BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------
TRẦN THỊ DIỆU LINH
QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN, NGƢỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ
LIÊN QUAN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------
TRẦN THỊ DIỆU LINH
QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN, NGƢỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ
LIÊN QUAN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Trần Thị Diệu Linh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật tố tụng dân sự
BLTTDS
Tòa án nhân dân
TAND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSND
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................ 1
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI .......................................................... 2
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................ 3
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................. 3
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ................................................................... 4
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN................................................. 4
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN ......................................................................... 5
Chƣơng 1 ........................................................................................................... 6
KHÁT QUÁT VỀ QUYỀN TỐ TỤNG CỦA BỊ ĐƠN, NGƢỜI CÓ QUYỀN
2.1.4. Quyền kháng cáo, khiếu nại; quyền đề nghị kháng nghị ...................... 29
2.2. Thực trạng các quy định hiện hành về nhóm quyền liên quan đến chứng
minh trong tố tụng dân sự ............................................................................... 32
2.2.1. Quyền chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình ................................................................................................. 33
2.2.2. Quyền của bị đơn trong việc chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu của nguyên đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập ....................................................................................................... 35
2.2.3. Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lƣu giữ, quản lý chứng
cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình................................................................. 36
2.2.4. Quyền đƣợc biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đƣơng sự
khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập đƣợc ................................................ 38
2.2.5. Quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự
mình không thể thực hiện đƣợc....................................................................... 39
2.2.6. Quyền đề nghị Tòa án yêu cầu đƣơng sự khác xuất trình tài liệu, chứng
cứ mà họ đang giữ ........................................................................................... 40
2.2.7. Quyền đề nghị Tòa án triệu tập ngƣời làm chứng, trƣng cầu giám định,
quyết định việc định giá tài sản ....................................................................... 40
2.2.7.1. Quyền đề nghị Tòa án triệu tập ngƣời làm chứng ............................. 40
2.2.7.2. Quyền trƣng cầu giám định ................................................................ 41
2.2.7.3. Quyền quyết định việc định giá tài sản .............................................. 41
2.3. Thực trạng các quy định hiện hành về nhóm quyền liên quan đến việc
tham gia tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan............. 42
2.3.1. Quyền của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc Tòa án
thông báo về việc khởi kiện ............................................................................ 42
2.3.2. Quyền tự bảo vệ hoặc nhờ ngƣời khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình .......................................................................................................... 44
2.3.3. Quyền tham gia phiên họp, tham gia và tranh luận tại phiên tòa ......... 45
3.1.2.3. Bất cập, vƣớng mắc và hạn chế trong thực tiễn thực hiện các quyền liên
quan đến sự tham gia tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan64
3.1.2.4. Bất cập, vƣớng mắc và hạn chế trong thực tiễn thực hiện các quyền tố
tụng khác của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ....................... 72
3.2. Kiến nghị về quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong tố tụng dân sự ................................................................................ 75
3.2.1. Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật ........................................................ 75
3.2.2. Kiến nghị về thực hiện pháp luật .......................................................... 84
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 87
KẾT LUẬN CHUNG ...................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày 25/11/2015, Quốc hội khóa XIII nƣớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, đánh dấu một bƣớc phát triển mới
của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. BLTTDS năm 2015 là văn bản pháp
luật quy định chung và đầy đủ nhất về các quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia vào quan hệ tố tụng dân sự, trong đó có bị đơn, ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong tố tung dân sự. Quyền của của bị đơn, ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đƣợc ghi nhận cụ thể và rõ ràng trong
BLTTDS năm 2015, là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực thi cũng nhƣ bảo
đảm thực hiện các quyền hợp pháp của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong tố tụng dân sự.
Việc nghiên cứu đánh giá luật thực định và thực tiễn hiện nay cho thấy
mặc dù các quyền của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đƣợc
pháp luật ghi nhận khá đầy đủ nhƣng việc quan tâm bảo đảm thực hiện chúng
việc xác định tư cách tham gia tố tụng” - bài viết của tác giả Trần Anh Tuấn
trên Tạp chí TAND, số 23/2008.
Tuy nhiên, quyền của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
mới đƣợc phân tích, nghiên cứu trên khía cạnh các quyền của đƣơng sự nói
chung hoặc đề cập đến một số quyền đơn lẻ và dƣới góc độ nghiên cứu khoa
học là chủ yếu. Cho đến nay, chƣa có một công trình nào nghiên cứu một
cách chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống về quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giải quyết vụ việc dân sự dƣới cả góc độ
luật thực định và thực tiễn thực hiện. Bên cạnh đó, với việc thông qua
BLTTDS ngày 25/11/2015, pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam đã có
nhiều thay đổi quan trọng, trong đó có những quy định mới liên quan đến
quyền tố tụng của bị đơn và quyền của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Tính đến nay, sau hơn 01 năm có hiệu lực thi hành, dƣờng nhƣ chƣa có
một bài viết hay công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ và
chi tiết về quyền của bị đơn và quyền của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong tố tụng dân sự.
3
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ nội dung những quy định của
pháp luật hiện hành về quyền tố tụng của bị đơn, quyền tố tụng của ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và thực tiễn thực hiện các quyền trên. Trên cơ
sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam về quyền của bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tố tụng của những chủ thể này trên thực tế.
* Phạm vi nghiên cứu
Quyền tố tụng của bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có toàn diện, có hệ thống về quyền tố
tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam trong thời gian gần đây. Những đóng góp của luận văn
thể hiện trên một số phƣơng diện sau đây:
- Nghiên cứu và đƣa ra đƣợc khái niệm về quyền tố tụng của bị đơn
trong tố tụng dân sự và quyền tố tụng của nguyên đơn, ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự.
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn
thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về quyền tố tụng của bị đơn,
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhằm chỉ ra những vƣớng mắc, bất cập
trong các quy định pháp luật, trong việc thực hiện quy định của pháp luật và
thực trạng thực hiện quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan tại Tòa án.
- Qua phân tích, đánh giá và chỉ ra thực trạng các quy định của pháp
luật và thực tiễn thực hiện, luận văn đƣa ra những kiến nghị quan trọng nhằm
hoàn thiện pháp luật về quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tố tụng của bị đơn,
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu theo định hƣớng
ứng dụng, đi sâu vào thực tiễn bảo đảm và thực thi quyền của bị đơn, ngƣời
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự Việt Nam tại Tòa án.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện nhận
thức chung về quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong tố tụng dân sự, qua đó có cơ sở để phân tích, đánh giá những thiếu
5
sót, bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành,
pháp, xã hội, phong tục, tập quán cho phép hƣởng thụ, vận dụng, thi hành mà
không ai đƣợc phép ngăn cản, hạn chế, là cái mà con ngƣời ta có và đƣợc tự
quyết định sử dụng hoặc không sử dụng nó.
Xét ở góc độ thuật ngữ, thì quyền là một khái niệm pháp lý dùng để chỉ
những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ
chức để theo đó mà cá nhân, tổ chức đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi một
việc gì đó mà không ai có quyền ngăn cản, hạn chế1. Đối với quan hệ pháp
luật nói chung cũng nhƣ quan hệ dân sự nói riêng, quyền cùng với nghĩa vụ là
hạt nhân, là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại của quan hệ pháp luật, là
mục tiêu và cũng là động lực để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật.
Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì “tố tụng” là việc thƣa kiện,
còn “tố tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố
tụng2, tức là cách thức để thƣa kiện đến nơi, đến ngƣời có khả năng phân xử
và thực hiện việc giải quyết tranh chấp. Thông thƣờng, tố tụng đƣợc hiểu là
“việc kiện cáo trước Tòa án”3; do đó, tố tụng dân sự đƣợc hiểu là việc kiện
cáo trƣớc Tòa án về các quan hệ pháp luật dân sự.
Tuy nhiên, ở nƣớc ta hiện nay vẫn có hai luồng tƣ tƣởng khác nhau về tố
tụng dân sự. Một quan điểm cho rằng tố tụng dân sự bao gồm các trình tự, thủ
tục giải quyết quan hệ dân sự từ khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử, xét xử
nhƣng không bao gồm hoạt động thi hành án. Xuất phát của quan điểm này là
lập luận về sự bắt buộc, mang tính mệnh lệnh cao của công tác thi hành án
đƣợc coi là không phù hợp với đặc trƣng của quan hệ pháp luật dân sự có tính
1
Trung tâm từ điển học (2009), Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng, Hà Nội.
Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trƣờng Thi xuất bản, Sài Gòn, tr. 302
3
Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán - Việt, NXB Văn Học, Hà Nội, tr. 687.
2
gia tố tụng vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo
4
tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=27 truy cập ngày
18/8/2017
5
Nguyễn Công Bình (Chủ biên, 2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, tr. 108.
8
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc tham gia tố tụng của ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủ động, theo
yêu cầu của đƣơng sự khác hoặc theo yêu cầu của tòa án. Ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự không khởi kiện nhƣ nguyên đơn,
không bị kiện nhƣ bị đơn mà là ngƣời tham gia tố tụng khi vụ án đã xuất hiện
giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Việc tham
gia tố tụng của họ trong vụ án dân sự là do họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án dân sự6.
Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, các chủ thể phải thực hiện đúng
các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình theo quy định của pháp luật. Việc một
chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền, nghĩa vụ của mình
theo quy định của pháp luật có thể sẽ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp
của chủ thể khác, dẫn đến tranh chấp. Ở nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
nam, Nhà nƣớc bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể. Các
quyền, lợi ích hợp pháp này trong quan hệ dân sự đƣợc hiểu là quyền dân sự.
Và để duy trì trật tự xã hội, Nhà nƣớc thiết lập cơ chế pháp lý bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp cho các chủ thể. Theo đó, khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể
khác có quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự bị xâm phạm thì có quyền thực
tụng dân sự đƣợc thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc
lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nƣớc.
2. Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của bị đơn, ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự
Quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là nội
dung cơ bản và mang tính định hƣớng của pháp luật tố tụng dân sự. Việc bảo
đảm và thực thi các quyền này này phụ thuộc vào những yếu tố nhất định,
trong đó, các quy định của pháp luật, hoạt động của cơ quan, ngƣời tiến hành
tố tụng, hiểu biết pháp luật của ngƣời dân và hoạt động hỗ trợ của cá nhân, cơ
quan, tổ chức là những yếu tố có tính chất quyết định đến việc bảo đảm và
thực thi các quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong hoạt động tố tụng dân sự.
2.1. Hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, cụ thể
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Pháp
luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nƣớc mà còn là công cụ điều tiết các
quan hệ xã hội. Đối với việc bảo vệ và thực thi các quyền tố tụng dân sự của bị
đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì pháp luật đóng vai trò vô cùng
quan trọng.
Để bảo đảm việc thực thi các quyền tố tụng dân sự của bị đơn, ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đầu tiên là phải xây dựng đƣợc một hệ thống
quy phạm pháp luật nội dung đầy đủ, chặt chẽ. Pháp luật nội dung đƣợc coi là
nền tảng cơ sở của hệ thống pháp luật bởi nó xác định quy chế pháp lý, quyền,
10
nghĩa vụ chủ thể, các tiền đề vật chất cũng nhƣ điều kiện cần thiết để thực
hiện đƣợc mục đích của pháp luật trong các trƣờng hợp cụ thể của thực tiễn
cuộc sống. Chỉ khi hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về quyền và
nghĩa vụ dân sự đƣợc chặt chẽ thì mới xác định đƣợc khi nào quyền và lợi ích
11
Để bảo đảm thực hiện quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự, những ngƣời tiến hành tố tụng dân sự
bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thƣ ký Tòa án phải thực hiện
nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ
tố tụng của mình. Hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thƣ ký Tòa
án không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn pháp lý của các cá nhân này
mà còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của họ
khi tham gia giải quyết các vụ việc dân sự. Thực tế đã chứng minh, ở nơi nào,
vào giai đoạn nào, nếu vị thế, vai trò của Tòa án đƣợc nhìn nhận, đánh giá và
sử dụng đúng thì ở nơi đó, vào giai đoạn đó, kỷ cƣơng, phép nƣớc đƣợc củng
cố và giữ vững, bảo đảm đƣợc trật tự xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình xây dựng và phát triển quốc gia về mọi mặt chính trị, kinh tế - xã hội và
quan trọng nhất là bảo đảm lợi ích về mọi mặt cho mỗi ngƣời dân9. Ngoài ra,
các quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố
tụng dân sự có đƣợc thực hiện trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào việc
thực hiện vai trò của Viện Kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân thủ pháp
luật của Tòa án và những ngƣời tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng dân sự.
2.3. Nhận thức pháp luật của đương sự và hoạt động hỗ trợ pháp lý
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
Pháp luật có đầy đủ các quy định xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của
các chủ thể đồng thời cũng quy định trình tự, thủ tục và các điều kiện pháp lý
cần thiết để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ đó đƣợc thực hiện trong thực tiễn.
Do đó, bên cạnh hoạt động của Tòa án thì nhận thức pháp luật của bị đơn,
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về quyền của mình cũng là một trong
những yếu tố góp phần thực hiện có hiệu quả việc bảo đảm thực thi quyền của
những chủ thể này trong quan hệ tố tụng dân sự. Ngoài ra, ý thức thực hiện
nghĩa vụ tố tụng của các đƣơng sự khác có liên quan sẽ ảnh hƣởng tích cực
Quyền đƣợc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, ngƣời có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan nói riêng và của đƣơng sự nói chung là quyền cơ
bản đƣợc ghi nhận tại các văn bản pháp luật từ thuở sơ khai, từ trƣớc thời kỳ
cách mạng tháng Tám cho đến những văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên
ghi nhận một cách hệ thống các quyền tố tụng dân sự nhƣ Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế
năm 1994.v.v… và tiếp tục đƣợc khẳng định tại BLTTDS năm 2015 (Điều 4).
Việc pháp luật quy định các quyền tố tụng cho bị đơn, ngƣời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là tiền đề, là cơ sở pháp lý, là phƣơng tiện hữu hiệu để
những chủ thể trên thực hiện đƣợc việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
của mình. Đối với bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với tƣ cách
13
khi tham gia tố tụng là chủ thể bị động, việc đƣợc trao và bảo đảm thực thi
các quyền hợp pháp của mình là cơ sở quan trọng để tạo sự cân bằng trong
quan hệ tranh chấp dân sự với các đƣơng sự khác, cũng là cơ sở để họ đòi hỏi,
yêu cầu bảo vệ sự công bằng. Bên cạnh đó, đây cũng là cơ sở để giới hạn cho
bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về quyền hợp pháp của mình,
không thực hiện những việc không đúng theo quy định của pháp luật. Việc
ghi nhận các quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
cũng là cơ sở để các cơ quan Nhà nƣớc ý thức đƣợc trách nhiệm, nghĩa vụ của
mình trong các hoạt động của mình cũng nhƣ tôn trọng các quyền cơ bản của
đƣơng sự.
Với Nhà nƣớc, khi các quyền tố tụng dân sự của đƣơng sự nói chung
cũng nhƣ của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói riêng đƣợc
bảo đảm, thì cũng là góp phần thực hiện thắng lợi chủ trƣơng của Đảng và
Nhà nƣớc về chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân. Vì vậy, ngoài ý
nghĩa thực hiện dân chủ trong tố tụng dân sự, việc ghi nhận và bảo đảm quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thể hiện quyền tự mình lựa chọn và quyết định các
hành vi tố tụng cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhóm
các quyền này bao gồm quyền đƣa ra yêu cầu tố tụng; quyền chấp nhận hoặc
bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung,
rút yêu cầu tố tụng; quyền tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và
tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành; quyền kháng cáo, khiếu nại; quyền đề
nghị kháng nghị.
Nhóm thứ hai là nhóm quyền liên quan đến hoạt động chứng minh. Hoạt
động thu thập, đề xuất, kiểm tra và đánh giá chứng cứ nhằm làm sáng tỏ các
tình tiết, sự kiện cụ thể để làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân
sự của Tòa án và những ngƣời tham gia tố tụng khác đƣợc gọi là hoạt động
chứng minh trong tố tụng dân sự10. Đối với bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, các quyền liên quan đến hoạt động chứng minh bao gồm quyền
cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình; quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lƣu giữ, quản lý tài liệu,
chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình; quyền đề nghị Tòa án xác
minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện
đƣợc; quyền yêu cầu đƣơng sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang
10
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=3195:luat-dansu&catid=329:c-ds-decuongbaigiang&Itemid=150 truy cập ngày 14/8/2017
15
giữ; quyền đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang lƣu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; quyền
đề nghị Tòa án triệu tập ngƣời làm chứng, trƣng cầu giám định, quyết định
việc định giá tài sản; quyền đƣợc biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ
thực hiện, ý nghĩa và phân loại đƣợc các quyền tố tụng dân sự của bị đơn,
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố tụng dân sự. Theo đó, quyền
tố tụng dân sự của bị đơn là quyền năng mà pháp luật tố tụng dân sự quy định
và bảo đảm thực hiện cho bị đơn dân sự tham gia quan hệ pháp luật tố tụng
dân sự đƣợc thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi
ích công cộng, lợi ích Nhà nƣớc; quyền tố tụng dân sự của ngƣời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là quyền năng mà pháp luật tố tụng dân sự quy định và
bảo đảm thực hiện cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia quan
hệ pháp luật tố tụng dân sự đƣợc thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nƣớc.
Trong Chƣơng này, luận văn cũng đã làm rõ những điều kiện bảo đảm
thực thi quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong tố tụng dân sự; ý nghĩa của việc ghi nhận các quyền này cũng nhƣ việc
phân loại các quyền tố tụng dƣới góc độ nghiên cứu. Quyền tố tụng của bị
đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ và bảo
đảm thực thi, có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết vụ
án dân sự của Tòa án, Viện kiểm sát, với quyền và nghĩa vụ của các đƣơng sự
khác trong quan hệ tố tụng dân sự và có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với
các đƣơng sự mà còn đối với ngƣời tiến hành tố tụng, đối với Nhà nƣớc.
Các kết quả nghiên cứu tại Chƣơng 1 sẽ là tiền đề quan trọng để đánh giá
về thực trạng pháp luật về quyền tố tụng của bị đơn, ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan và thực tiễn thực hiện những quyền này tại các Tòa án.