuất kinh doanh sinh
lợi nhuận.
Tranh chấp đầu tƣ theo Điều 25, khoản 1, Công ƣớc Washington 1965
(Công ƣớc về giải quyết tranh chấp đầu tƣ giữa các quốc gia và công dân các
quốc gia khác có hiệu lực pháp luật từ 14/10/1966) đƣợc hiểu „„là tranh chấp
pháp lý phát sinh trực tiếp từ đầu tư‟‟. Nhƣ vậy ngay cả Công ƣớc thành lập
Trung tâm quốc tế về giải quyết các tranh chấp đầu tƣ nƣớc ngoài ICSID
cũng để ngỏ cả khái niệm đầu tƣ lẫn tranh chấp đầu tƣ. Theo nhà nghiên cứu
pháp lý thì lý do của việc này là ở chỗ những ngƣời soạn thảo Công ƣớc
muốn về lâu dài ICSID có thẩm quyền rộng trong việc xét xử các tranh chấp. 15
Ở Việt Nam, Luật đầu tƣ 2005 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành
không quy định thế nào là tranh chấp trong lĩnh vực đầu tƣ có yếu tố nƣớc
Hiệp định bảo hộ đầu tƣ song phƣơng, còn có cả vấn đề phát sinh từ đầu tƣ tƣ
nhân. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu cho rằng không nên coi loại
tranh chấp này là một hình thức tranh chấp đầu tƣ [60, tr.10]. Thực ra, quan
điểm trên đã thể hiện một quan niệm hẹp về tranh chấp đầu tƣ nƣớc ngoài, chỉ
nhìn nhận tranh chấp dƣới góc độ của các nhà đầu tƣ tƣ nhân. Trong khi đó
hiện nay việc các nƣớc tranh chấp với nhau về những vấn đề liên quan đến
đầu tƣ không phải là hiếm.
Tranh chấp giữa nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và Chính phủ nƣớc chủ nhà
(trực tiếp hoặc thông qua các Cơ quan chính phủ), là loại tranh chấp chủ yếu
và tƣơng đối phức tạp, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về mặt pháp lý
chƣa đƣợc giải quyết một cách thoả đáng. Nguyên nhân chính là do các bên
tranh chấp không phải là chủ thể của một hệ thống pháp luật. Nƣớc chủ nhà
với tƣ cách là một quốc gia độc lập có chủ quyền, thuộc đối tƣợng điều chỉnh
của Công pháp quốc tế, trong khi đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là chủ thể của Tƣ
pháp quốc tế. Các quốc gia thƣờng thoả thuận tại Hiệp định bảo hộ đầu tƣ
song phƣơng đƣa loại tranh chấp này ra giải quyết tại Trung tâm quốc tế về
giải quyết tranh chấp đầu tƣ ICSID.
Tranh chấp giữa nhà đầu tƣ nƣớc ngoài với cá nhân, tổ chức (gọi chung
là công dân) nƣớc chủ nhà là loại hình tranh chấp thuần tuý mang tính chất
thƣơng mại và thƣờng đƣợc giải quyết tại các cơ quan giải quyết tranh chấp
của nƣớc chủ nhà hoặc tại tổ chức trọng tài quốc tế
1
nếu các bên không có thoả
1
Ở đây khái niệm trọng tài quốc tế dùng để chỉ tổ chức trọng tài (bao gồm trọng tài quy chế và trọng tài ad-
hoc) có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đầu tƣ có yếu tố nƣớc ngoài. Chẳng hạn ở Việt Nam, Trung tâm 17
18
đầu tƣ thực hiện việc sáp nhập và mua lại các doanh nghiệp, chi nhánh
doanh nghiệp.
- Tranh chấp liên quan đến đầu tƣ gián tiếp nhƣ : đầu tƣ thông qua
chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu và các giấy tờ có giá trị khác) ; đầu tƣ
thông qua quỹ chứng khoán ; đầu tƣ thông qua ngân hàng, doanh
nghiệp bảo hiểm
Theo quy định của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt
Nam và các nước có các loại tranh chấp cơ bản sau :
(i) Tranh chấp về đầu tƣ giữa một bên ký kết với nhà đầu tƣ của bên ký
kết kia về nghĩa vụ của bên ký kết đó đối với những đầu tƣ của nhà đầu
tƣ bên ký kết kia; hoặc sự vi phạm bất kỳ quyền nào trong Hiệp định
liên quan đến đầu tƣ của nhà đầu tƣ đó.
(ii) Tranh chấp giữa các bên ký kết Hiệp định liên quan đến việc giải
thích hoặc áp dụng Hiệp định.
(Điều 7, điều 8 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tƣ giữa Việt
Nam và Malaysia ; điều 6, điều 8 Hiệp định về bảo hộ đầu tƣ giữa Việt
Nam và Liên bang Nga ).
Nhƣ vậy, các hình thức tranh chấp theo quy định của các Hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu tƣ đƣợc quy định ở tầm khái quát cao hơn so với
đầu tƣ trong nƣớc. Các quy định về tranh chấp đầu tƣ ở trong các văn bản
pháp luật trong nƣớc mang tính cụ thể và chi tiết hơn, phù hợp với thực tiễn
sản xuất kinh doanh thƣơng mại trên thực tế.
1.1.2.3 Các bên tranh chấp và đối tượng tranh chấp
Trong cả lý luận và thực tiễn, vấn đề xác định đối tƣợng tranh chấp và
các bên tranh chấp không phải là vấn đề gây tranh cãi lớn. Việc xác định các 19
bên tranh chấp suy cho cùng chính là xác định trách nhiệm, quyền và nghĩa
các quy định rõ ràng về các bên tham gia liên doanh cũng nhƣ trong quy định của pháp luật, dẫn đến sự khó 20
Trong trƣờng hợp phát sinh tranh chấp thì vấn đề cần xác định là liệu
các cơ quan nhà nƣớc có phải chịu trách nhiệm quốc tế do vi phạm hợp đồng
hay không. Nhìn chung, các nƣớc phát triển có xu hƣớng coi vi phạm hợp
đồng kiểu này phải chịu trách nhiệm quốc tế. Ngƣợc lại, các nƣớc đang phát
triển coi đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế và vì vậy không
phải chịu trách nhiệm quốc tế [60, tr.12]. Mỗi một quan điểm có căn cứ và lý
lẽ riêng của mình, tuy nhiên, để nhận định đâu là quan điểm đúng thì phải căn
cứ trƣớc hết vào các văn bản pháp lý quốc tế quy định thế nào là „„trách
nhiệm pháp lý quốc tế‟‟ và các trƣờng hợp coi là phải chịu trách nhiệm pháp
lý quốc tế. Trong phạm vi bài viết này, ngƣời viết xin phép không đề cập sâu
vào vấn đề trên.
Tranh chấp giữa các Chính phủ với nhau thƣờng xuyên liên quan đến
việc thực hiện Hiệp định. Đối tƣợng của tranh chấp giữa Chính phủ và nhà
đầu tƣ nƣớc ngoài thƣờng liên quan đến vấn đề thể thức và mức độ bồi
thƣờng trong trƣờng hợp nƣớc nhận đầu tƣ áp dụng các biện pháp cƣỡng chế
hành chính đối với đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong một số Hiệp định về đầu tƣ
thƣờng quy định cụ thể đối tƣợng tranh chấp là việc tìm hiểu và giải thích
Hiệp định nhƣ trong Hiệp định giữa Việt Nam với Thụy Điển hay Hiệp định
giữa Việt Nam với Phần Lan.
Qua các phân tích trên chúng ta có thể thấy rằng vấn đề xác định đối
tƣợng của tranh chấp cũng nhƣ các bên của tranh chấp là một vấn đề có ý
nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp về đầu tƣ. Trong các hợp
đồng đầu tƣ càng quy định rõ đối tƣợng tranh chấp và các bên tranh chấp thì
việc lựa chọn phƣơng thức giải quyết càng dễ dàng bấy nhiêu. Điều này có
khăn trong hoạt động, nên khi xảy ra tranh chấp khó có thể xác định chính xác quyền và nghĩa vụ của các