Đối tượng của nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam - Pdf 34

G

iao dịch dân sự là tọa độ pháp lí phổ biến trong bản đồ pháp luật. Các chủ thể
xây dựng một quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó quyền và nghĩa vụ dân sự
của các bên chủ thể luôn đối lập nhau. Nghĩa vụ dân sự cũng là một quan hệ

pháp luật. Vậy đối tượng của nghĩa vụ dân sự là gì? Những đặc điểm của chúng được biểu
hiện như thế nào? Chính vì vậy mà bài viết này tôi muốn tập trung khai thác đề tài:
“Đối tượng của nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam”;

1. Một số vấn đề cơ bản về đối tượng nghĩa vụ dân sự

T

rong quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể sẽ tác động vào một tài sản, một
công việc cụ thể nào đó. Những tài sản, công việc này chính là đối tượng của
việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tùy thuộc vào tính chất cũng như nội dung của

từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà đối tượng của nó có thể là một tài sản, một công việc
phải làm hoặc một công việc không được làm. Theo điều 282 BLDS năm 2005 quy định
về đối tượng của nghĩa vụ dân sự:
“1. Đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không
được thực hiện.
2. Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể.
3. Chỉ những tài sản có thể giao dịch được, những công việc có thể thực hiện được mà
pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của nghĩa vụ dân sự”;
Nhà làm luật đã đưa ra khái niệm đối tượng nghĩa vụ dân sự theo phương pháp lôgic liệt kê. Do đó, đối tượng của nghĩa vụ bao gồm:
Đối tượng của nghĩa vụ dân
sự
Tài sản


đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Vật chắc chắn sẽ có trong
tương lai được quy định tại điều 175 BLDS 2005, đó là: hoa lợi và lợi tức. Tương tự, tiền
và giấy tờ trị giá được bằng tiền như cổ phiếu, trái phiếu, … cũng là loại tài sản có tính
chất đặc biệt;
2.1.2. Đặc điểm của tài sản
Thứ nhất,
Thứ hai,
Thứ ba,
Thứ tư,
Thứ năm,
Thứ sáu,

nó có thể lượng hóa được bằng tiền hoặc vật trao đổi ngang giá;
tài sản phải đáp ứng một mục đích nào đó cho chủ thể có quyền;
thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định;
nó phải đáp ứng lợi ích nhất định cho con người;
nó phải mang tính giá trị;
quyền sở hữu đối với chúng không còn khi chúng mất đi;
2


2.1.3. Phân loại tài sản
Thứ nhất, xem xét dưới góc độ đặc tính vật lí thực tế có thể phân loại tài sản
thành bất động sản và tài sản
Bất động sản và động sản là hai tiêu chí để phân

Còn theo Điều 174 BLDS

loại tài sản trong quyền sở hữu; Khái niệm động sản và



Thứ hai, dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành, có thể phân loại thành tài
sản gốc và hoa lợi, lợi tức
4


Cây cam: Vật gốc

Con gà mái: Vật gốc

Quả cam: Hoa lợi

Trứng gà: Hoa lợi

Tuy nhiên, cách hiểu này mang hơi hướng tiêu cực đối với việc nhìn nhận quan hệ
kinh tế tư bản từ góc độ xã hội chủ nghĩa. Lợi tức là khoản lợi nhuận thu được từ việc khai
thác tài sản mà do quá trình quan hệ xã hội mang lại. Thông thường người ta thường nghĩ
lợi tức chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản bóc lột lao động làm thuê mà có. Tuy nhiên
cách hiểu này mang hơi hướng tiêu cực đối với việc nhìn nhận quan hệ kinh tế tư bản từ
góc độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, lợi tức còn bao hàm cả lợi nhuận thu được khi cung
cấp dịch vụ, chẳng hạn như tiền thuê nhà, tiền gửi tiết kiệm ngân hàng,...Việc phân loại
hoa lợi và lợi tức chỉ đóng vai trò thứ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Khi xem xét hoa lợi, lợi tức thì cần phải lưu ý: Có những tài sản là tài sản gốc đối
với vật này nhưng lại là hoa lợi, lợi tức của tài sản khác; Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với
các bộ phận của tài sản. Chỉ khi tài sản tách ra khỏi tài sản gốc nó mới được coi là hoa lợi,
lợi tức của tài sản đó; trong trường hợp nó vẫn gắn liền với tài sản gốc thì nó được coi là
một bộ phận của tài sản đó. Ví dụ: sữa vẫn ở trong bầu vú con bò; quả vẫn ở trên cây, …;
Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với sản phẩm;

5

được trong sản xuất kinh doanh, sinh hoạt tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của con
người. Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng nhu cầu của con người, vật thực có tính cách là tài sản phải nằm
trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng giao lưu dân sự;

- Phân loại vật
Thứ nhất, vật chính và vật phụ
6


Theo Điều 176 BLDS năm 2005 phân loại vật thành: vật
chính và vật phụ. Có thể hiểu vật chính là vật độc lập, có thể khai
thác công dụng theo tính năng còn vật phụ là một bộ phận của
vật chính, hỗ trợ khai thác công dụng của vật chính nhưng có thể
tách rời.

Vật chính: Laptop

Ví dụ: Laptop (vật chính), chuột máy vi tính (vật phụ);
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc giao vật, giao vật chính
thì phải chuyển cả vật phụ.
Vật phụ: Chuột

Thứ hai, vật chia được và vật không chia được
Căn cứ vào hình dáng tính năng của vật người ta chia vật
thành vật chia được và vật không chia được. Vật chia được là
vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử
dụng ban đầu; còn vật không chia được thì ngược lại. Chẳng Vật chia được: Đỗ xanh

Vật không chia được:
Cái đĩa


8


Nhưng theo tôi, có những vật đồng bộ khi thiếu một trong các phần còn lại thì vẫn
thể hiện được tính năng của nó, phụ thuộc vào mục đích sử dụng của người sở hữu nó,
chẳng hạn một chiếc khuyên tai, một chiếc găng tay,…
Theo nguyên tắc chung, vật đồng bộ là đối tượng
thống nhất trong giao dịch dân sự. Vì vậy khi thực hiện
nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ phải chuyển giao toàn bộ
các phần hoặc các bộ phận hợp thành đồng bộ. Tuy nhiên
cách phân loại này không thông dụng khoa học pháp lí dân
Vật đồng bộ: Tranh tứ bình

sự, người ta dễ nhầm lẫn với các cách phân loại trên;

Ngoài ra, năng lượng được xem như là vật đặc biệt. Nó không có hình dạng và
không thể quan sát được nếu không có những phương tiện kĩ thuật chuyên dùng. Việc
chiếm hữu và chuyển giao thực hiện bằng phương thức riêng; Nó được coi là vật và được
đo lường chủ yếu bằng đơn vị Kw/h;
- Chế độ pháp lí đối với vật

C

ăn cứ vào giá trị và giá trị sử dụng của nó đối với xã hội về kinh tế, an ninh, quốc phòng, BLDS
đã quy định cách thức phát sinh quyền sở hữu, trình tự, các nguyên tắc dịch chuyển quyền sở
hữu đối với vật. Tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự, phương thức dịch chuyển
vật gọi là chế đọ pháp lí đối với vật đó. Căn cứ vào chế độ pháp lí của vật, người ta chia vật thành các
chế độ: vật cấm lưu thông, vật hạn chế lưu thông và vật tự do lưu thông;


việc áp dụng các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng các chứng thư này không

đảm bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan đòi hỏi nhà nước phải pháp luật hóa các quan hệ bán
chịu này; Năm 1603, Pháp lệnh về Humburg về hối phiếu được ban hành. Năm 1874, pháp lệnh chung
về hối phiếu Đức được tập hợp hóa từ 55 pháp lệnh hối phiếu của từng bang riêng rẽ; Năm 1882, Vương
quốc Anh ban hành luật hối phiếu; Đầu thế kỉ XX xuất hiện Công ước 1930 về hối phiếu; Từ cuối thế kỉ
XX, hối phiếu đã được sửu dụng rộng rãi trong quan hệ quốc tế; Hiệp ước thống nhất về hối phiếu đòi
nợ đã được Ủy ban luật thương mại liên hợp quốc thông qua vào năm 1988;

11


Ở Việt Nam, thời kì trước năm 1975, cơ chế quản lí nền kinh tế của nhà nước ta
mang tính chất tập trung quan liêu bao cấp nên quan hệ tín dụng thương mại chưa được
thừa nhận; ngoài một số loại tem phiếu có giá ra thì giấy tờ có giá không xuất hiện trong
giai đoạn này; Sau năm 1986, Nhà nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần;
Sau các loại công trái xây dựng tổ quốc, giao dịch phát hành giấy tờ có giá của ngân
hàng trong Pháp lệnh ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh hợp tác xã tín dụng và công ti tài
chính ngày 24/5/1990; Sau đó được tiếp tục quy định trong Luật các tổ chức tín dụng ban
hành ngày 12/12/1997 (SĐBS năm 2004); Năm 1995, BLDS đầu tiên ra đời ghi nhận tài
sản gồm giấy tờ có giá tại Điều 172; Trong nghị quyết số 07/2008/QĐ_NHNN
(24/3/2008) về quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thì giấy
tờ có giá được hiểu là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong
đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và
các điều khoản cam kết giữa các tổ chức tín dụng và người mua (khoản 1 Điều 4).
Như vậy, căn cứ vào thời hạn, nhà làm luật chia giấy tờ có giá thành hai loại: ngắn
hạn và dài hạn; còn căn cứ vào hình thức phát hành thì phân thành giấy tờ có giá ghi danh
và vô danh;
- Phân loại giấy tờ có giá

Séc là giấy tờ có giá do người kí phát lập, ra lệnh cho người bị
kí phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
được phép của ngân hàng nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất
định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người hưởng thụ.

Trái phiếu bao gồm công trái,
tín phiếu kho bạc, trái phiếu đầu
tư, trái phiếu huy động vốn cho
công trình, trái phiếu huy động
vốn cho quỹ phát triển và trái
phiếu công ty; Cổ phiếu và trái
phiếu đều phân thành hai loại:
ghi danh và không ghi danh;

* Quyền tài sản
- Khái niệm
Quyền tài sản hiểu

Quyền tài sản theo quy định của Điều 163, 181 BLDS
năm 2005 thì quyền tài sản cũng được coi là tài sản nhưng có

theo nghĩa rộng là quyền của
cá nhân, tổ chức được pháp

tính chất đặc thù. Chỉ những quyền nào trị giá được bằng tiền

luật cho phép thực hiện hành

và có thể chuyển giao cho người khác trong giao lưu dân sự thì


làm luật La Mã thời cổ đại thì

cụ thể và xác định còn quyền đối nhân được hiểu là các quyền

người ta chia quyền tài sản

tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực

thành vật quyền (quyền đối

hiện đối với người có quyền;

vật) và trái quyền (quyền đối
nhân) mà không chia thành

Quyền đối vật trong quan niệm Latin quyền đối với vật
hoặc quyền được đảm bảo bằng giá trị của vật;
Quyền đối nhân là quyền được thiết lập trong mối quan
hệ giữa các chủ thể theo pháp luật; Đó là quyền cho phép một
người yêu cầu người khác đáp ứng đòi hỏi của mình nhằm
thỏa mãn một nhu cầu gắn liền với lợi ích vật chất của mình;

quyền tài sản và quyền sở
hữu vì xét cho cùng thì quyền
sở hữu là một phần của quyền
tài sản;
Điều 181 BLDS năm 2005
quy định quyền tài sản là
quyền giá trị được bằng tiền.
Theo quy định này nhà lập


C

ông việc phải làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ, nếu từ một công việc
được nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ mà theo đó, người có
nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định;

Công việc phải làm có thể phải hoàn thành với kết
quả nhất định.
Ví dụ 1: Chủ đầu tư thuê nhà thầu dự án xây biệt thự.
Kết quả của hoàn thành việc thi công xây dựng là ngôi
biệt thự mới hoàn chỉnh;
Nhưng công việc cũng có thể không gắn liền với
kết quả (do các bên thỏa thuận hoặc do tính chất của
14

Biệt thự


Tập duyệt vệ sĩ

Mặt khác, kết quả của công việc phải làm có thể được biểu hiện dưới dạng một vật
cụ thể (hàng hóa, tài sản) nhưng cũng có thể không biểu hiện dưới dạng một vật cụ thể
nào (các loại dịch vụ);
Ví dụ1: Trong hợp đồng gia công tài sản, kết quả của công việc được biểu hiện dưới dạng
một tài sản được xác định từ trước;

Vải- vật chưa gia công

Áo- vật đã gia công


Đáp ứng lợi ích cho
chủ thể có quyền

Xác định cụ thể

Phải thực hiện được

Thứ nhất, phải đáp ứng được lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền
Thông thường lợi ích mà chủ thể có quyền
hướng tới là lợi ích vật chất (vật, tiền,…). Chẳng hạn
trong Hợp đồng thuê tài sản thì chủ thể có quyền
hướng tới là một khoản tiền. Nhưng cũng có thể là
một lợi ích tinh thần như: thuê ca sĩ hát, thuê diễn
viên đóng kịch nhằm giải trí (lợi ích tinh thần);

Ca sĩ đang hát trên sân khấu

Để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chất nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là
một vật cụ thể thì vật đó phải mang đầy đủ các thuộc tính của hàng hóa (giá trị và giá trị
sử dụng). Nếu đối tượng của nghĩa vụ là công việc phải làm hoặc không phải làm thì phải
hướng tới lợi ích của người có quyền; Nếu công việc đó không hướng tới lợi ích của
người có quyền thì công việc đó sẽ là điều kiện trong một số giao dịch cụ thể.
Ví dụ: A sẽ tặng B một chiếc đồng hồ vàng với điều kiện B phải chiến thắng
trong cuộc thi diền kinh sắp tới.
Như vậy, “chiến thắng trong cuộc thi điền kinh” không phải là nghĩa vụ mà B
phải thực hiện mà chỉ là điều kiện để B có thể nhận được chiếc đồng hồ. Điều kiện
khác với nghĩa vụ ở tính bắt buộc thực hiện;
16




Những tài sản mà pháp luật cấm giao dịch, những công việc mà pháp luật cấm
làm hoặc những công việc nếu làm sẽ trái với đạo đức xã hội cũng là những đối tượng
không thực hiện được. Vì vậy, nó không bao giờ là đối tượng của nghĩa vụ dân sự.
Ví dụ: “dịch vụ đẻ thuê”;
Như vậy, đối tượng của nghĩa vụ dân sự là những công việc được xác định và
thực hiện được trong thực tế, hoặc là những vật có thực và được phép giao dịch mà bên
có nghĩa vụ phải tạo ra hoặc phải chuyển giao.

4. Các vấn đề pháp lí liên quan tới đối tượng của nghĩa vụ dân sự
4.1. Dịch vụ đẻ thuê

D

ịch vụ đẻ thuê là một cụm từ được sử dụng rộng rãi trong xã hội, dùng để ám
chỉ những giao dịch dân sự ngầm. Dịch vụ đẻ thuê được hiểu theo 2 khía cạnh:

Thứ nhất, mang thai hộ: Người phụ nữ sẽ được cấy noãn của người phụ nữ khác

và tinh trùng của nam giới vào bên trong cơ thể;
Thứ hai, người phụ nữ sẽ được nhận tinh trùng trực tiếp hoặc gián tiếp kết hợp
với trứng của mình để tạo ra thai nhi;
Ở trên thế giới pháp luật một số nước thừa nhận dịch vụ đẻ thuê trên góc độ
mang thai hộ. Chẳng hạn như Ấn Độ. Vì họ cho rằng đây là một giao dịch dân sự
thông thường, đảm bảo cho người hiếm muộn và những người bị hạn chế khả năng
sinh con có thể có con. Ở vị trí này người mang thai hộ sẽ được hiểu như một phòng
thí nghiệm sinh học giúp đứa trẻ có điều kiện phát triển bình thường.
Nhưng ở Việt Nam dù hiểu dịch vụ đẻ thuê trên phương diện nào thì pháp luật
Việt nam cũng không chấp nhận hình thức giao dịch dân sự này. Dịch vụ đẻ thuê xét

4.3.

Cho tặng tinh trùng trực tiếp

B

ên cho tặng tinh trùng sẽ cho bên nhận tinh trùng với điều kiện phải cấy
trực tiếp. Bên cho tặng sẽ có “nghĩa vụ” phải làm công viêc: Quan hệ tình
dục với bên nhận. Rõ ràng theo quy định của Luật hiến, ghép mô, tạng thì

pháp luật nghiêm cấm mua bán tinh trùng dưới mọi hình thức nhưng lại không nghiêm
cấm hành vi cho tặng tinh trùng trực tiếp. Đây cũng không phải là hành vi mua bán
dâm theo quy định của pháp luật hình sự. Vậy thì hành vi cho tặng tinh trùng trực tiếp
có phải là đối tượng của nghĩa vụ dân sự hay không? Đây cũng là câu hỏi để ngỏ trong
hệ thống pháp luật.

19


TƯ LIỆU ĐÍNH KÈM

PHỤ LỤC 1:
Đẻ thuê- dịch vụ ngầm với nhu cầu có thật
Vụ 14 cô gái Việt Nam tham gia vào đường dây đẻ thuê tại Thái Lan một lần
nữa làm nóng lên vấn đề nhạy cảm này - bởi lẽ nó được khui ra với tầm vóc quốc tế;
thế nhưng ngay ở trong nước, “nghề” đẻ thuê từ lâu đã và vẫn tồn tại- bởi một “thị
trường” những người hiếm muộn khát con đâu đâu cũng có.
Với nhiều nước trên thế giới, việc đẻ thuê được coi là hợp pháp, thậm chí là “chìa
khoá” để phát triển ngành công nghiệp không khói - du lịch đẻ thuê. Nhưng ở nước ta,
Cho hay Cấm - và luật pháp phải quản lý như thế nào để giảm tối thiểu những thiệt hại cả

mang thai thuê như: thuốc men, sữa bồi bổ…
Còn theo ghi nhận chưa đầy đủ của một số chuyên viên, BS ở 3 đơn vị đầu ngành có triển
khai dịch vụ hỗ trợ sinh sản tại TPHCM như BV Hùng Vương, BV Từ Dũ và BV Quốc tế
thì tuy không phải con số quá lớn, song, tình trạng vô sinh cần đến sự hỗ trợ từ việc mang
thai hộ cũng là một con số cần ghi nhận. Và điều này khiến nhu cầu tìm đến “dịch vụ
ngầm đẻ thuê” là có thật…
Tâm sự của những người trong cuộc
21


Hành vi đẻ thuê, đẻ mướn hay còn được những người “trong giới” quen gọi là
nghề “cho thuê… tử cung” vốn đã bị xem là nghề “chui”, phạm pháp nên những bi kịch
của những đội ngũ hành nghề này hầu như ít ai biết. Hoặc có biết, cũng chẳng mấy ai
cảm thông. Trong khu nhà trọ của những phụ nữ nằm chờ để thực hiện dịch vụ hỗ trợ sinh
sản gần BV Từ Dũ, mọi người vẫn truyền tai nhau về một vụ “tai nạn nghề nghiệp” của
M. (quê Sóc Trăng).
M đã từng thành công với nghề “cho thuê tử cung” 2 lần, cô lần lượt cho ra đời 1 trai, 1
gái cho hai cặp vợ chồng nghe nói là người Bắc. Số tiền cô kiếm được qua hai phi vụ này
cũng đủ cho cô và một người mẹ ở quê sống khá ổn định trong 2 năm trời, cộng thêm việc
sửa lại được ngôi nhà ở quê. So với việc làm đồng áng của M thì “đẻ thuê” quả là một
việc nhẹ nhàng và thu nhập cao nên M có phần “thích thú” với “nghề” này.
Những tưởng mọi việc sẽ tiếp tục “thuận buồm xuôi gió” nhưng ở hợp đồng thứ 3,
cô đã gặp sự cố, M đã phải cắt bỏ tử cung ngay sau khi sinh đứa bé. Ý định giữ lại con và
trả lại tiền đã nảy ra trong đầu M, song chưa kịp thực hiện, ngày M vừa có thể đi lại, qua
cơn nguy kịch và được cho xuất viện thì cũng chính là lúc cha mẹ đứa bé đến đón bé đi.
Sau bi kịch đó, nghe nói M đã rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần và người mẹ già
lại phải bươn chải để cưu mang cô.
Những chuyện “cười ra nước mắt”, những hệ lụy của dịch vụ “đẻ thuê” không chỉ
xảy ra với người “cho thuê tử cung” mà đối với cha mẹ đứa bé, những người có nhu cầu
tìm đến dịch vụ ngầm này. Anh H - nhân viên của Cty bảo hiểm P - tâm sự: “Tôi cũng đã


PHỤ LỤC 2:
Nở rộ dịch vụ thám tử tư
Không chỉ người có gia đình tìm đến dịch vụ thám tử tư xác minh việc ngoại tình
của bạn đời, mà nhiều bạn trẻ cũng muốn tìm hiểu chân dung của người yêu trước khi kết
hôn.
Gõ từ "thám tử tư", trên trang Google sẽ hiện lên vô vàn địa chỉ, trang web của các
công ty cung cấp loại hình dịch vụ này từ Nam tới Bắc. Cùng với đó là những quảng cáo
ấn tượng như: "Phá án chuyên nghiệp", "Chúng tôi giúp quý vị quản lý con cái tốt hơn"
hay "Không hài lòng, không mất tiền"...
Hơn 10 năm trong nghề, Nguyên (thám tử một văn phòng trên phố Thái Hà, Hà
Nội) cho biết, trước đây cả Hà Nội và TP HCM số lượng đơn vị cung cấp dịch vụ thám tử
chỉ đếm trên đầu ngón tay thì nay không tính xuể. Tuy nhiên, công việc không vì thế ế ẩm
mà nhiều lúc còn làm không hết việc. Giờ đây, khách hàng không chỉ ở trong nước mà
còn cả người sống tại nước ngoài.
Trưởng văn phòng thám tử gần hồ Hoàng Cầu (Hà Nội) cũng thừa nhận "cầu" trong
lĩnh vực này đang tăng mạnh. Nhiều lúc, ông phải từ chối khéo "thượng đế" vì còn nhiều
hợp đồng vẫn chưa giải quyết xong.
Ông cho biết, phần đông khách hàng là những ông bố bà mẹ có con giận dỗi bỏ nhà
khi bị mắng, thậm chí xin tiền không được hay bị ngăn cấm chuyện yêu đương...

24


"Ngoài ra còn nhiều người đến đặt hàng theo dõi chồng hoặc vợ nghi ngoại tình;
tìm hiểu đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh hay "phá" các vụ trộm cắp vặt trong công
ty... ", vị này tiết lộ.
Đặc biệt, gần đây lại đang có xu hướng người chuẩn bị kết hôn tìm muốn tìm hiểu
lý lịch của người bạn đời trong tương lai cũng như các mối quan hệ hiện tại. "Đối tượng
khách này chiếm 20% các hợp đồng của chúng tôi", Trưởng văn phòng cho hay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status