MỤC LỤC
BLTTDS – Bộ luật tố tụng dân sự
VADS – Vụ án dân sự
1
MỞ ĐẦU
Đương sự là một khái niệm pháp lý đặc thù của lĩnh vực tố tụng tại Tòa án dân sự
nói riêng cũng như ngành Tòa án nói chung. Trong vụ án dân sự, đương sự là một chủ
thể quan trọng, không thể thiếu. Đương sự trong tố tụng dân sự bao gồm : nguyên
đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mặc dù cùng được gọi với khái
niệm chung “đương sự” nhưng mỗi trường hợp đều có những quy định pháp luật về
quyền, nghĩa vụ và tư cách tố tụng khác nhau. Để tìm hiểu sâu hơn về người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự được quy định tại Bộ luật mới nhất hiện
nay – Bộ luật tố tụng dân sự 2015, em xin chọn đề bài số 6 : “Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015”
làm nội dung bài tập học kỳ.
NỘI DUNG
I – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự theo quy định
của BLTTDS năm 2015 :
1. Khái quát về đương sự trong vụ án dân sự :
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì đương sự là chủ thể không thể thiếu.
Theo từ điển tiếng Việt “đương sự” (1) được hiểu “là người, là đối tượng trong một sự
việc nào đó được đưa ra giải quyết”. Như vậy theo nghĩa chung nhất thì đương sự chi
là người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc
sống hàng ngày.
Vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người
đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có
không phụ thuộc với những yêu cầu của đương sự khác tham gia tố tụng. Thường
những người này cho rằng đối tượng hay phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn,
bị đơn là thuộc về mình. Cũng do đặc điểm này mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có đủ điều kiện pháp lý để kiện VADS riêng, song do vụ án phát sinh giữa
3
nguyên đơn và bị đơn, nên việc tham gia vào VADS giữa nguyên đơn và bị đơn sẽ tạo
điều kiện thuận lợi hơn trong việc Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn có thể là người có yêu cầu không độc
lập, ở đây họ không được tự mình yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích cho mình, yêu cầu
phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng, vào yêu cầu của nguyên đơn hay bị đơn. Chính
vì vậy, họ không thể khởi kiện riêng để Tòa án giải quyết quyền lợi cho riêng họ.
3. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định theo
điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, cụ thể :
“1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70 của Bộ luật này;
b) Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với
bên bị đơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và yêu cầu độc lập
này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy
định tại Điều 71 của Bộ luật này. Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án
chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có quyền khởi kiện vụ án khác.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên
đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều
71 của Bộ luật này.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn
hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 của Bộ
- Kết quả giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn của Tòa án có thể ảnh
hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
- Họ có thể bảo vệ lợi ích của mình bằng cách đưa ra yêu cầu độc lập hoặc không
đưa ra yêu cầu độc lập, đứng về phía nguyên đơn hoặc đứng về phía bị đơn để
chống lại đương sự phía bên kia.
5
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham gia tố
tụng có yêu cầu độc lập trước tòa án. Theo quy định tại Điều 201 BLTTDS 2015 thì
yêu cầu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được coi là có yêu cầu
độc lập khi :
- Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;
- Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;
- Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải
quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể vể người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan không có yêu cầu độc lập. Nên dựa vào các quy định có liên quan đến người
có quyền lợi, nghĩa vụ luên quan có thể thấy người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
không có yêu cầu độc lập là người tham gia tố tụng dân sự đứng về phía nguyên đơn
hoặc bị đơn và họ không có yêu cầu tố tụng trước Tòa án. Như vậy, việc xác định tư
cách tố tụng của họ phụ thuộc vào việc bên nguyên đơn hay bị đơn có yêu cầu hoặc
phụ thuộc vào tòa án.
II – Đánh giá các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự :
1. Thực trạng quy định của pháp luật về người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan trong tố tụng dân sự :
BLTTDS 2015 ra đời thay thế cho BLTTDS 2011 đã đáp ứng được các yêu cầu
thực tiễn của đời sống kinh tế – xã hội và các yêu cầu hội nhập, hợp tác quốc tế.
Trước tiên là các quy định về đương sự trong vụ án dân sự của BLTTDS 2015 đã
nên tòa không thể triệu tập được hết những người này tham gia tố tụng.
Vậy tại sao lại xảy ra tình trạng “không thể triệu tập được hết những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tham gia tố tụng” như vậy? Bởi BLTTDS 2015 có
quy định khi giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm có nghĩa vụ phải triệu tập đầy đủ tất
cả những người thuê này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham
gia các giai đoạn tố tụng (giai đoạn chuẩn bị xét xử, hòa giải và xét xử). Đồng thời,
tòa án phải thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản, quyết định liên
2 Bế tắc vì có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Báo điện tử Baomoi.com)
7
quan đến tố tụng cho họ (như triệu tập lấy lời khai, đối chất làm rõ vụ việc, hòa giải,
đưa vụ án ra xét xử, tạm hoãn, tạm đình chi...). Với quy định như vậy, nếu tính từ
khoảng thời gian từ khi bắt đầu vụ án cho đến khi kết thúc vụ án, số lượng người thuê
có thể thay đổi đáng kể, do đó việc triệu tập toàn bộ người thuê với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tham gia phiên tòa trở nên rất rắc rối, đồng thời các
thủ tục đối với mỗi cá nhân tham gia phiên tòa với tư cách người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan lại càng chồng chéo và dài dòng hơn. Hạn chế này dẫn đến vụ án
có thể kéo dài từ năm này sang năm khác mà không có hồi kết.
2. Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự.
Để việc giải quyết vụ án dân sự được thực hiện một cách đúng đắn, bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì nhà nước cần hoàn
thiện một số quy định của pháp luật về vấn đề này như sau :
Thứ nhất, quy định khái niệm đương sự trong vụ án dân sự. Có khái niệm chung về
đương sự sẽ giúp việc xác định khái niệm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
được rõ ràng, cụ thể hơn rất nhiều.
Thứ hai, cần bổ sung những quy định rõ ràng về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tham gia tố tụng không độc lập (đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn). Nhằm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 – NXB Lao Động.
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
3. Giáo trình luật tố tụng dân sự, Đại học Luật Hà Nội, NXB. Công an nhân dân,
Hà Nội 2009
4. Bình luận khoa học bộ luật tố tụng dân sự 2015.
5. Bế tắc vì có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Báo điện tử
Baomoi.com)
6. http://doc.edu.vn/tai-lieu/tieu-luan-duong-su-trong-vu-an-dan-su-thuc-trang-vahuong-hoan-thien-39569/
7. http://chilinh.org.vn/portal/news/2016/10/7947/mot-so-noi-dung-ve-vai-trocua-duong-su-trong-vu-an-dan-su-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-dan-sunam-2015/
10